Bắt quả tang thằng ăn cắp… đảo của người khác đi bán!

22 Jan

Bắt quả tang thằng ăn cắp… đảo của người khác đi bán!

Dân Làm Báo – Cách đây 5 ngày trong không khí tưởng niệm Hải chiến Hoàng Sa và 74 chiến sỹ hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh bảo vệ Hoàng Sa, anh Trần Quốc Việt đã gửi đến bạn đọc thôn Danlambao bài « Hà Nội Bội Tín » được lược dịch lại từ một bài báo của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nói rằng đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã chính thức thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc (1).
Vậy thì về phía đảng và nhà nước « ta » thì sao? Có… bị oan như các đồng chí 16 vàng 4 tốt… chụp mũ không?
Về phía đảng và nhà nước ta thì « thủ phạm » nhắm mắt ký tên « công hàm bán nước » được lệnh của đầu đảng và tập đoàn Bộ-bán-nước bật đèn xanh thì sau đó tỉnh như ruồi phán với các đồng chí răng hở môi lạnh rằng thì là: « Trong cuộc chiến tranh kháng chiến chúng tôi tất nhiên phải đặt công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ lên trên tất cả mọi thứ khác. « Người ta nên hiểu như thế nào những tuyên bố của chúng tôi kể cả tuyên bố trong bức công hàm của tôi gửi Thủ tướng Chu Ân Lai? Người ta nên hiểu nó trong bối cảnh của hoàn cảnh lịch sử vào thời ấy. »
Đây là điều mà ông thủ tướng « chưa từng kỷ luật ai » (mà sau này đồng chí X cũng bắt chước) trả lời cho quan phó thủ triều đình phương Bắc Lý Tiên Niệm thời ấy. Tuyên bố này cũng được/bị truyền thông Bắc triều đăng tải kỹ lưỡng trên Beijing Review (2)
Nhưng những tuyên bố… chơi chơi bằng công hàm có chữ ký thiệt chưa đủ. Đảng ta còn… ra sức chứng minh những tuyên bố này bằng thực tiễn… bán nước.
Hôm nay, BBC đăng bài chạy tít với câu hỏi: Miền Bắc có tuyên bố Hoàng Sa của TQ? cũng đề cập đến bài báo / tài liệu của Bộ Ngoại giao Trung cộng « Chủ quyền không tranh cãi của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa ». (3)
Tài liệu của Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn kèm theo một tấm bản đồ thế giới do Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam [Dân chủ Cộng hòa] xuất bản năm 1972 trong đó ghi Tây Sa và Nam Sa theo tên Trung Quốc.
Hỏi cũng là trả lời bởi Chép Sử Việt đã kỹ lưỡng đăng lại hình bằng chứng đảng ta yêu đảng bạn muốn gì thì cho đấy:
Bằng chứng bán nước thì quá nhiều. Mỗi ngày có thêm một chút tư liệu để bồi bổ cho thành tích bán nước cho đảng ta.
Nhưng cần phải xác định một điều rõ ràng:
Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đem bán một thứ không phải là của họ. Hoàng Sa lúc bấy giờ thuộc chủ quyền của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa!!!
Cho nên mới đặt nhan đề bài viết là: Bắt quả tang thằng ăn cắp… đảo của người khác đi bán!
___________________________________________

GIẶC TÀU XUYÊN TẠC VÀ KỶ NIỆM NGÀY XÂM LƯỢC 6 TỈNH BIÊN GIỚI VIỆT NAM 17/02/1979

23 Fév

GIẶC TÀU XUYÊN TẠC VÀ KỶ NIỆM NGÀY XÂM LƯỢC 6 TỈNH BIÊN GIỚI VIỆT NAM

Bọn bành trướng Bắc Kinh xuyên tạc & kỷ niệm ngày xâm lược 6 tỉnh Biên giới của Việt Nam

Posted by basamvietnam on 22/02/2013

Đôi lời: Có lẽ đây sẽ là cái tát, câu trả lời rõ nhất, vạch mặt những kẻ vẫn tìm mọi lý lẽ rằng phải giữ hòa bình ổn định, tình « hữu hảo », « 16 chữ vàng, 4 tốt » hòng lấp liếm cho ý đồ rắp tâm bán nước, làm tay sai cho Trung Cộng qua hành động đàn áp, ngăn cấm những người yêu nước khi họ tự tổ chức Lễ tưởng niệm các liệt sĩ Việt Nam đã hy sinh trong cuộc Chiến tranh Biên giới 1979 chống quân Trung Quốc xâm lược, cả những quyết định ngấm ngầm bịt miệng, tự bịt miệng báo chí không được đưa tin, bài mỗi khi tới ngày 17-2 hàng năm.

Bài 1:
News.ifeng.com
NGÀY 17.2.1979 NỔ SÚNG MỞ MÀN CUỘC CHIẾN
PHẢN KÍCH TỰ VỆ ĐỐI VỚI VIỆT NAM
17.2.2013
Nguồn:  people.com.cn

Ngày 17.2.1979, theo lệnh của Quân ủy trung ương, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã buộc phải phát động cuộc chiến phản kích tự vệ với quân xâm lược Việt Nam ở vùng biên giới Quảng Tây, Vân Nam.

Sau khi tập đoàn Lê Duẩn lên cầm quyền, xuất phát từ dã tâm xâm lược của chủ nghĩa bá quyền, theo sự xúi giục và hỗ trợ của những kẻ khác, đã bội phản tín nghĩa, điên cuồng xua đuổi, cướp đoạt, bức hại Hoa kiều ở Việt Nam và người Việt Nam là người Hoa, liên tục tiến hành các hành động xâm phạm và khiêu khích vũ trang, đồng thời đưa quân đi xâm chiếm thủ đô Campuchia, gây nguy hại và phá hoại nghiêm trọng nền hiện đại hóa của nước ta và an ninh biên giới. Trước tình hình không thể chịu đựng thêm được nữa, chính phủ Trung Quốc quyết định tiến hành cuộc chiến đấu phản kích tự vệ, bảo vệ biên giới.
Cuộc chiến phản kích tự vệ bắt đầu từ 17.2 đến ngày 16.3 thì kết thúc, bộ đội biên phòng của ta đã khống chế được 3 tỉnh Lạng Sơn, Cao bằng, Lào Cai và 17 huyện thị, làm 4 sư đoàn và 10 trung đoàn chính quy thiệt hại nặng nề, tiêu diệt 3, 7 vạn quân Việt Nam, tịch thu rất nhiều trang bị vũ khí và vật tư tác chiến, cho kẻ xâm lược Việt Nam một bài học và sự trừng phạt nặng nề.

Ảnh :   Trong cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam, các chiến sĩ đang ký tên trên lá cờ đỏ có dán dòng chữ « Tổ quốc trong chúng ta » tự làm

—-
Bài 2:
hxcy1965.blog.163.com 

KHẮP NƠI TRONG CẢ NƯỚC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG KỶ NIỆM 34 NĂM
THẮNG LỢI CUỘC CHIẾN PHẢN KÍCH TỰ VỆ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

20.2.2013

Ngày mồng 8 tháng Giêng [âm] tức ngày 17.2.2013 lại trúng vào ngày kỷ niệm lần thứ 34 cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam, khắp nơi trong cả nước tổ chức các hoạt động kỷ niệm 34 năm thắng lợi cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam. Đại diện cựu chiến binh tham chiến tham gia vào hoạt động đã nói chuyện ôn lại lịch sử trận tác chiến với Việt Nam, tổng kết ý nghĩa của trận tác chiến với Việt Nam, lắng nghe hoài niệm của các cựu chiến binh may mắn sống sót về những chiến hữu đã hi sinh, kể lại tình cảnh chiến đấu nơi chiến trường cùng các chiến hữu anh hùng liệt sĩ, bày tỏ lòng yêu nước của các cựu chiến binh tham chiến, ca ngợi những chiến tích to lớn của các anh hùng liệt sĩ, đả thẳng vào hiện tượng xấu lãng quên các anh hùng của xã hội ngày nay, kêu gọi xã hội tăng cường giáo dục lòng yêu nước, yêu quý các anh hùng, tôn trọng các anh hùng, không quên lịch sử, luôn nhớ các anh hùng liệt sĩ!

1

Mùa xuân năm 2013, trên đường phố Tây An treo đầy những chiếc đèn lồng đủ hình đủ dạng và các bức điêu khắc chữ « Xuân » (« 春 »), tạo nên bầu không khí ngày tết nồng ấm ở nơi đế đô ngàn năm. Khi mọi người còn đang đắm chìm trong không khí mùa xuân năm con Rắn, ngày mồng 8 tháng Giêng [âm] tức ngày 17.2.2013 lại trúng vào ngày kỷ niệm lần thứ 34 cuộc chiến phản kích tự vệ đối vớiViệt Nam, cổ thành Tây An thời tiết ẩm ướt, nặng nề như tâm tình của các cựu chiến binh vậy. 10 giờ sáng, các chiến hữu từ khắp các quận của thành phố Tây An về tập kết ở xung quanh Nghĩa trang liệt sĩ Tây An để tham gia hoạt động kỷ niệm 34 năm thắng lợi cuộc chiến phản kích tự vệ của Trung Quốc đối với Việt Nam.

2

Các cựu chiến binh tham chiến tham gia vào hoạt động chụp ảnh lưu niệm

3

Ngày mồng 8 tháng Giêng [âm] tức ngày 17.2.2013, hơn 1000 quân nhân tham chiến, xuất ngũ ở thành phố Quảng Châu (bao gồm cả các khu, thành phố, huyện xung quanh Châu Tam Giác) đã tổ chức hoạt động viếng liệt sĩ nhân kỷ niệm 34 năm cuộc chiến phản kích tự vệ tại Nghĩa trang liệt sĩ Quảng Châu.

4
5
6
7
8

Hiện trường hoạt động kỷ niệm 34 năm cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam của cựu chiến binh tham chiến quê ở Quý Châu

9
.

10
Chủ cửa hàng hoa Thái Yến Hỷ Khánh ở Long Châu Quảng Tây hàng năm cứ vào dịp này là cả hai vợ chồng đều dâng một bông cúc tươi trước mộ từng liệt sĩ, hoài niệm sâu sắc những liệt sĩ đã hy sinh vẻ vang trong cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam
11
Tổ quốc to lớn của chúng ta là do những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống đã dùng sinh mệnh trẻ trung của mình để tạo nên những chiến tích rạng rỡ muôn đời. Lịch sử vẻ vang quốc phú dân cường là các cực chiến binh ham chiến đã dùng bầu máu nóng sục sôi, từ chiến trường khói súng mịt mù, từ gian khổ thấm đẫm máu đào đánh đổi lấy nền hòa bình thịnh vượng ngày hôm nay của chúng ta. Tổ quốc! Ta tự hào vì người! Cựu chiến binh tham chiến, ta hãnh diện vì anh!


Bài 3:
bbs.tiexue.net

CÁC CỰU CHIẾN BINH ANH HÙNG QUÂN TRANG CHỈNH TỀ TỤ HỘI KỶ NIỆM 34 NĂM THẮNG LỢI CUỘC CHIẾN PHẢN KÍCH TỰ VỆ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

17.2.2013

2
3
4
5
6
7
8


Bài 4:

CỰU CHIẾN BINH THAM CHIẾN Ở MA LẬT PHA KỶ NIỆM 34 NĂM THẮNG LỢI

CUỘC CHIẾN PHẢN KÍCH TỰ VỆ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

19.2.2013

Ngày 17.2, là ngày kỷ niệm 34 năm nổ ra cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam, Đài phát thanh truyền hình Ma Lật Pha, trang web Cựu chiến binh Ma Lật Pha, ủy ban tổ chức một loạt các hoạt động « Ký ức tìm về Lão Sơn », nhóm QQ siêu cấp Con mắt Lão Sơn… cùng các cựu chiến binh tham chiến và nhân sĩ yêu nước từ Ông An Quý Châu, Văn Sơn và Ma Lập Pha Vân Nam đã tới Nghĩa trang liệt sĩ Ma Lật Pha dâng hoa tưởng niệm các liệt sĩ cách mạng.
1
2
3
4
5
6
7
8
Người dịch: XYZ
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2013
Nguồn: Ba Sàm.

Phục hồi Hiệp Định Paris 1973 : Hoang tưởng hay hiện thực ? 40 năm hiệp định Paris: Vinh và Nhục

5 Jan
 

40 năm hiệp định Paris: Vinh và Nhục

Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) – Bước vào tháng 1 năm 2013, Sau 40 năm ký kết HĐ/Paris (27/1/1973) – Nếu có phép lạ – Thời gian và bánh xe lịch sử quay lại tại chính thời điểm ấy (1972 – 1973).
Khi Hoàng Sa,Trường Sa còn nguyên vẹn chủ quyền do quân lực miền Nam (QLVNCH) bảo vệ chu đáo, Biển Đông dưới sự phối hợp tuần tra bao quát của hải quân Mỹ và VN, hơn 100.000 ngàn quân dân và cơ sở hạ tầng phía Bắc biên giới VN “chưa” bị quân xâm lược TQ giết hại tàn phá, cột mốc đường biên “chưa” bị TQ di dời cướp đoạt hàng ngàn km2, hơn 50.000 quân QĐNDVN “chưa” thương vong vô nghĩa ở biên giới Tây Nam và Campuchia, gần 400.000 sĩ quan, công chức tinh hoa của miền Nam “chưa” bị tù đày giết hại trong trại các trại cải tạo, hơn 1 triệu đồng bào “chưa” vượt biển trốn chạy tìm tự do (1/3 lấy biển làm mộ phần) quan trọng hơn hết là quân đội Hoa Kỳ “chưa” rút đi vẫn hiện diện tại miền Nam VN như một lực cản vững chắc trước mối đe doạ của Cộng Sản TQ xuống biển Đông và toàn vùng Đông Nam Á và CSVN vẫn “chưa” phải “lực bất tòng tâm” nan giải hạ mình như hèn mạt, bằng mặt nhưng không bằng lòng để đối phó với tham vọng bành trướng của “đồng chí bạn vàng” TQ nhắm vào lãnh thổ chủ quyền biển đảo của Việt Nam như hiện nay.
Thì liệu, một nhóm người, ít thôi, trong cái gọi là Bộ Chính Trị/đảng CSVN, trước cộng đồng thế giới văn minh nhân loại, và nhân dân mình, họ có đủ can đảm đặt bút ký lại một lần nữa vào một văn bản: “Chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” mà chính họ “lọc lừa” trong Hiệp Định Paris vào ngày 27/1/1973 – để gây ra những hậu quả bi thảm, nhản tiền to lớn (nói trên) với chính đồng bào nhân dân và tổ quốc mình ngày hôm nay!?
Khi mà tính đến hiện tại, các thành viên quốc tế can dự trong cuộc, và nhân sự 4 bên tham chiến (còn sống) cũng như gần 90 triệu người dân Việt Nam đã chứng kiến và chứng minh, tính ra được giá trị đích thực từ Hiệp Định ấy đem đến những mỉa mai, chua chát, như liệt kê nói trên, mà những người CS VN ngày nay – Không biết họ nghĩ sao? Lại gắn cho cái bảng hiệu “Hiệp Định Paris thắng lợi, thành công”??. Không biết họ có “thiểu năng về trí tuệ” trong thế giới quan??
Bằng “quang minh chính trực” chúng ta – Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, kiểm điểm xem, sau 40 năm “thắng lợi” đánh đổi bằng máu xương, nước mắt, ngu ngốc và lọc lừa ấy mang về cho Tổ Quốc Việt Nam ngày hôm nay là những gì? so với cộng đồng khu vực láng giềng và thế giới. Để CSVN gọi đó là Thắng lợi?
Nhân loại, quí nhất là sự sống,sinh mạng của con người. Trước tiên chúng ta thử kiểm điểm “sự sống” mà qua Hiệp Định ấy những người lãnh đạo CS Bắc Việt đã nâng niu hay hủy diệt nó như thế nào, với những chiến hữu, đồng chí, đồng loại anh em cùng chủng tộc của họ! Trước và sau khi Hiệp Định Paris được chính họ ký kết!.
Xuân hè 1972, để có một chút đất gọi là “lãnh thổ” dung thân, làm thanh thế cho Mặt trận giải phóng Miền Nam tại hội đàm Paris, CS Bắc Việt đã “nướng” 10.000 con em miền Bắc (tử trận) để mong đánh chiếm một phần tỉnh Quảng Trị địa đầu giới tuyến của miền Nam,VNCH, nhưng đã hoài công, đau thương nhất là nơi Cổ Thành Quảng Trị, một trung đoàn CS Bắc Việt 3000 quân ( TĐ 27 Triệu Hải) được lệnh của lãnh đạo CS Bắc Việt, cố bám Cổ Thành bằng mọi giá, trong chảo lữa Trị Thiên, cốt chỉ để phục vụ duy nhất cho chủ trương “vừa đánh vừa đàm”. Sau 81 ngày, trung đoàn 3000 quân chỉ còn lại chưa tới 10 người (Wikipedia). Đây là điển hình cho hành vi độc tài sắt máu vì “cuồng vọng” của tập đoàn lãnh đạo CSVN, phung phí máu xương của nhân dân, dân tộc một cách “khủng khiếp”.
40 năm, chúng ta – Có rầt nhiều công dân trẻ Việt Nam trưởng thành sau 1975, Nam Bắc không phân biệt chính kiến, nên xem kỷ lại phần này, để nhận diện sự tuyên truyền, dối trá phi đạo lý như một thứ bệnh “ung thư” mãn tính của CSVN mà ông Trung Tướng Trần Độ/Phó chính uỷ quân Giải Phóng /PCT/Quốc Hội/CHXHCN/VN nhận xét: “Hệ thống tuyên truyền của đảng CSVN toàn những cái lưỡi “gổ” chuyên nói lấy được, nói láo mà không biết ngượn mồm, nói láo như phường “vô học” (Hồi ký Rồng Rắn).
Như mọi người đều biết Hiệp Định Paris có tên gọi là hiệp định “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình” ở Việt Nam do 4 bên tham chiến: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa, CS Bắc Việt và Mặt trận giải phóng Miền Nam cùng thỏa thuận ký kết trước cộng đồng quốc tế tại Paris (nước Pháp). Nội dung có 9 chương,qui định:
  1. Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được công nhận bởi Hiệp Định Geneva.. 
  2. Ngừng bắn trên toàn Việt Nam sẽ bắt đầu từ 27tháng 1 năm 1973: với tất cả các đơn vị quân sự ở nguyên vị trí. Mọi tranh chấp về quyền kiểm soát lãnh thổ sẽ được giải quyết bởi uỷ ban quân sự liên hợp giữa hai lực lượng của Việt Nam Cộng hòa và Chính Phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN. Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ và đồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ ra khỏi Việt Nam Cộng hòa. Các bên không được tăng cường binh lính, nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược hoặc vật liệu chiến tranh vào Nam Việt Nam, trong trường hợp để thay thế thì phải theo nguyên tắc một-đổi-một. Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục can thiệp quân sự vào « các vấn đề nội bộ » của Nam Việt Nam.
  3. Tất cả tù binh chiến tranh của các bên sẽ được trao trả không điều kiện trong vòng 60 ngày. Các tù nhân chính trị sẽ được trả tự do sau đó theo thoả thuận chi tiết của các phía Việt Nam.
  4. Miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát. Các bên tạo điều kiện cho dân chúng sinh sống đi lại tự do giữa hai vùng. Nhân dân Nam Việt Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua « tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế » – Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị… 
  5. Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình. 
  6. Để giám sát việc thực hiện hiệp định, một ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế và phái đoàn quân sự liên hợp bốn bên (gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hoa Kỳ, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà) sẽ được thành lập.
  7. Lào và Campuchia giữ vị trí trung lập và tự chủ, không cho nước ngoài được phép giữ các căn cứ quân sự trong lãnh thổ của hai nước này.
  8. Hoa Kỳ có nghĩa vụ sẽ giúp đỡ việc tái thiết sau chiến tranh, đặc biệt là ở miền Bắc Việt Nam và trên toàn Đông Dương, để hàn gắn các thiệt hại do chiến tranh. 
  9. Tất cả các bên đồng ý thi hành hiệp định. Và hiệp định được sự bảo trợ của quốc tế thông qua việc các quốc gia ký nghị định thư quốc tế về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt nam. 
Đây! Quân bài “Bịp” bà Nguyễn thị Bình của MTGPMN/VN 
Tuy nhiên, khi căn cứ vào Hiệp Định, Mỹ rút hết quân ra khỏi miền Nam VN thì CSVN đổi cái chiêu bài “chống Đế quốc Mỹ xâm lược” thay thế bằng lời hịch ba quân của Lê Duẫn: “chúng ta vào Nam nổ súng là “đánh cho Trung Cộng và Liên Xô” và cái tên gọi hiệp định “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình” ngay tức khắt CS Bắc Việt cũng đổi thành “tăng cường tấn công chiếm lấy miền Nam” như công khai với cộng đồng quốc tế xác nhận một sự “lọc lừa” trắng trợn, trái với điều khoản thứ 4 và 5 trong Hiệp Định Paris:
Đây! Sứ giả hòa bình của CSVN – điều khoản thứ 5 HĐ Paris 
Điều khoản 4) Miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát. Các bên tạo điều kiện cho dân chúng sinh sống đi lại tự do giữa hai vùng. Nhân dân Nam Việt Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua « tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế » 
Điều khoản 5) Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình. 
Từ cái Hiệp Định Paris “bịp bợm,lọc lừa” ấy để quân Mỹ rút về nước – CP miền Nam không còn sự hổ trợ – 30/4/1975 – CS Bắc Việt bằng súng đạn của Nga Tàu chiếm được toàn Miền Nam, thực hiện ngay các chính sách độc tài tàn bạo vô đạo lý nhất trong 4000 năm sử Việt, tàn cuộc chiến, vẫn rắp tâm thù hằn ngay với chính đồng bào cùng huyết thống chủng tộc với mình.
Họ – CSVN – lạnh lùng quay mặt với chính điều khoản mà họ ngẩn mặt đặt bút ký trước cộng đồng công luận quốc tế: Điều khoản thứ 3 của HĐ Paris:
Tất cả tù binh chiến tranh của các bên sẽ được trao trả không điều kiện trong vòng 60 ngày. Các tù nhân chính trị sẽ được trả tự do sau đó theo thoả thuận chi tiết của các phía Việt Nam. 
 
Đây! điều khoản thứ 3 HĐ Paris – CSVN tuân thủ với tù binh! 
CS Bắc Việt thi hành ngay sự tàn bạo: (Hình như Các chế độ CSVN “giết người” không phải do tư thù mà đó là sách lược và thi hành có hệ thống rặp khuôn đầy bạo lực của CS quốc tế từ cái gọi là Bộ Chính Trị đảng CSVN – Một cái Bộ mà từ khi xuất hiện, bản chất của nó đã là “không dị ứng với máu người” mà “đấu tố tàn sát trong CCRĐ” (1953-1956) là điển hình)
Những người thuộc chế độ miền Nam. “Với người còn sống” – CS Bắc Việt tập trung tù đày giết hại 1/3 trong gần nữa triệu các sĩ quan công chức miền Nam (nói trên) “Với người đã chết” cho quân đội canh giữ như giam cầm (không cho thân nhân chăm sóc mộ phần) hàng chục ngàn nắm xương tàn binh sĩ miền Nam trong nghĩa trang quân đội suốt 20 năm từ 1975-1995 (Những người lính ấy chưa bao giờ đặt chân ra phía Bắc gây nợ máu xương với đồng bào mình? như CS Bắc Việt vượt tuyến vào Nam) một hành vi thù hằn hạ cấp, mất nhân cách, phi đạo lý, ngay cả với những ngôi mộ vô tri?? một hành vi “bỉ ổi” chưa bao giờ có tiền lệ của một dân tộc trọng nhân ái lễ nghĩa như VN (năm 1995 cựu CT/Nước Nguyễn Minh Triết công du Hoa Kỳ có nhắn gửi cho bà con Việt kiều: “Bây giờ nhà nước ta cho phép bà con về nước tự do săn sóc tu bổ mộ phần thân nhân”??).
Để “thủ tiêu” sự thịnh vượng của xã hội miền Nam cho bớt tương phản với nghèo nàn lạc hậu của XHCN miền Bắc. Nhà nước và đảng CS Bắc Việt mở chiến dịch gọi là “Cải tạo Công Thương Nghiệp” tiêu huỷ một nền sản xuất công nghiệp tư bản dân tộc non trẻ đang phát triển năng động của miền Nam, tịch thu, trưng thu, máy móc tư liệu SX “giam” vào kho, thực hiện 2 lần “đổi tiền” như cướp bóc, vét hết tài sản từ nhân dân, xã hội, miền Nam – Nông nghiệp lúa gạo đồng bằng miền Nam bị bóp nghẹt vào tập thể hoá, toàn dân bên bờ vực “đói khát” (1976-1978) hàng triệu đồng bào kinh hoàng vượt biển trốn đi (nói trên).
Di luỵ của HĐ Paris 1973 – Đồng bào miền Nam vượt biển tìm tự do 
Tóm lại – 40 năm, sau cái Hiệp Định “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình” mà các chóp bu CS Bắc Việt và MTGP/MN “bịp bợm-lừa lọc” tại Paris ngoài những di lụy thiệt hại nặng nề cho tổ quốc dân tộc đang phải gánh chịu nói trên mà đôi khi dân tộc chúng ta lại phải tiếp tục tốn hao xương máu nhưng cũng không thể một sớm một chiều khắc phục hậu quả được với kẻ thù truyền kiếp Tàu Cộng phương Bắc mà CSVN như là kẻ tiếp tay bỏ ra xương máu đẩy quân Mỹ đi tạo điều kiện cho Trung Quốc rảnh tay, ngược lại đè nặng áp lực lên chính CSVN hôm nay vì quyền lợi quốc gia, thì hiện tại một quốc gia CHXHCN/VN gần 90 triệu người được lãnh đạo bởi một nhóm người Cộng Sản, ít thôi, độc tài toàn trị lại tiếp tục “Bịp Bợm” với nhân dân đồng bào “Nhắm mắt ăn mày dĩ vãng” HĐ Paris 1973 “thắng lợi”?.
Liệu họ,CSVN, có còn Liêm Sĩ để biết xấu hổ với thực tế này: Nhờ thắng lợi của Hiệp Định Paris từ 40 năm trước mà quốc gia CS/XHCN/VN hiện nay đạt được vị trí “hân hạnh” như thế này: (năm 2011)
CH/XHCN Việt Nam có tỷ lệ người dân nghèo cao gần đứng nhất khu vực Asean chỉ sau Campuchia.
Biểu đồ tỷ lệ người thu nhập thấp (dưới 2 đôla/ngày) trong dân số khu vực Châu Á. Nguồn: Brookings 
Nghiên cứu mới của Brookings, tổ chức nghiên cứu có uy tín của Mỹ, cho thấy tỷ lệ người nghèo tại Việt Nam cao gần đứng nhất khu vực.
Thống kê của viện nghiên cứu trụ sở chính tại Washington DC cho thấy tỷ lệ người lao động thu nhập thấp (dưới 2 đôla/ngày) tại Việt Nam chiếm 18,2% dân số (16,1 triệu người) trong năm 2011.
Con số này được Brookings dự đoán sẽ giảm dần xuống 15,9% cho đến cuối năm 2012 và Việt Nam sẽ phải đợi đến năm 2020 mới không còn người thu nhập dưới 2 đôla/ngày.
Tuy nhiên tỷ lệ người lao động thu nhập 5 đôla/ngày trong năm 2011 chiếm đến 70,4% dân số Việt Nam (63,1 triệu người) và chỉ số này được dự đoán sẽ giảm dần xuống 67,1% đến hết năm 2012.
Brookings dự đoán cho đến hết năm 2030, Việt Nam mới có hy vọng hết người thu nhập thấp với mức 5 đôla/ngày. 
Đây là sự chênh lệch khá xa với các nước khác trong khu vực như Malaysia, Thái Lan, với chỉ số người lao động thu nhập thấp ở mức 2 đôla/ngày chiếm dưới 1% dân số. Hiện tại, mức lương cơ bản tại Thái Lan là gần 9,75 đôla/ngày. 
Theo sát Việt Nam là Trung Quốc dù thặng dư ngoại hối nhưng với dân số đông còn nghèo, tổng số người lao động thu nhập thấp ở mức 2 đôla/ngày chiếm 17% dân số.
40 năm – Hể hả, với ván bài “Lừa Bịp” quốc tế qua Hiệp Định Paris, những người lãnh đạo CSVN mỗi khi cần “Bịp Bợm” với nhân dân đồng bào mình hay tự hào dõm, vẫn cứ “nhắm mắt ăn mày dĩ vãng” lôi những lừa lọc, tráo trở và đạn bom ra khoe mẻ, mà không mở to con mắt ra để nhìn tăng trưởng kinh tế quốc dân quanh khu vực sau 40 năm: Thu nhập bình quân đầu người của CHXHCN/Việt Nam (Trên dưới 1200/năm) tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore. (www.nld.com.vn) – Khiêm tốn như Thái Lan thu nhập bình quân đầu người năm 2010 ở mức 9.232USD xét theo ngang giá sức mua, hơn VN nhiều lần (cafef.vn) – Đài Loan Thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 1972 là 522 USD năm 1989, đạt 7.512 USD. Năm 2010 GDP bình quân đầu người hơn 20.000 USD – Còn Singapore. Theo tờ Wall Street Journal, báo cáo từ Knight Frank và Citi Private Wealth ước tính, GDP bình quân đầu người của Singapore, ở mức 56.532 USD vào năm 2010 (VnEconomy) một con số thu nhập mà các chóp bu CSVN có chết đi, đầu thai sống lại vài lần cũng không thể thấy được tại CS/XHCN/VN.
Hàn Quốc Cuối thế kỷ 20, còn là quốc gia nghèo, nhưng trong 40 năm họ vương lên thành những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại.GDP bình quân đầu người của đất nước đã nhẩy vọt từ 100 USD vào năm 1963- 2500 Vào năm 1973 (Năm CSVN ký HĐ Paris) – lên mức kỉ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007. (Wikipedia) một con số thu nhập mà CHXHCN/VN không thể mơ thấy trong vòng 2 thế kỷ!?.
Hàn Quốc không khác Việt Nam là mấy, một quốc gia có định mệnh chia đôi cùng thời với Việt Nam – Nhưng họ không “Ngu xuẩn” cần Hiệp Định hay Thống Nhất bằng máu xương bom đạn với bất cứ giá nào như Cộng Sản Bắc Việt. Họ lấy thịnh vượng cho dân tộc quốc gia là ưu tiên hàng đầu – Thống nhất đất nước là cần nhưng vào một thời điểm thích hợp ở tương lai trong hòa bình! Vì vậy dự trử ngoại tệ cho nền kinh tế Hàn Quốc 410 tỷ USD – Việt Nam 20 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người: Hàn 25.000 USD – Việt Nam 1.200 USD.
Ngày nay, năm 2013 – Sau 40 năm nhờ “Thắng Lợi” của Hiệp Định Paris 1973 “giải phóng” miền Nam, mà giai cấp công nhân “CHXHCN/đảng ta” được được vinh hạnh chen nhau học tiếng Hàn và xếp hàng van vái lạy trời may mắn được sang Hàn Quốc, nữ thì làm: “Osin Vợ hờ cho trăm họ xứ Kim Chi”, Nam thì làm công việc “nặng nhọc nguy hiểm” ngoài trời mà dân bản xứ Hàn Quốc chê, một quốc gia như Việt Nam, chia đôi, nhưng không hao tốn thời gian, máu xương vì chưa cần tới sự “Thống Nhất” bằng mọi giá!??. Lãnh đạo quốc gia, nước nào cũng giống nhau – Khác chăng là tri thức cá nhân – “Khôn nhà và dại chợ” đó là cái dại của ông HCM và đảng CSVN, nỗi bất hạnh của dân tộc Việt Nam chúng ta hôm nay.
Đã vậy. Hướng tới kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris (27/01/1973 – 27/01/2013), ngày 27/12, Trung tâm Lưu trữ quốc gia 3 đã khai mạc triển lãm “Hội nghị Paris – Tài liệu lưu trữ nhìn từ hai phía” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Và tổ chức rùm beng nhiều nơi khác sắp tới đây như khoa trương một sự thành công thắng lợi của “Bịp Bợm” (Tạp chí Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch)
Khi mà từ nguyên nhân sâu sa của “Hiệp Định Paris” nó dẫn đến xung đột để đất trời biển đảo cương thổ của tiền nhân hao hụt, hàng trăm ngàn, máu xương quân dân Biên giới Bắc và Tây Nam hao tốn oan uổng, di luỵ tai hại to lớn mang đến thách thức cho dân tộc bởi một tay “đồng chí bạn vàng TQ” của “đảng ta” (như nói ở phần trên) thì không phải một mà có mười cuộc triển lãm cũng chỉ tăng lên “Nỗi Nhục” gấp thêm 10 lần với cộng đồng nhân loại và công luận quốc tế am hiểu quá khứ so với hoàn cảnh mỉa mai hiện tại vì cuồng tín “ngu ngốc” của CSVN hiện nay mà thôi,
Bởi vì CSVN như con buôn “bất chính” trước mặt chợ đời “Hiệp Định Paris 1973” toan tính lọc lừa thiên hạ và ngay cả với miền Nam VN anh em ruột thịt trong nhà – Nhưng sau lưng lại bị kẻ cắp Trung Quốc “móc túi” cướp đoạt (đất trời biên giới, Biển đảo quê nhà) – Đi buôn không lãi còn “thâm vốn” đất đai cương thổ của cha ông, lại reo vui vỗ tay Triển Lãm ăn mừng. Đi cùng trời cuối đất chắc không thấy cái “đảng” hay “nhà nước” nào ngược đời “lấy cái Nhục làm cái Vinh” xấu hổ như vậy bao giờ. Việt Nam 4000 năm văn hiến, duy nhất chắc chỉ có một – CSVN!?.
Hoàng Thanh Trúc
© Nguyễn Quốc Khải
Hội nghị Paris, 23/1/1973. Ảnh Bettmann/CORBIS

Hội nghị Paris, 23/1/1973. Ảnh Bettmann/CORBIS
Cách đây hai tuần, tôi có viết bài “Khoảng Cách Chạy Tội: Sự Thực Phũ Phàng Về Hiệp Định Paris 1973.” Bài này có một tiểu mục về chủ trương phục hồi Hiệp Định Paris của Ông Nguyễn Ngọc Bích, Chủ Tịch của Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH, một hình thức chính phủ lưu vong. Tôi đã kết luận rằng đây là một ý kiến hoang tưởng.Nhiều độc giả đặc biệt chú ý tới một tiểu mục này và đóng góp khá nhiều ý kiến.Riêng Ông Nguyễn Ngọc Bích vẫn nghiêm chỉnh cho rằng ý kiến phục hồi Hiệp Định Paris là một việc khả thi.Theo ông, sau khi lấy lại miền Nam Việt Nam, ông sẽ tổ chức tổng tuyển cử và những người di cư từ miền Bắc vào Nam sau 30-4-1975 được phép ở lại miền Nam, nhưng họ không có quyền đi bầu. Phần đông ai cũng thấy đây là một chuyện hoang tưởng.Tuy nhiên, theo lời yêu cầu của một số độc giả,kể cảÔng Nguyễn Ngọc Bích, tôi xin giải thích rõ hơn vì sao phục hồi Hiệp Định Paris không thể là một hiện thực.

Sáng kiến phục hồi Hiệp Định Paris 1973
Sáng kiến phục hồi Hiệp Định Paris 1973 đã có từ cuối thập niên 1970. Sau khi GS Vũ Quốc Thúc được chính phủ Pháp can thiệp cho di cư sang Pháp vào 1978, ông đã nhận thấy những nhân vật chủ chốt cũ của VNCH cần thành lập một chính phủ lưu vong để phục hồi Hiệp Định Paris và tiếp tục tranh đấu chống Cộng Sản. Nhưng mãi đến cuối 1986, ý kiến này mới được thảo luận nghiêm chỉnh trong một cuộc hội thảo tại Paris để bàn về vấn đề thuyền nhân. LS Vương Văn Bắc, cựu bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, nhận định rằng Hiệp Định Paris vẫn còn có giá trị và có những điều khoản giúp thiết lập hòa bình ở Việt Nam và như vậy sẽ chấm dứt được thảm cảnh vượt biển và quốc tế sẽ không nhìn những thuyền nhân như những người tị nạn kinh tế.
Các tham dự viên của cuộc hội thảo đã quyết định thành lập Ủy Ban Luật Gia Việt NamVận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 (Comité de Juristes Vietnamiens pour la Remise en Vigueur des Accords de Paris de 1973) do GS Vũ Quốc Thúc làm chủ tịch.Ủy Ban Luật Gia Việt Nam(Ủy Ban Luật Gia Việt NamVận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 viết tắt) soạn thảo bạch thư “Chiến Tranh và Hòa Bình ở Đông Dương” (Guèrre et Paix en Indochine) và chính thức kêu gọi Chánh Phủ Pháp đứng ra hòa giải vì Pháp đã tổ chức cuộc hòa đàm đưa đến Hiệp Định Paris 1973.
Tiếp theo sáng kiến của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973, một vài nhân vật và một số tổ chức khác đã theo đuổi việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973.
Trước và sau khi của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 được thành lập, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã tiếp xúc với tổ chức này thường xuyên, vì ông ủng hộ việc vãn hồi Hiệp Định Paris. Chính cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã gửi thư lên Liên Hiệp Quốc về vấn đề này vào năm 1993.
Đến năm 2008, Ông Nguyễn Bá Cẩn, cựu chủ tích Hạ Viện và cựu thủ tướng VNCH, thành lập Chánh Phủ VNCH lưu vong tại Hoa Kỳ. Ông Cẩn cũng chủ trương phục hồi Hiệp Định Paris 1973. Sau khi ông đột ngột từ trần vào năm 2009, hai Ông nguyễn Văn Chức và Lý Tòng Bá của Chính Phủ VNCH lưu vong tiếp tục công việc vận động này. Người ta không rõchính phủ lưu vong này đã đạt những kết quả cụ thể nào.
Hình (VNCH Foundation): Phái đoàn chính phủ lưu vong VNCH vận động Quốc Hội Hoa Kỳ để phục hồi Hiệp Định Paris 1973 gồm các ông (hàng đầu từ trái): Hồ Văn Sinh, Lâm Chấn Thọ,  Nguyễn Ngọc Bích, một phụ tá của DB Ed Royce, Lý Tòng Bá, không rõ tên, và Nguyễn Văn Chức.

Hình (VNCH Foundation): Phái đoàn chính phủ lưu vong VNCH vận động Quốc Hội Hoa Kỳ để phục hồi Hiệp Định Paris 1973 gồm các ông (hàng đầu từ trái): Hồ Văn Sinh, Lâm Chấn Thọ, Nguyễn Ngọc Bích, một phụ tá của DB Ed Royce, Lý Tòng Bá, không rõ tên, và Nguyễn Văn Chức.
Gần đây nhất, Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH (UBLĐLTVNCH) của Ông Nguyễn Ngọc Bích mới thành lập vào tháng 10, 2012 cũng gửi thỉnh nguyện thư gồm trên 30.000 chữ ký, kêu gọi Liên Hiệp Quốc tái nhóm một Hội Nghị Quốc Tế khẩn cấp về Việt Nam để “phục hồi Hiệp Định Paris 1973 nhắm trả lại danh dự và công bằng cho 40 triệu quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa”.
Thỉnh nguyện thư này gián tiếp xác nhận UBLĐLTVNCH là một chánh phủ lưu vong và có một “quốc gia Việt Nam Cộng Hòa ngoài lãnh thổ”. Việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973 và thành lập chính phủ lưu vong VNCH chỉ là phương tiện.Mục tiêu của UBLĐLTVNCH là phục hoạt chế độ Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết những nhân vật chính của VNCH từ ngày ra nước ngoài sống ẩn dật hoặc ngày nay đã quá lớn tuổi hoặc đã qua đời.
LS Lâm Chấn Thọ, một người chủ trương trở lại Hiệp Định Paris 1973, phân tách rằng “Vì không có một tổ chức nào ở hải ngoại hoặc quốc nội có đủ tầm vóc để được các thành phần không cộng sản tín nhiệm, chính phủ lưu vong là chất keo kết nạp tất cả các tổ chức không cộng sản lại.” Người ta muốn biết tất cả bốn chính phủ Việt Nam lưu vong ở Hoa Kỳ có được người Việt trong và ngoài nước ủng hộ hay không, cho đến nay đã kết nạp được bao nhiêu đoàn thể, có bao nhiêu thành viên, thành lập được bao nhiêu cơ sở.
Trở ngại chính cho việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973
Việc làm của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 được một phần chính giới Pháp ủng hộ. Tuy nhiên, quan điểm chính thức của Pháp đã được DB Georges Mesmin trình bầy tại cuộc hội thảo 1986 tại Paris rằng:
“Khi chính phủ Pháp chính thức yểm trợ Việt Nam (Cộng Sản) gia nhập Liên Hiệp Quốc [1977], thì mặc nhiên Pháp đã xí xóa việc Hà Nội vi phạm Hiệp định Paris 1973.”

Ủy Ban Luật Gia Việt Nam cũng không nhận được sự tiếp tay của Hoa Kỳ. Trước cuộc hội thảo một ngày, Ông David Steinman, một luật sư Hoa Kỳ và cộng sự viên của TNS Daniel Moynihan, đến gặp GS Vũ Quốc Thúc và cho biết rằng Hoa Kỳ không muốn cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu công khai tham gia hội thảo mà nên đứng sau hội trường. Ông Steinman cũng khuyến cáo rằng:
“Sớm muộn gì quý vị cũng phải dùng biện pháp bất tuân dân sự (civil disobedience).Phải có phong trào bất tuân dân sự trên toàn quốc mới hy vọng thay đổi được chế độ cộng sản độc tài.”
Hình (NQK): LS Nguyễn Hữu Thống, chủ tịch Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền, cựu dân biểu Quốc Hội VNCH.

Hình (NQK): LS Nguyễn Hữu Thống, chủ tịch Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền, cựu dân biểu Quốc Hội VNCH.
Vào năm 1989, cựu TNS Phạm Nam Sách và cựu DB Nguyễn Hữu Thống gửi đơn lên Tòa Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice) tại The Hague, Hòa Lan để kiện CSVN vi phạm Hiệp Định Paris 1973. Tòa Án Công Lý Quốc Tế không thụ lý được trường hợp này vì cơ quan này chỉ sử tranh chấp giữa các quốc gia hội viên thuộc Liên Hiệp Quốc mà thôi.
Hoa Kỳ không đưa ra một quan điểm chính thức nào về việc vãn hồi Hiệp Định Paris 1973 cho đến năm 1990. Sau khi cuộc vận động tại Tòa Án Công Lý Quốc Tế không thành công, Luật sư Nguyễn Hữu Thống nhân danh Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền (UBLGBVDQ) vận động thẳng với chánh phủ Hoa Kỳ và được Tổng Thống George H. W. Bush phúc đáp rằng Hoa Kỳ không trở lại Hiệp Định Paris 1973 nữa.
UBLGBVDQ được thành lập vào 1990 gồm có LS Nguyễn Hữu Thống, LS Nguyễn Văn Chức, GS Vũ Quốc Thúc, LS Phạm Nam Sách, LS Nghiêm Xuân Hồng,và GS Nguyễn Cao Hách.
Không có quốc tế yểm trợ, kế hoạch vận động vãn hồi Hiệp Định Paris 1973 do Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 chủ xướng từ năm 1986 đã thất bại. GS Vũ Quốc Thúc chia sẻ cảm nghĩ của ông về sự kiện này như sau:
“Dù biết trước những sự khó khăn này, ngay từ năm 1986, chúng tôi đã tìm cách nêu vấn đề trở lại Hiệp định Paris. Mục đích của chúng tôi, lúc bấy giờ, là kích thích tinh thần đấu tranh của Cộng đồng Việt Nam tại Pháp, phần nào đã suy giảm sau khi thấy CSVN rầm rộ ăn mừng “mười năm tái thống nhất đất nước … Tóm lại, vấn đề trở lại Hiệp định Paris, coi như đã bị các đồng minh cũ của Việt Nam Cộng Hoà gạt bỏ hẳn.”
Sau khi công cuộc phục hồi Hiệp Định Paris bất thành và Hoa Kỳ bình thường hóa ngoại giao với Hà Nội, GS Vũ Quốc Thúc đã hợp tác TS Nguyễn Bá Long, rút kinh nghiệm của những cuộc cách mạng lật đổ chế độ Cộng Sản ở Đông Âu, thiết lập Phong Trào Hiến Chương 2000 để đấu tranh với CSVN và vận động cho một thể chế tự do dân chủ tại Việt Nam. Bản Hiến Chương 2000 được công bố vào ngày 25-11-2000 tại Paris.
Kể từ năm 1977, khi Việt Nam được gia nhập Liên Hiệp Quốc, tức là đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận, ngày càng có thêm trở ngại cho việc vãn hồi Hiệp Định Paris 1973 và đến nay có thể nói không còn một hi vọng nào cả.Đối với quốc gia công nhận và quốc gia được công nhận, Hiệp Định Paris không còn giá trị nữa.
Hoa Kỳ chính thức công nhận Việt Nam khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận với Việt Nam vào năm 1994 và tái lập bang giao với Việt Nam vào năm 1995. Kể từ thời điểm này Hoa Kỳ chính thức không còn tôn trọng Hiệp Định Paris 1973.
Ngay từ đầu Hiệp Định Paris 1973 cũng chỉ là một thỏa hiệp tạm bợ để Hoa Kỳ hi vọng có thêm thời gian tháo chạy ra khỏi Việt Nam mà không bị mất mặt. Do đó, không có một động cơ nào để Hoa Kỳ phục hồi hiệp định này.Trái lại, chính sách của Hoa Kỳ hiện nay là liên kết với chính quyền Hà Nội để ngăn chặn lại sự bành trướng của Trung Quốc.
Tại buổi hội thảo về chính sách ngoại giao vào giữa tháng 12 vừa qua tại Hà Nội, Đại Tá CSVN Trần Đăng Thanh, giảng viên thuộc Học Viện Chính Trị, Bộ Quốc Phòng, nói rằng Hoa Kỳ “đang dùng Việt Nam như một lực lượng tiên phong để chặn Trung Quốc.”
Trong một buổi hội thảo vào cuối năm 1987 cũng tại Paris do do Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 tổ chức, ông Henri Kissinger, cựu Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của cựu Tổng Thống Richard Nixon, giải thích rằng:
“Hoa Kỳ không phản ứng khi Hà Nội vi phạm hiệp định vì Hoa Kỳ đang bị lúng túng với vụ Watergate. Dư luận Hoa Kỳ cho rằng Hoa Kỳ đã rút hết quân rồi, việc Bắc Việt vi phạm Hiệp Định Paris xâm chiếm miền Nam là việc nội bộ của Việt Nam, Hoa Kỳ không thể nào nhân cơ hội này trở lại Việt Nam để bị lôi cuốn một lần nữa vào ‘vũng bùn chiến tranh’ và Quốc hội Mỹ cũng không chấp nhận.”
Trở ngại chính cho việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973 là thiếu hỗ trợ quốc tế.Phục hồi nó không dễ dàng và không đem lại quyền lợi thực tiễn nào cho các nước tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam.Từ lâu hiệp định này đã là một sự kiện quá khứ.
Trong 40 năm vừa qua, theo thiển ý của tôi, mặc dù có những cá nhân xuất sắc nhưng ở hải ngoại chưa thấy xuất hiện một tổ chức nào lớn mạnh, có uy tín và hậu thuẫn của người Việt để có thể đảm đương những việc làm có tầm vóc quốc tế như việc vận động phục hồi Hiệp Định Paris, giả sử nếu đó là một việc hợp lý đáng làm. Chúng ta không có thực lực.Đó là trở ngại không kém quan trọng.Và nếu không có thực lực, không một định chế quốc tế nào ủng hộ chúng ta cả.
Hiệp Định Paris 1973 chỉ còn giá trị lịch sử
Hiệp Định Paris 1973 đã chết ngắc ngoải vào đầu năm 1974, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố Hiệp Định Paris 1973 vô giá trị vì CSVN lợi dụng thời gian ngưng bắn để lấn chiếm những vùng hẻo lãnh. Những vi phạm này được xác nhận trong thông cáo báo chí của Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ ngày 10-4-1973 và công hàm của Hoa Kỳ gửi 11 nước yểm trợ Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam.
Khi CSBV xua quân vượt qua sông Bến Hải để tiến chiếm Việt Nam vào 8-1-1975, Hiệp Định Paris đã bị khai tử từ ngày đó.Cả thế giới làm ngơ trước sư vi phạm trắng trợn này. Hoa Kỳ cũng không có một phản ứng nào mặc dù Điều 7 (b) của Đạo Luật về Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam (Act of The International Conference of Vietnam) ký ngày 2-3-1973 bởi 12 nước bảo đảm Hiệp Định Paris 1973 qui định rằng trong trường hợp có sự vi phạm Hiệp Định Paris 1973, Hoa Kỳ và nước Dân Chủ Cộng Hòa Việt Nam có thể triệu tập hội nghị quốc tế thay mặt những nước đã ký kết hoặc trong trường hợp có it nhất sáu nước đồng ý.
Hiệp định Paris 1973 đã chết thì không thể làm sống lại được vì những điều khoản trong hiệp định này. Thật vậy, Hiệp Định Paris 1973 công nhận Việt Nam có hai miền Bắc và Nam. Riêng miền Nam Việt Nam có hai chánh phủ: (1) Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa và (2) Chánh Phủ Cách Mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam.
Điều 9 (b) của Chương IV qui định rằng:
Nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế.”
Sau ngày 30-4-1975, chánh phủ VNCH không còn và sau ngày 2-7-1976 Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam cũng bị sát nhập vào Chánh Phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Việt Nam không có hai miền Nam Bắc riêng biệt nữa.Sau 30-4-1975 cả triệu người Bắc di cư vào Nam lập nghiệp, không kể 150,000 quân CSBV được hai Ông Chu Ân Lai và Kissinger cho phép chính thức ở lại miền Nam Việt Nam kể từ ngày Hiệp Định Paris được ký kết vào ngày 27-1-1973. Miền Nam hiện nay không còn là miền Nam trước 30-4-1975 nữa.Phục hồi Hiệp Định Paris 1973 để đòi Chánh Phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trả lại phần đất phía nam vĩ tuyến 17, để miền Nam tổ chức tổng tuyển cử là một chuyện hoàn toàn thiếu thực tế. Ngoài ra, không ai muốn Việt Nam lại bị chia cắt ra làm hai phần một lần nữa.
Kết luận
Sau 40 năm, tình hình thế giới đã thay đổi.Biển Đông nổi sóng vì tham vọng bành trướng củaTrung Quốc.Bàn cờ Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn.Không nên và cũng không thể nào lập lại bàn cờ cũ được.Cách đây một phần tư thế kỷ, những cố gắng của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 và Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền chứng tỏđã quá trễ rồi. Rút kinh nghiệm của những người đi trước, ngày nay ý tưởng phục hồi một hiệp định đã trở thành vô giá trị, với toan tính dựa dẫm nặng nề một lần nữa vào thế lực ngoại quốc, là một hoang tưởng và một dại dột.
Ông Lê Quế Lâm, một độc giả, sau khi đọc bản thảo của bài viết này đã tóm tắt suy nghĩ của ông như sau:
“Hiệp Định Paris 1973 ra đời đến nay vừa tròn 40 năm, đất nước đã thay đổi quá nhiều, làm sao có thể tái tạo bối cảnh cũ để trình diễn. Chỉ còn cách đóng tuồng để hoài vọng quá khứ.”
Theo thiển ý của tôi, về mặt quốc tế, lội ngược dòng là chết. Tương kế tựu kế là sách lược khôn ngoan cho một quốc gia nhỏ bé và chậm tiến như Việt Nam trong tình trạng hiện nay. Về mặt quốc nội, yểm trợ những nhà dân chủ kiên cường ở trong nước là quốc sách.
Cách đây vài năm, tôi được dịp tham gia một cuộc hội thảo quốc tế về Việt Nam tại Hòa Lan. Trong dịp này tôi được hân hạnh gặp một thuyết trình viên là Bà J. W. E Spies, lúc đó Bà là Chủ Tịch Đảng Christian Democratic Appeal và dân biểu Quốc Hội Hòa Lan, và hiện nay Bà là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ. Khi được hỏi về vấn đề vận động quốc tế cho tự do dân chủ ở Việt Nam, Bà nói rằng người Việt Nam trước tiên phải hi sinh, phải tranh đấu cụ thể cho đất nước của chính mình trước khi mong đợi người ngoài giúp đỡ. Tôi nghĩ rằng lời khuyến cáo của Bà Spies thật rấtthực tiễn và chí lý đáng cho chúng ta suy ngẫm.
© Nguyễn Quốc Khải
—————————————
Tài liệu tham khảo:
1. Lam Chan Tho, “Est-il Une Solution Pour Le Vietnam?” 2-10-2012.
2. Lê Quế Lâm, “Những Đóng Góp Cho Đất Nước Sau 1975 Của Một Chứng Nhân Lịch Sử: GS Vũ Quốc Thúc,” Thụ Nhân Âu Châu, 16-7-2011.
3. Lê Quế Lâm, “Đọc Hồi Ký của GS Vũ Quốc Thúc,” Việt Thức, 28-12-2010.
4. Nguyễn Hữu Thống, “Hiệp Định Hòa Bình Paris Dẫn Đến Hòa Bình của Những Nấm Mồ,” Việt Vùng Vịnh, 2-6-2010.
5. Nguyễn Quốc Khải, “Sự Thật Phũ Phàng Về Hiệp Định Paris 1973,” RFA, 17-12-2012.
6. Nguyễn Quốc Khải, “Mạn Đàm về Chính Phủ Lưu Vong,” Đàn Chim Việt, 05-12-2012.
7. Nguyễn Thiếu Nhẫn, “Sự Vong Thân Của Một Vị Tôn Sư,” Tin Paris, 2-10-2011.
8. Paris Peace Accords, “Act of The International Conference of Vietnam”, March 2, 1973.
9. Trần Đăng Thanh, “Đại tá Trần Đăng Thanh giảng về Biển Đông cho lãnh đạo các trường Đại học,” Ba Sàm. 19-12-2012.
10. Trần Thị Diệu Tâm, “Buổi Giới Thiệu Sách của GS Vũ Quốc Thúc tại Paris,” 12-11-2010.
11. Trần Thị Diệu Tâm, “Tang Lễ của LS Vương Văn Bắc,” 28-12-2011.
12. U.S. Department of State, “Complaints of Violations of the Cease-fire: United States Note Verbale transmitted April 10, 1973 for delivery to prticipants in the International Conference in Vietnam,” April 10, 1973.
13. Vũ Quốc Thúc, “Thời Đại của Tôi,” nhà xuất bản Người Việt, 2010.
14. Đào Nương, “Chỉ Một Ngày Là Lập Xong Chính Phủ,” Saigon Nhỏ số 1019, 9-11-2012.

Bài diễn văn của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 24 tháng 10 năm 1972 (phần 1)

Trần Quốc Việt (Danlambao) Lời mở đầu cho chuyên đề về Hiệp định Hòa bình Paris
Lịch sử là lớp sương mù khi diễn ra và là bi kịch khi nhìn lại. Càng bi kịch hơn khi ta nhận ra lịch sử là khởi đầu cho tấn bi kịch mà hồi kết vẫn chưa chấm dứt trong tương lai gần.
Đấy là ý nghĩ riêng của tôi sau khi đọc nhiều tài liệu, đa phần từ sách báo Mỹ, về Hiệp định Hòa bình Paris. Số phận của một quốc gia và số phận của hàng chục triệu người dân không ngờ lại bị chi phối nặng nề bởi một hiệp định mà đã bị vi phạm ngay từ ngày đầu.
Là người hậu sinh, hôm nay tôi tìm về lịch sử để hy vọng qua đó hiểu về mình và về dân tộc mình. Bốn mươi năm trôi qua là bốn mươi năm chứa đựng biết bao nước mắt và tang thương cho Việt Nam. Đối với người cộng sản đây là chiến thắng của « nhân dân », đối với nhân dân đây là bi kịch lớn.
Lịch sử phải được nhìn qua nhiều phía, qua nhiều lăng kính. Trên tinh thần ấy, hôm nay tôi sẽ chia sẽ với các bạn những điều tôi đọc được trong thời gian dài qua.
Loạt bài về Hiệp định Paris sẽ được mở đầu bằng bài diễn văn dài của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu. Bài diễn văn này được đăng nhiều kỳ. Sau đó là các bài dịch và tổng hợp về Hiệp định Hòa Bình Paris. Mời các bạn đọc theo dõi.
*
Còn tiếp…

Bài diễn văn của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 24 tháng 10 năm 1972 (phần 2)

Trần Quốc Việt (Danlambao) – Loạt bài về Hiệp định Paris sẽ được mở đầu bằng bài diễn văn dài của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu. Bài diễn văn này được đăng 2 kỳ. Sau đó là các bài dịch và tổng hợp về Hiệp định Hòa Bình Paris. Mời các bạn thôn Danlambao đọc tiếp phần 2.

danlambaovn.blogspot.com

30 January 2013

Hai bức ảnh chụp sự kiện liên quan đến vụ tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết đại úy đặc công VC Nguyễn Văn Lém

Sáng ngày mồng Hai Tết, tức ngày 31-1-1968 (DL), Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan đang đích thân chỉ huy trận chiến khốc liệt tại khu vực Chùa Ấn Quang, Chợ Lớn, góc đường Sư Vạn Hạnh và Ngô Gia Tự thì hai nhân viên Cảnh Sát dẫn đến trình diện Tướng Loan một đặc công Cộng Sản đã giết người rất dã man trong hai ngày qua. Đó là Đại Úy Nguyễn Văn Lém, tự Bảy Lốp.
Chỉ ít phút trước đó, Bảy Lốp đã giết hại vợ, các con và thân nhân của một sĩ quan Cảnh Sát VNCH. Theo tài liệu của ông Lão Ngoan Đồng, vào lúc 4g30 sáng hôm đó, Nguyễn Văn Lém đã chỉ huy một đơn vị đặc công cùng với xe tăng của Tiểu Đoàn 2 Cơ Giới VC tấn công trại Phù Đổng của binh chủng Thiết Giáp ở Gò Vấp. Sau khi kiểm soát được trại lính, Bảy Lốp bắt giữ gia đình Trung Tá Nguyễn Tuấn và bắt Trung Tá phải chỉ dẫn cách xử dụng các xe tăng còn để lại trong trại. Trung Tá Tuấn từ chối, thế là Bảy Lốp giết chết toàn thể gia đình Trung Tá, gồm cả một bà mẹ già 80 tuổi. Chỉ có một bé trai 10 tuổi tuy bị thương nặng nhưng được cứu sống.
Nguyễn Văn Lém bị bắt gần một hố chôn tập thể 34 thường dân bị giết. Lém khai rằng y rất tự hào là tác giả hố chôn tập thể đám người này, vì đã hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó. Lúc bị bắt, Lém mặc quần xà lỏn, áo sơ mi cụt cánh, hai tay bị trói trặt về phía sau mông, nhưng trong người vẫn còn đeo khẩu súng lục.

Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã được báo cáo về những hành động giết người dã man của Nguyễn Văn Lém và chính ông đã hành quyết Nguyễn Văn Lém ngay tại phạm trường.
Hai bức ảnh chụp sự kiện liên quan đến vụ tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết đại úy đặc công VC Nguyễn Văn Lém ngay trên đường phố SG vào buổi trưa ngày 1/2/68 Tết Mậu Thân.

Tết Mậu Thân 1968 – DEATH OF A MILITARY FAMILY IN SAIGON – Press Photo – Một bức ảnh buồn, phần còn thiếu trong câu chuyện về tướng Loan

(NY16-Feb.1, 1968)–South Vietnamese soldiers stand near bodies of a South Vietnamese commander of a training camp and command center and members of his family after the camp was retaken from the Viet Cong. The commander, a colonel, was decapitated and his wife and six children were machine gunned. (AP Wirephoto via radio from Saigon)

Bức ảnh của hãng thông tấn AP gửi đi từ Sài Gòn ngày 1/2/1968, tức là mùng một Tết Mậu Thân. Có lẽ đây là bức ảnh chụp sự kiện liên quan đến vụ tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết đại úy đặc công VC Nguyễn Văn Lém ngay trên đường phố SG vào buổi trưa cùng ngày 1/2/68 Tết Mậu Thân, mà đã được ghi lại trong bức ảnh nổi tiếng của Eddie Adams, một bức ảnh theo nhiều người đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến tranh VN.

TƯỚNG NGUYỄN NGỌC LOAN TRONG BIẾN CỐ TẾT MẬU THÂN
Tiến Sĩ Trần An Bài

Nhân kỷ niệm 45 năm biến cố Tết Mậu Thân 1968, người Việt quốc gia hẳn không bao giờ quên những cảnh tượng tang thương đẫm máu do Cộng Sản Bắc Việt gây nên. Riêng ngành Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa (CSQGVNCH), có một câu chuyện thật, thật 100%. Câu chuyện ấy vang lừng khắp thế giới. Và, được kết thúc với nhiều đau thương, nghiệt ngã. Sau đó, kéo tới việc « người bạn đồng minh » Hoa kỳ bán đứng và VNCH bị bức tử; hàng triệu người Việt nam đã phải bỏ nước ra đi tỵ nạn CS tại các quốc gia Tự do trên khắp thế giới, và hàng vạn quân, cán, chính VNCH phải trải qua bao nhiêu năm tháng tù đày, tủi nhục… trong các trại giam trá hình dưới mỹ từ « trại tập trung cải tạo ».

Câu chuyện thật nêu trên về « Tướng Nguyễn Ngọc Loan Trong Biến Cố Tết Mậu Thân”. Kính mời quý độc giả cùng theo dõi.
1. Tết Mậu Thân 1968 Mịt Mù Khói Lửa
Bằng Hiệp Ước Genève năm 1954, các cường quốc trên thế giới đã chia cắt nước Việt Nam thành hai lãnh thổ với hai chế độ chính trị hoàn toàn khác nhau về ý thức hệ: Miền Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, theo khối Cộng Sản quốc tế. Miền Nam là nước Việt Nam Cộng Hòa theo khối thế giới tự do.
Tuy nhiên, ngay khi ký Hiệp Ước, miền Bắc đã có kế hoạch xâm chiếm miền Nam bằng võ lực. Họ gài cán bộ để hoạt động du kích, chôn mìn, đặt bàn chông, tấn công quân đội VNCH và tiêu hủy các làng mạc của dân chúng miền Nam. Sau đó, họ thiết lập đường mòn Hồ Chí Minh dọc biên giới Lào-Cao Miên để chuyển quân và võ khí, đạn dược từ miền Bắc vào Nam.
Cuối năm 1967, khi quân đội Hoa Kỳ đã gửi đến Nam Việt Nam khoảng 500 ngàn quân, Bắc Việt muốn chọn Khe Sanh làm địa điểm giao tranh thư hùng giống như mặt trận Điện Biên Phủ năm xưa. Đồng thời, Bắc Việt cũng muốn dùng mặt trận Khe Sanh để che giấu kế hoạch tổng công kích trên toàn lãnh thổ VNCH vào dịp Tết Mậu Thân 1968 để phô trương lực lượng.
Vì hai Đại Tướng Bắc Việt Nguyễn Chí Thanh và Võ Nguyên Giáp bất đồng quan điểm về trận chiến miền Nam, nên Đảng Cộng Sản giao cho Đại Tướng Thanh chỉ huy mặt trận miền Nam, còn Đại Tướng Giáp chỉ huy mặt trận miền Bắc.
Ngày 6-7-1967, đang khi chuẩn bị cuộc tấn công VNCH, Đại Tướng Thanh bất ngờ qua đời. Bắc Việt loan tin là ông chết vì bệnh tim ở Hà Nội, nhưng sau đó, báo chí Tây phương xác nhận Tướng Thanh chết vì trúng bom của Hoa Kỳ. Cũng có tin là ông bị thanh toán nội bộ. Sau đó, Tướng Giáp được Đảng Cộng Sản chỉ định tiếp tục lập kế hoạch tấn công lớn vào dịp Tết Mậu Thân.
Như các năm trước, vào các dịp Tết và lễ lớn, hai miền Nam Bắc đều đồng ý hưu chiến trong ít ngày. Dịp Tết Mậu Thân năm 1968, Bắc Việt đề nghị hưu chiến 7 ngày, nhưng VNCH chỉ đồng ý 3 ngày. Tin tưởng vào lệnh hưu chiến này, 50% quân nhân miền Nam được phép về gia đình ăn Tết. Chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng rời Saigon về Mỹ Tho để mừng Tết ở quê vợ. Trong khi đó, quân đội miền Bắc bất chấp lệnh hưu chiến, ngày đêm chuyển quân và vũ khí để chuẩn bị xâm lăng miền Nam.
Giữa không khí linh thiêng của ngày Tết Mậu Thân, mọi người lũ lượt đến chùa và nhà thờ để cầu nguyện bình an cho Năm Mới. Tiếng pháo và múa lân mừng Xuân của miền Nam bỗng dưng bị pha trộn bằng tiếng súng của Cộng Sản. Nhà cửa bốc cháy hòa lẫn tiếng đàn bà con nít khóc lóc thảm thương!
Bắc Việt đã tung vào trận đánh Tết Mậu Thân 80.000 lính từ miền Bắc vào, cùng với tất cả các lực lượng du kích và đặc công trong thành phần Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để tấn công 36 trong số 44 tỉnh miền Nam và 6 thị xã, cùng với 64 trong số 242 quận lỵ. Các cán binh Cộng Sản chỉ được học tập tấn công, nhưng không biết đường rút quân. Tại những cộng sự đặt súng lớn, xạ thủ bị xích chân vào bàn súng. Điều này chứng tỏ Cộng Sản quyết tâm tử chiến: thắng thì sống, thua thì chết.
Đêm 30 rạng ngày 31-1-68 DL (tức đêm mồng Một rạng mồng Hai Tết), Saigon bị tấn công tại nhiều địa điểm quan trọng, như phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH, đài phát thanh Saigon, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Dinh Độc Lập phía đường Nguyễn Du…
Thực sự, Cộng Sản đã chiếm được đài phát thanh Saigon và đài này đã bị tắt tiếng một thời gian ngắn, nhưng Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc CSQG đã phối hợp với quân đội để tái chiếm đài phát thanh và đã không hề có một bài hát hay lời tuyên truyền nào của Bắc Việt kịp phát đi từ làn sóng của đài phát thanh Saigon.
Ký giả Don North của hãng NBC có mặt tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ lúc quân đội Bắc Việt tấn công đã kể rằng: Vào lúc 2g45 sáng ngày 31-1-68, 19 đặc công Cộng Sản đeo băng đỏ trên cánh tay dùng chiếc xe hơi Peugeot và taxi chạy thẳng vào cổng tòa Đại Sứ và nổ súng. Họ đã chiếm được một căn phòng trong tòa Đại Sứ, nhưng lực lượng canh gác phản công. Phía Hoa Kỳ, có 4 quân cảnh và một lính Thủy Quân Lục Chiến tử thương. Còn tất cả 19 đặc công đều bị giết chết sau 6 giờ giao tranh.
Cộng Sản tưởng rằng khi họ về thành phố sẽ được dân chúng tiếp đón niềm nở. Nhưng thực tế, Cộng Sản tới đâu, người dân đều bỏ chạy. Hơn lúc nào hết, các CSQG đã trở thành người bạn khắng khít nhất của dân. Họ canh gác nhà thương để bảo vệ bệnh nhân. Họ giúp đỡ dân chạy loạn và họ phối hợp với các quân binh chủng chiếm lại từng nhà, từng tấc đất đã bị Cộng quân chiếm giữ. Vì số lượng dân chúng, gồm đàn bà trẻ con, bị thương tích quá đông, các bác sĩ và y tá phải tràn ra các đường phố để cứu cấp. Các thương binh Cộng Sản được đối xử rất nhân đạo. Họ được cứu chữa giống như các thương binh VNCH và dân chúng.
Cố Đô Huế bị thiệt hại nặng nhất. 12.000 quân Cộng Sản tiến chiếm Huế vào đêm Mồng Một Tết. Cầu Trường Tiền bị mìn đặc công giựt sập. Phải mất 26 ngày, quân đội VNCH, với trọng pháo yểm trợ từ chiến hạm Hoa Kỳ, mới có thể chiếm lại Huế. Nhưng buồn thảm và tang tóc phủ kín Cố Đô, với trên 7.000 thường dân và cán bộ bị chôn sống tập thể tại rất nhiều hố rải rắc khắp hang cùng ngõ hẻm.
2. Tướng Loan Nổ Súng
Đại Úy đặc công Nguyễn Văn Lém được dẫn tới trình diện Tướng Loan.
Ảnh của Eddie Adams
Đám tang gia đình Trung Tá Nguyễn Tuân với 6 chiếc quan tài
Ảnh « Vietnam, A Chronicle of the War »,Black Dog & Leventhal Publishers, Inc. 2003, pg.478
Sáng ngày mồng Hai Tết, tức ngày 31-1-1968 (DL), Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan đang đích thân chỉ huy trận chiến khốc liệt tại khu vực Chùa Ấn Quang, Chợ Lớn, góc đường Sư Vạn Hạnh và Ngô Gia Tự thì hai nhân viên Cảnh Sát dẫn đến trình diện Tướng Loan một đặc công Cộng Sản đã giết người rất dã man trong hai ngày qua. Đó là Đại Úy Nguyễn Văn Lém, tự Bảy Lốp.
Chỉ ít phút trước đó, Bảy Lốp đã giết hại vợ, các con và thân nhân của một sĩ quan Cảnh Sát VNCH. Theo tài liệu của ông Lão Ngoan Đồng, vào lúc 4g30 sáng hôm đó, Nguyễn Văn Lém đã chỉ huy một đơn vị đặc công cùng với xe tăng của Tiểu Đoàn 2 Cơ Giới VC tấn công trại Phù Đổng của binh chủng Thiết Giáp ở Gò Vấp. Sau khi kiểm soát được trại lính, Bảy Lốp bắt giữ gia đình Trung Tá Nguyễn Tuấn và bắt Trung Tá phải chỉ dẫn cách xử dụng các xe tăng còn để lại trong trại. Trung Tá Tuấn từ chối, thế là Bảy Lốp giết chết toàn thể gia đình Trung Tá, gồm cả một bà mẹ già 80 tuổi. Chỉ có một bé trai 10 tuổi tuy bị thương nặng nhưng được cứu sống.
Nguyễn Văn Lém bị bắt gần một hố chôn tập thể 34 thường dân bị giết. Lém khai rằng y rất tự hào là tác giả hố chôn tập thể đám người này, vì đã hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó. Lúc bị bắt, Lém mặc quần xà lỏn, áo sơ mi cụt cánh, hai tay bị trói trặt về phía sau mông, nhưng trong người vẫn còn đeo khẩu súng lục.
Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã được bá cáo về những hành động giết người dã man của Nguyễn Văn Lém và chính ông đã hành quyết Nguyễn Văn Lém ngay tại phạm trường.
Tướng Loan hành quyết đặc công Đại Úy Nguyễn Văn Lém
Ảnh Eddie Adams
Thế là Sáu Lèo đã loại Bẩy Lốp ra khỏi cuộc chiến đầy nước mắt của trần thế!
Nhân chứng Nguyễn Tường Toại là một thường dân lúc đó kể lại:
“Chính tôi là người đã chứng kiến tướng Loan bắn tên cộng sản ấy, tôi biết hắn đã làm những gì. Năm 1968 ở Saigon, giữa cuộc chạm súng, hắn đẩy trẻ thơ vô tội ra như là một làn sóng người, để đồng đội tẩu thoát. Trong trận đánh khốc liệt này, hắn sử dụng trẻ con làm lá chắn, để các binh sĩ phải thôi bắn… Lúc ấy mọi thứ đang hỗn loạn. Là Tư Lệnh Cảnh Sát, Tướng Loan khi nhìn xác trẻ con chết, ông hỏi: “Tại sao vậy? Chuyện gì vậy?” Đến khi biết tại sao mấy đứa bé chết, biết ai chịu trách nhiệm về hành động này, Tướng Loan đã nổ súng hạ tên thủ phạm.”
3. Cuộc chiến Việt Nam sang trang
Yếu tố bất ngờ luôn luôn được hoạch định trong bất cứ trận đánh nào. Bắc Việt mở cuộc tấn công vào dịp Tết linh thiêng của VN là một yếu tố bất ngờ, nhưng tại sao trận tấn công Tết Mậu Thân đã không diễn ra vào cùng một thời điểm trên toàn lãnh thổ VNCH? Sau này người ta mới được biết đó là do trục trặc kỹ thuật từ Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt.
Quân lệnh về ngày giờ nổ súng trên khắp lãnh thổ Miền Nam được giữ tối mật. Chỉ có cấp lãnh đạo quân sự cao cấp nhất mới nhận lệnh viết, còn các cấp dưới chỉ nhận khẩu lệnh. Lệnh đó như sau: “Đánh vào đêm 30 Tết Mậu Thân”.
Khi hoạch định cuộc tấn công Tết Mậu Thân, Bắc Việt đã cảm hứng theo cuộc Đại Phá Quân Thanh của Quang Trung Nguyễn Huệ chiếm thành Thăng Long năm 1789. Vua Quang Trung thời ấy đã cho quân sĩ ăn Tết sớm hơn 3 ngày để rồi mở trận Đống Đa – Ngọc Hồi đánh đuổi quân Thanh vào đêm 30 Tết năm Kỷ Dậu.
Cũng vậy, Bắc Việt muốn làm lịch sử theo gương Tây Sơn: “Quang Trung Nguyễn Huệ chiếm Hà Nội đuổi giặc Thanh đêm 30 Tết Kỷ Dậu thì Cộng Sản Bắc Việt chiếm Saigon đuổi Mỹ ngụy đêm 30 Tết Mậu Thân”.
Một sự kiện rất đáng chú ý khác là bỗng nhiên, ngày 8-8-1967, Hà Nội công bố sửa lại Âm lịch, áp dụng múi giờ là GMT +7, khác với múi giờ của Trung Hoa mà Việt Nam đã dùng từ ngàn năm trước là GMT +8. Hậu quả của việc này là sẽ có một số năm, ngày Mồng Một Tết Âm Lịch đi sớm hơn Tết của Trung Hoa. Tết Mậu Thân 1968 là Tết đầu tiên bị ảnh hưởng do quyết định này. Thế nhưng, trong lúc miền Bắc sửa lịch thì miền Nam vẫn tiếp tục theo lịch Trung Hoa, không chịu sửa. Thành ra, vô tình Việt Nam bỗng dưng có hai đêm 30 Tết Mậu Thân tại hai miền Nam Bắc khác nhau. Lệnh của Bắc Bộ Phủ là “Đánh vào đêm 30 Tết Mậu Thân”, nhưng quân Bắc Việt không biết khởi sự tấn công vào đêm nào. Đêm 30 Tết theo lịch Bắc Việt hay lịch Nam Việt?
Nếu đánh vào “Đêm 30 Tết Bắc Việt” thì quá sớm, vì các quân nhân VNCH chưa xuất trại đi phép nghỉ Tết. Tấn công trong lúc lực lượng VNCH còn y nguyên tức là tự sát. Còn nếu đánh vào “Đêm 30 Tết Nam Việt” thì binh lính Bắc Việt ăn Tết chưa đủ 3 ngày, không giống với Vua Quang Trung. Khi các cấp chỉ huy mặt trận khám phá ra lệnh tấn công mơ hồ thì đã quá muộn! Tướng Giáp không có cách nào gửi lệnh điều chỉnh được nữa. Do đó, mới xảy ra việc Saigon và các tỉnh miền Nam bị tấn công không cùng một thời điểm.
Quân đội thuộc Quân Khu 5 của Bắc Việt nổ súng từ Quảng Nam đến Khánh Hoà vào đêm 30 Tết của miền Nam, tức đêm 29 rạng ngày 30-1-68 Dương Lịch. Còn tại các nơi khác, Cộng quân lại ăn Tết đủ ba ngày rồi mới khởi sự tấn công vào đêm 30 rạng ngày 31-1-68 Dương Lịch, tức là đêm Mồng Một Tết.
Về phía VNCH, cho tới năm ngày trước Tết, không có dấu hiệu gì chứng tỏ tình báo miền Nam bắt được kế hoạch tấn công của Bắc Việt. Nhưng theo tài liệu riêng của Trung Tá Nguyễn Thiện, Trưởng Khối Đặc Biệt CSQG lúc bấy giờ, thì đến ngày 26 tháng Chạp, trong số các tin tức nhận được, có “nguồn tin Tây Ninh” sau khi đi họp với Trung Ương Cục miền Nam về, đã báo cáo rất chi tiết kế hoạch tổng tấn công của Việt Cộng. Chúng quyết định lợi dụng tinh thần “ngưng bắn” của Quân Dân Việt Nam Cộng Hòa để nổ súng, đặc biệt là nhắm vào Thủ Đô Saigon và các tỉnh lỵ. Tin tức này đã được chuyển cho cả 2 phía: Tổng Nha CSQG và Đại sứ Hoa Kỳ nội trong ngày 27 tháng Chạp Âm Lịch. Ngay sau đó, Tổng Nha CSQG cũng như bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH đã ra lệnh cấm trại 100%. Nhưng lệnh này đã quá trễ, vì có một số quân nhân, công chức đã được đi phép từ 5 ngày trước. Đi phép luân phiên trước, rồi sau đó trở về đơn vị thay cho một số khác đi tiếp (tức là đi phép trước và sau Tết). Điều cũng nên nói ở đây, khi có một số người đi phép như thế, thì tại các trụ sở của CSQG, từ Tổng Nha đến các Ty và Chi Cảnh sát đã bắt đầu đào giao thông hào, sắp bao cát. Đó là lệnh của Tổng Giám Đốc Nguyễn Ngọc Loan được gửi tới các đơn vị CSQG.
Khi súng bắt đầu nổ ở một số tỉnh Cao Nguyên vào đêm 30 Tết, các tỉnh khác cũng vẫn bình thản vui Xuân, coi như không có gì xảy đến cho mình. Chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn không rời Mỹ Tho để về Saigon đối phó với tình hình. Đáng lẽ ra, nếu khi thấy một số tỉnh bị tấn công thì các tỉnh khác, kể cả Saigon, đều phải ngưng ăn Tết mới phải. Lúc đó, VNCH có tới 24 tiếng đồng hồ chuẩn bị nghênh chiến và bố trí. Thiệt hại của miền Nam chắc chắn giảm đi rất nhiều.
Còn phía Hoa Kỳ, báo chí Mỹ chỉ trích cơ quan tình báo CIA đã bất lực khi không biết được tin tấn công. Nhưng các chứng nhân tại miền Nam VN đã nhìn thấy quân Bắc Việt di chuyển gần sát các căn cứ quân sự Hoa Kỳ mà không gặp trở ngại gì, cũng như các quân nhân Mỹ bị cắm trại 100% trong lúc quân đội miền Nam đi chơi đầy đường phố, người ta nghi ngờ rằng Hoa Kỳ thực sự có biết kế hoạch tấn công này. Có thể Hoa Kỳ đánh giá sai lạc tin tức tình báo, hoặc muốn giấu VNCH hoặc đã có sự thỏa thuận ngầm nào đó giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt?
Ông Charles B. MacDonald, một nhà viết sử Quân Đội Hoa Kỳ, đã đoạt nhiều bằng tưởng lục, đã tiết lộ rằng: “Mặc dầu TT. Thiệu đã không hủy các giấy nghỉ phép cho quân lính, nhưng với áp lực của Tướng Westmoreland, ông đã cam kết rằng ít nhất 50% quân số – lúc đó là khoảng 732.000 người – sẽ phải ứng trực.”
Qua tin tức này, chúng ta có thể đưa ra 2 nhận định: Thứ nhất, Hoa Kỳ biết chắc có cuộc tổng công kích. Thứ hai, TT. Thiệu đã không “nhạy cảm” trước sự cảnh giác của đồng minh Hoa Kỳ. Có thể vì lệnh của Ngũ Giác Đài, Tướng Westmoreland không được chính thức tiết lộ tin này cho VNCH, nhưng bằng một cách gián tiếp, ông đã cảnh giác tới mức “áp lực” TT. Thiệu đừng cho binh linh về phép, vậy mà ông Thiệu vẫn không hiểu được ý của Tướng Westmoreland, để rồi vẫn xả trại lính và chính ông cũng thản nhiên về quê vợ ăn Tết!
Cho dù VNCH bị tấn công hết sức bất ngờ như vậy, nhưng về phương diện quân sự, Cộng Sản đã chấp nhận thảm bại trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân. Chỉ trong vòng từ 2 đến 3 ngày, các lực lượng quân đội và Cảnh Sát miền Nam, cùng với quân lực Hoa Kỳ yểm trợ, đã dũng cảm đẩy lui bộ đội Bắc Việt ra khỏi tất cả các nơi chiếm đóng, ngoại trừ thị xã Huế phải mất gần một tháng trời.
Tổng kết thiệt hại của các bên tham chiến trong biến cố Tết Mậu Thân được ghi nhận như sau:
Phía Hoa Kỳ và Đồng Minh có 1.536 tử thương, 7.764 bị thương, 11 mất tích.
Phía VNCH, có 2.788 tử thương, 8.299 bị thương, 587 mất tích.
Phía Bắc Việt, có 45.000 tử thương, 6.991 bị bắt, còn bị thương và mất tích không rõ.
Phía dân chúng, có 14.000 tử thương, 24.000 bị thương và 630.000 người mất nhà cửa.
Tuy nhiên, phải thành thực nhận rằng Cộng Sản Bắc Việt đã thành công về mặt chính trị và xảo thuật.
Về xảo thuật, Bắc Việt đã mở cuộc tấn công này để dùng sức mạnh quân dân chính miền Nam thanh toán hết sức mạnh quân sự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (tuy chẳng có nhiều) để chuẩn bị cho ngày miền Bắc thống nhất đất nước. Điều này thực sự được chứng minh, vì ngay sau ngày 30-4-1975, các lực lượng của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị Bắc Việt cho giải giới và nhận chìm trong quên lãng, khiến cho những người trong Mặt Trận này giận tím mật tím gan mà không đủ sức tạo ra một đề kháng nào cả.
Vy Thanh, một cán bộ Cộng Sản cao cấp miền Nam đã thú nhận rằng “Miền Nam bị nhuộm đỏ” và đau xót châm biếm Trung Ương Cục (TƯC) Miền Nam:
“Ðây là đất TƯC, đọc theo từng âm của mẫu tự thành “TỨC”. TƯC là chỗ gây ra cái tức, như tức mình vì thấy quá nhiều chuyện trái tai gai mắt, tức hộc gạch vì ức lòng quá mà nói ra không được, máu trong tim muốn ộc ra, tức lộn ruột vì đang đứng gặp chuyện ngược đời thành thử đầu dộng xuống đất cẳng chổng lên trời.”
Còn về phương diện chính trị, Bắc Việt đã thành công nhờ các lực lượng phản chiến tại Hoa Kỳ nổi lên như vũ bão sau Tết Mậu Thân, khiến cho đương kim Tổng Thống Lyndon B. Johnson (Đảng Dân Chủ) không dám ra tranh cử nữa và Richard M. Nixon đã lợi dụng tình hình chính trị tại VN để thắng cử, rồi đưa Henry Kissinger vào chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao, bán đứng VNCH cho Cộng Sản.
Chính Phạm Văn Đồng đã công khai tuyên bố cuộc chiến Việt Nam đã thắng trên đường phố Hoa Thịnh Đốn.
Tóm kết, biến cố Tết Mậu Thân thực sự đã thay đổi toàn diện chiến tranh Việt Nam. Và một diễn biến lúc đầu người ta tưởng là nhỏ, nhưng lại đã góp phần rất lớn trong việc thay đổi cuộc chiến. Đó là tấm hình Tướng Loan hành quyết Bẩy Lốp trên đường phố Saigon. Tấm hình đã gây oan nghiệt cho cả cuộc đời ông và hơn thế nữa, nó đã góp phần rất lớn trong diễn biến sụp đổ của chế độ VNCH.
Vậy ai là tác giả của tấm hình đầy oan nghiệt này?
4. Nhiếp ảnh gia Eddie Adams
Eddie Adams sinh ngày 12-6-1933. Ông đã từng tham dự 13 cuộc chiến tranh, từ Việt Nam đến vịnh Ba Tư, với tư cách ký giả chụp ảnh chiến trường. Ông đã lãnh tới 500 giải thưởng.
Khi Cộng Sản Bắc Việt mở cuộc tấn công Tết Mậu Thân, nhiều ký giả chiến trường ngoại quốc được tung ra khắp miền Nam để thu hình và loan tin. Bám sát bộ chỉ huy hành quân của Tướng Loan ngày mồng Hai Tết Mậu Thân là nhiếp ảnh gia Eddie Adams của hãng AP và phóng viên quay phim người Việt Nam làm việc cho đài NBC, tên là Võ Sửu.
Tất cả các diễn biến về Tướng Sáu Lèo bắn đặc công Bẩy Lốp đã được Eddie Adams và Võ Sửu thu hết vào ống kính, không sót một chi tiết. Tướng Loan biết rõ việc này. Nếu muốn, ông có thể ra lệnh tịch thu lại hết các cuốn phim, nhưng ông đã không làm như vậy. Có thể Tướng Loan nghĩ rằng ông đã làm một điều rất đúng trong quyền hạn của ông nên không cần gì phải che giấu.. Ngay sau lúc bỏ lại khẩu súng lục vào bao, ông thản nhiên nói với Adams: “Tên Việt Cộng này đã giết nhiều người Hoa Kỳ và người của tôi.”
Tuy ông Võ Sửu của đài NBC quay được cảnh Tướng Loan bắn Bảy Lốp, nhưng cả thế giới chỉ biết đến bức hình của Eddie Adams thôi.
Adams kể lại lúc Tướng Loan bắn Nguyễn Văn Lém như sau: “Lúc đầu, tôi tưởng Lém được dẫn đến để Tướng Loan thẩm vấn. Khi ông rút súng chĩa vào Lém, tôi cũng vẫn còn tưởng là ông chỉ dọa thôi. Hoá ra, ông bắn thật.”
Còn phóng viên Võ Sửu kể lại rằng: Sau khi bắn, Tướng Loan nói với các ký giả: “Những tên này đã giết vô số dân chúng của tôi và tôi nghĩ Đức Phật sẽ tha thứ cho tôi.”
Ngay đêm mồng Hai Tết Mậu Thân, bức hình của Adams được gửi từ Saigon ra ngoại quốc và rồi được in ngay trên trang nhất của các báo chí trên khắp thế giới.
5. Bức hình oan nghiệt
Bức hình Sáu Lèo bắn Bẩy Lốp được các nhóm phản chiến đưa ra khai thác tận tình trên các báo chí, truyền thanh và truyền hình tại Hoa Kỳ để đạt tới mục đích mong muốn: Phải chấm dứt chiến tranh Việt Nam bằng mọi giá, vì – theo lời họ – nó bẩn thỉu, không có chính nghĩa.
Tom Buckley, bình luận gia của báo Harper nhận xét: “Đây là lúc công luận Mỹ quay lại chống chiến tranh Việt Nam.”
Viện Gallup vào giữa tháng 3-1968 công bố rằng trước Tết Mậu Thân, có 1/5 người được hỏi đã nhận mình là “diều hâu” (tức ủng hộ chiến tranh), nhưng sau khi thấy bức hình Tướng Loan bắn Bảy Lốp thì họ tự đổi thành “bồ câu” (tức chống chiến tranh).
Đại Tướng Colin Powell, lúc đó mới mang lon Thiếu Tá đang dự khóa huấn luyện ở Fort Leavenworth, Kansas, kể lại quang cảnh lớp học quân sự sau khi bức hình oan nghiệt được đăng trên báo chí và truyền hình như sau: “Hôm đó, khi tôi đến lớp học, mọi nguời không ai tin được chuyện này đã xảy ra, y như vừa bị một cú thoi vào bụng.”
Cũng kể từ tháng Ba 1968, các cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam tại Hoa Kỳ đột nhiên rầm rộ khác thường. Tháng 10 năm đó, lực lượng Cảnh Sát Hoa Kỳ bắt đầu đụng độ với các cuộc biểu tình bạo động. Một năm sau, các cuộc biểu tình phản chiến tại Hoa Kỳ đòi rút quân ra khỏi Việt Nam đã thu hút hàng triệu người tham dự. Chính phủ Hoa Kỳ bị Quốc Hội trói tay, cắt ngân sách viện trợ cho VNCH. Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu xếp ba lô hồi hương vào năm 1973, để rồi hai năm sau (30-4-1975), miền Nam Việt Nam tức tưởi tuyên bố đầu hàng.
Cộng Sản chiếm dinh Độc Lập, Saigon, ngày 30-4-1975
6. Adams hối hận
Adams kể lại rằng sau khi bức hình Tướng Loan bắn Bẩy Lốp được gửi về trụ sở trung ương, thượng cấp của ông khuyến khích ông ráng chụp thêm nhiều bức hình giống như vậy, nhưng Eddie Adams nói rằng ông bắt đầu suy nghĩ về việc này. Càng tìm hiểu về Tướng Loan, ông càng ngưỡng mộ Tướng Loan về tài đức. Tướng Loan là người đang được dân chúng Việt Nam thương mến, ông là người làm tốt cho xứ sở ông. Ngay từ khi Cộng Sản tấn công vào Saigon, ông là vị Tướng duy nhất điều động lực lượng Cảnh Sát ngoài đường phố. Nếu không có Tướng Loan, không biết số phận Saigon sẽ ra sao? Vậy mà bức hình của ông lại gây ngộ nhận để công luận lên án Tướng Loan là tàn bạo.
Tên tuổi Adams bỗng nhiên nổi lên như cồn. Chỉ một năm sau, tức năm 1969, nhờ bức hình này, Adams lãnh luôn hai giải thưởng cao quý Pulitzer và World Press Photo. Nhưng thật lạ kỳ! Ông ta bắt đầu nhận ra có điều gì không ổn. Ông thuật lại rằng: “Tôi mặc bộ đồ dạ hội sang trọng để lãnh giải thưởng và tiền thưởng về bức hình đó tại Đại Hội Nhiếp Ảnh ở Hòa Lan. Khi ban nhạc trổi bài quốc ca Hoa Kỳ, tôi bật khóc. Không phải tôi khóc vì sung sướng, mà khóc cho Tướng Loan. Cho tới giờ phút đó, tôi vẫn chưa ý thức được việc tôi đã làm. Khi chụp tấm hình đó, tôi đã hủy hoại đời ông Tướng, vì ông bị dân chúng ở cả nước ông lẫn Hoa Kỳ lên án về tội giết tù binh chiến tranh. Trong bất cứ cuộc chiến nào, người ta cũng vẫn thường làm như vậy, nhưng hiếm có nhiếp ảnh viên nào chụp được mà thôi.”
Năm 1983, Adams trở lại Việt Nam và được biết tấm hình oan nghiệt của ông được trưng bày ở một chỗ rất trang trọng của Bảo Tàng Viện Chiến Tranh tại Saigon. Tuy nhiên, hiện nay không hiểu vì lý do gì, bức hình đã được gỡ bỏ, và chỉ được bày bán trong gian hàng bán đồ kỷ niệm tại Bảo Tàng Viện này thôi.
Bà Nguyễn Thị Lốp, 56 tuổi, quả phụ Nguyễn Văn Lém (Ảnh chụp năm 1988)
Sau năm 1975, có tới 8 người đàn bà đứng ra nhận là vợ của Nguyễn Văn Lém. Tuy nhiên, cho tới nay, xác của viên đặc công này vẫn chưa được tìm thấy.
Trong nhiều dịp khác nhau, Adams tiếp tục bày tỏ niềm ân hận về hậu quả bất công của tấm hình: “Tôi nhận tiền để trình diễn cảnh một người giết một người. Tướng Loan đã bắn chết tên Việt Cộng đã giết rất nhiều người dân vô tội và tướng Loan chỉ dùng công lý để xử tội hắn mà thôi.”
Vào năm 1994, Adams không muốn trưng bày bức hình oan nghiệt này nữa. Ông giải thích: “Nếu sự việc tái diễn, có lẽ tôi cũng lại chụp tấm hình như vậy, vì đó là nghề nghiệp mà! Nhưng tôi không còn muốn nói gì về bức hình ấy nữa. Tôi không trưng bày nó nữa. Tôi không xử dụng nó bất cứ tại nơi đâu.”
Ông thường nói rằng: “Tướng Loan là một vị anh hùng của chính nghĩa. Bức hình tôi chụp đã lừa dối công luận. Ông chiến đấu cho cuộc chiến của chúng ta, không phải cuộc chiến của họ. Vậy mà mọi điều nhục nhã lại đổ trên đầu con người này.”
Trong cuộc tỵ nạn của người Việt Nam năm 1975, Eddie Adams cũng đã chụp được những tấm hình nổi tiếng về cuộc vượt thoát can đảm, đầy gian nguy của thuyền nhân Việt Nam vào năm 1977. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã xin phép hãng AP để gửi sang Quốc Hội các tấm hình này. Nhờ vậy, gần 200.000 thuyền nhân Việt Nam được chấp thuận định cư ở Hoa Kỳ. Eddie Adams sung sướng nói rằng: “Tôi thà được biết đến qua những bức hình tôi chụp 48 người Việt Nam tỵ nạn trên chiếc thuyền dài 30 foot, rồi bị hải quân Thái đuổi ra biển. Nhờ những tấm hình này, tôi đã làm được những điều tốt mà không gây đau khổ, oan nghiệt cho ai cả.”
 
 
7. Tranh luận về bức hình
Tại sao bức hình Sáu Lèo bắn Bẩy Lốp đã trở thành đề tài nóng bỏng?
Nhóm phản chiến Hoa Kỳ lập luận rằng: Đại Úy đặc công Nguyễn Văn Lém đã bị bắt, hai tay bị trói quặt về sau lưng, tức là Nguyễn Văn Lém đã thực sự trở thành tù binh chiến tranh, Tướng Loan không có quyền hành quyết một kẻ thù trong trường hợp đã bị bắt, không còn phương tiện tấn công. Hành động này trái với điều 3 Quy Ước Genève ngày 12-8-1949 về tù binh. Từ đó, họ kết luận cuộc chiến Việt Nam là bẩn thỉu, người Mỹ không nên dính vào nữa.
Phóng viên chiến trường Neil Davids của Úc Đại Lợi, trong cuốn “In The Frontline”, đã bênh vực Tướng Loan rằng tên đặc công mặc áo dân sự, tức là không phải “quân nhân địch” như đã quy định trong Quy Ước Genève về tù binh, y lại phạm tội quá rõ ràng là giết nhiều đàn bà con nít và ngoan cố không chịu đầu hàng thì Tướng Loan có gọi là “phiến loạn” để xử bắn trong thời gian “thiết quân luật” thì cũng không có gì để gọi là quá đáng.
Tướng William Westmoreland, Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam đã nhận định rằng hành động của Tướng Loan là « không khôn ngoan, nhưng Tướng Loan đã làm dưới áp lực. Vấn đề này liên quan tới pháp lý mà ông không thể phán đoán được. Ông chỉ muốn nhấn mạnh đến áp lực vào thời điểm đó, tức là sự giận dữ về những hành động khủng bố của Cộng Sản. » Và sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, Tướng Westmoreland đã phẫn nộ công kích báo chí vì đã tạo ra những nguồn tin thất thiệt, tâng bốc sự thảm bại của Việt Cộng thành một cuộc « chiến thắng tâm lý » của Cộng Sản.
Nhưng thực sự, cả thế giới đã mắc lừa phản chiến Mỹ: Lừa về sự kiện và lừa về pháp lý.
Về sự kiện: Chính tác giả tấm hình, ông Eddie Adams đã nói bức hình của ông mới chỉ nói lên được một nửa sự thực. Ông ân hận, ông khóc lóc, ông phân bua, ông gào thét trên truyền hình, truyền thanh, báo chí và trước quan tài của Tướng Loan để cảnh giác thế giới rằng họ đã hiểu lầm về ý nghĩa bức hình của ông. Một nửa cái bánh vẫn là cái bánh, nhưng một nửa sự thực là sự sai, sự gian xảo, sự lừa lọc, sự lầm lẫn. Thế mà cả thế giới vẫn nhắm mắt, bịt tai và im lặng để cho Tướng Loan chết trong oan khiên và VNCH chết tức tưởi trong nhục nhằn.
Vậy cái nửa sự thực kia mà bức hình Adams không diễn tả được là gì?
Đó là:
1- Adams đã không ghi lại được những hình ảnh Nguyễn Văn Lém bắn giết và chôn sống dã man những người dân vô tội mà Tướng Loan có trách nhiệm phải bảo vệ. Họ là đàn bà, con nít không có phương tiện tự vệ trong tay. Sự việc này cũng đã được điều 4 Quy Ước Genève ngăn cấm các quân nhân tham dự chiến tranh không được làm như vậy.
2- Adams đã không diễn tả được cảnh Bắc Việt đã lợi dụng thỏa ước hưu chiến ngày Tết thiêng liêng như phương tiện để tấn công bất ngờ VNCH, gieo bao nhiêu tang thương, chết chóc, tủi hờn cho dân chúng miền Nam.
3- Adams cũng đã không ghi được cảnh tượng hàng ngàn người dân Huế bị chôn tập thể do bàn tay các đồng chí của Nguyễn Văn Lém gây nên.
Tóm lại, cái nửa sự thực mà Adams không trình bày được là nguyên nhân dẫn đến cái nửa sự thực được diễn tả trong bức hình. Nói cách khác, Tướng Loan nổ súng kết liễu đời Nguyễn Văn Lém chỉ là hậu quả tất nhiên của chính việc làm của Lém đã giết hại những người dân vô tội mà thôi.
b) Về pháp lý:
1- Trong bốn phe tham chiến tại Việt Nam: Bắc Việt, Nam Việt, Hoa Kỳ và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, chỉ có chính phủ miền Nam (VNCH) đã không hề ký kết bất cứ phần nào của Quy Ước Genève về tù binh và còn công khai bác bỏ vào ngày 18-2-1974. Còn Hoa Kỳ ký ngày 2-8-1955; Bắc Việt ký vào các năm 1953, 1957 và 1976; và Mặt Trận ký vào các năm 1973, 1974.
Tại sao VNCH đã không ký Quy Ước này? Chúng tôi chưa tìm ra tài liệu để trả lời. Tuy nhiên, cần ghi nhận ngay rằng VNCH có quyền làm như vậy mà không ai có thể suy luận xấu cho hành động không ký kết này. Các Quy Ước quốc tế không phải là tài liệu gì cần thiết đến nỗi các quốc gia hội viên không ký không được. Liên Hiệp Quốc cũng không có quyền bắt các hội viên phải ký kết mọi Quy Ước quốc tế, như Quy Ước về tù binh. Tính đến năm 2005, mới chỉ có 192 quốc gia trên thế giới chấp thuận toàn thể Quy Ước về tù binh. Một số quốc gia chỉ thuận một phần. Số khác thuận với những giới hạn do họ đặt ra. Ví dụ: Hoa Kỳ chấp nhận toàn thể Quy Ước về tù binh, ngoại trừ Hiến Chế (Protocol) 1 và 2 ban hành năm 1977.
Như vậy, VNCH (1954-1975) chưa hề bao giờ ký kết chấp nhận Quy Ước Genève về tù binh thì làm sao có thể quy kết VNCH và Tướng Loan vi phạm Quy Ước này được?
2- Dù có phê chuẩn Quy Ước, nhưng mỗi quốc gia lại tự ý giải thích Quy Ước theo quan niệm và quyền lợi riêng tư của mình.
Hãy lấy ngay trường hợp Bắc Việt và Hoa Kỳ làm bằng chứng.
Bắc Việt không tuân thủ Quy Ước dành cho tù binh Hoa Kỳ với lý do rằng Hoa Kỳ đã mở cuộc chiến tranh đế quốc xâm lược Việt Nam, tức là một cuộc chiến không có chính nghĩa, cho nên tù binh Mỹ không đáng hưởng những đặc ân của Quy Ước tù binh.
Phía Hoa Kỳ lại cũng không cho quân lính Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được hưởng Quy Ước, viện lý do là Bắc Việt và Mặt Trận đã áp dụng những chiến thuật du kích quá dã man, không thích hợp cho một cuộc chiến quân sự. Binh lính Bắc Việt và Mặt Trận bị bắt thực sự chỉ là những can phạm hình sự, chứ không phải đúng nghĩa tù binh.
Gần đây nhất, sau khi Hoa Kỳ đem quân chiếm đóng Afghanistan vào tháng 10-2001 và lật đổ chính quyền Taliban, Tổng Thống George W. Bush không cho các quân nhân của Taliban hưởng ân huệ của Quy Ước Genève, vì chính quyền Bush gọi họ là “chiến binh phi pháp luật” (unlawful combatants), chứ không phải tù binh chiến tranh (prisoners of war).
Đến tháng 3-2003, Hoa Kỳ lại mở cuộc chiến lật đổ chính phủ Saddam Hussein tại Iraq và không cho bất cứ chiến binh nào không có quốc tịch Iraq bị Hoa Kỳ bắt trên đất Iraq được hưởng quy chế tù binh.
Như vậy, dù có chấp nhận Quy Ước về tù binh mà lại cắt nghĩa Quy Ước theo ý riêng của mình, thì có ký hay không ký cũng chẳng khác nhau bao nhiêu.
Giả như VNCH có ký vào Quy Ước Genève thì có thể giải thích rằng Nguyễn Văn Lém không phải là tù binh chiến tranh, vì khi bị bắt, y không giao tranh với quân lực VNCH, mà lại đang lùng kiếm giết hại dân lành vô tội. Rõ ràng y là tội nhân hình sự, chứ không phải tù binh.
3- Việc ký kết đã vậy, còn việc vi phạm Quy Ước quốc tế cũng không phải là điều ít khi xảy ra.
Ví dụ:
– Bắc Việt thỏa hiệp ngưng chiến trong dịp Tết Mậu Thân, nhưng công khai mở cuộc tấn công trên toàn lãnh thổ VNCH.
– Bắc Việt ký Hiệp Định Đình Chiến Genève 1954, nhưng vẫn ngăn cản, không cho đồng bào miền Bắc di cư và chuẩn bị đem quân xâm chiếm miền Nam.
– Bắc Việt ký Hiệp Ước Hòa Bình Paris 1973, nhưng vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh tại miền Nam Việt Nam cho đến ngày thành công.
– Bắc Việt ký Quy Ước tù binh, nhưng không áp dụng. Thẩm Phán Quân Sự Hoa Kỳ, ông Ronald P. Cundick viết rằng: “Mặc dù Bắc Việt và Việt Cộng (ám chỉ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) đã không chịu áp dụng Quy Ước Genève về tù binh, nhưng họ vẫn nói rằng họ đối xử nhân đạo với quân nhân bị bắt. Tuy nhiên, trên thực tế, các tù binh Hoa Kỳ bị Bắc Việt và Việt Cộng bắt giữ đã bị đối xử dã man và bị dùng như con tin chính trị và lợi khí tuyên truyền.”
Thế giới đã không lên tiếng về việc hàng triệu sinh linh đã phải hy sinh trong các vụ Bắc Việt vi phạm các Hiệp Ước kể trên, mà lại làm ầm ĩ vụ Tướng Loan bắn Nguyễn Văn Lém. Người ta đòi hỏi Nguyễn Văn Lém phải được hưởng quy chế tù binh theo Quy Ước Genève. Làm gì có Quy Ước đó trong cuộc chiến ở Việt Nam? VNCH không ký. Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ký, nhưng chính họ đã xé bỏ từ lâu. Quy Ước Tù Binh chỉ còn là mảnh giấy lộn, bị bom đạn đốt cháy. Còn đâu mà tìm?
4- Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được khai sinh ngày 20-12-1960 với mục đích lật đổ chế độ chính trị miền Nam bằng bạo lực.
Bắc Việt luôn luôn chối là không hề tham dự gì vào các trận đánh ở miền Nam. Đó chỉ là chuyện riêng tư giữa nhân dân miền Nam nổi dậy chống nhà cầm quyền của họ.
Nếu lập luận này là đúng thì hai hậu quả được đặt ra cho vụ Tướng Loan:
Thứ nhất, Nguyễn Văn Lém là một phần tử trong tổ chức nổi loạn chống chính phủ miền Nam, nên không phải áp dụng Quy Ước Quốc Tế Genève, mà là luật lệ VNCH.
Thứ nhì, luật pháp của VNCH thời đó đã đặt Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật, nghĩa là các cán binh Cộng Sản chống lại VNCH bằng võ lực không còn được luật pháp bảo vệ như một công dân thường. Nguyễn Văn Lém là một phần tử trong tổ chức bị luật pháp đặt ngoài vòng pháp luật, y lại còn bị bắt quả tang trong lúc phạm tội hình nguy hiểm. Vậy thì Tướng Loan, vị chỉ huy cao cấp nhất ngành Cảnh Sát, đang có mặt trên phạm trường có quyền thụ lý nội vụ và quyết định những biện pháp thích nghi. Tướng Loan đã hành xử đúng quyền hạn của ông khi quyết định xử tử Nguyễn Văn Lém ngay tại phạm trường, để chấm dứt tội ác của y. Quyết định của ông phải được coi là hợp luật. Cần ghi nhận rằng Tướng Loan không hề bị khiển trách hay điều tra bởi các cơ quan Giám Sát, Hành Pháp, Tư Pháp hay Lập Pháp của VNCH về việc ông đã hành quyết Nguyễn Văn Lém.
Tuy nhiên, sau ngày 30-4-1975, chiếc màn nhung tuyên truyền của Cộng Sản rớt xuống, cả thế giới đều thấy rõ ràng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ là con đẻ của Bắc Việt. Bằng chứng quá nhiều:
– Con đường mòn Hồ Chi Minh do Hà Nội xây dựng,
– Vũ khí đạn dược từ Nga Sô và Trung Cộng từ Bắc đổ xuống Nam,
– Các cán binh đều nói giọng miền Bắc,
– Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy trận đánh tiến chiếm miền Nam,
– Hà Nội công khai tuyên bố chiến thắng và tức khắc khai tử hai thể chế chính trị tại miền Nam cùng một lúc: VNCH và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Đúng là một phát súng, hai con chim ngã gục!
Phải đợi tới lúc này, cả thế giới mới nhìn thấy một sự thực hiển nhiên là Bắc Việt đã xé bỏ biết bao nhiêu Hiệp Ước Quốc Tế ngay khi chữ ký chưa ráo mực, miễn sao đánh chiếm được miền Nam. Vậy thì đưa Quy Ước Quốc Tế Genève về tù binh ra buộc tội VNCH và Tướng Loan rõ ràng chỉ là một công việc thừa thãi, đúng ra là một trò hề! Sau này, tất cả những bộ mặt phản chiến nổi danh tại Hoa Kỳ như nữ tài tử Jane Fonda, và nữ ca sĩ Joan Baez đều đã đấm ngực ăn năn.
Đây là lời thú tội của Jane Fonda: “Tôi xin được nói đôi lời, không phải chỉ gửi đến các cựu chiến binh Việt Nam ở New England, mà đến tất cả những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam. Họ là những người bị tôi gây tổn thương, hoặc bị tôi gây thêm sầu khổ, do những lời tôi đã nói hay những việc tôi đã làm. Tôi cố gắng giúp chấm dứt sự chết chóc và chiến tranh, nhưng có những lúc tôi không chín chắn và thiếu thận trọng khi làm việc đó và tôi… rất hối hận vì đã làm tổn thương họ. Tôi muốn được xin lỗi họ và gia đình họ.”
Nhưng mọi việc đã quá muộn màng. Đời con gái khôn ba năm dại một giờ! Lịch sử đã sang trang. Miền Nam đã hoàn toàn bị nhuộm đỏ! Có hối hận cũng chẳng ích lời gì nữa!
5- Sau cùng, vấn đề còn lại là việc Tướng Loan xử tử Bẩy Lốp có đúng thủ tục pháp lý và nhân đạo hay không?
Lý lẽ quan trọng nhất người ta thường nêu lên để trách cứ Tướng Loan là đã xử tử Nguyễn Văn Lém mà không có án lệnh của toà án.
Không! Người ta đã lầm. Lầm hoàn toàn! Người ta đòi hỏi Nguyễn Văn Lém phải được bắt giữ đúng thủ tục tư pháp? Ai có quyền bắt giữ kẻ phạm pháp? – Đó là Cảnh Sát. Nhưng Cảnh Sát là những người mà Lém đang tìm giết. Chẳng những giết Cảnh Sát mà Lém còn giết cả vợ con, gia đình Cảnh Sát nữa. Lém đâu có cần đến Cảnh Sát! Dù sao, thực tế Nguyễn Văn Lém đã bị Cảnh sát bắt đang lúc quả tang phạm pháp.
Người ta đòi phải đem Nguyễn Văn Lém ra toà án xét xử. Còn toà án đâu mà xử? Toà án cũng như các cơ sở công quyền đều là mục tiêu Lém và các đồng chí của y đang chủ trương đốt phá cho kỳ hết. Thẩm phán là những người Lém đang tìm bắt để chôn sống.
Tất cả miền Nam Việt Nam trong dịp Tết Mậu Thân là một bãi chiến trường khổng lồ mà Bắc Việt đã dựng nên. Trong hoàn cảnh chiến tranh, chết chóc, lửa đạn như vậy mà lại còn đòi hỏi nào là Quy Ước, nào là Cảnh Sát Tư Pháp, nào là Tòa án, nào là Thẩm phán… Tất cả những thứ đó Nguyễn Văn Lém không cần. Điều mà y thực sự cần là chấm dứt tội ác và đền tội.
Nguyễn Văn Lém đã không mặc quân phục, đội nón cối, đi dép râu để giao tranh với quân đội VNCH như các bộ đội Bắc Việt khác. Nguyễn Văn Lém mặc thường phục, đi giết hại, khủng bố đàn bà con nít để bắt họ làm bia đỡ đạn.. Bẩy Lốp chẳng những đã không phủ nhận mà còn hãnh diện về các vụ giết và chôn sống đàn bà con nít của y. Hành vi này kết thành tội sát nhân với trường hợp gia trọng, bắt buộc phải bị tử hình.
Phương cách thi hành án tử hình vẫn được áp dụng vào thời đó tại Việt Nam là các tử tội bị trói vào cột và một tiểu đội hành quyết nổ súng. Sau đó, viên tiểu đội trưởng đến gần bắn một phát súng ân huệ vào đầu tử tội để chắc chắn y đã chết. Nguyễn Văn Lém đã bị hành quyết đúng theo thủ tục: Tử tội bị trói đem ra pháp trường và hưởng phát súng hành quyết cũng chính là phát súng ân huệ của Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc CSQG.
8. Cuộc Đời Tướng Nguyễn Ngọc Loan
Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan sinh ngày 11-2-1930 tại Huế, tốt nghiệp Khóa 1 Trường Võ Khoa Thủ Đức.
Năm 1953, ông thụ huấn khóa phi công tại Trường Không quân Salon de Provence tại Pháp và tốt nghiệp với bằng Kỹ Sư Hàng Không. Ông là một phi công lái khu trục cơ đầu tiên của Không lực VNCH. Khoảng đầu năm 1960, ông giữ chức Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 2 Quân Sát, đóng tại Nha Trang.
Năm 1964, ông được vinh thăng Đại Tá và giữ chức Tư Lệnh Phó Không Quân Việt Nam Cộng Hòa.
Trong chiến dịch « Mũi Tên Lửa » (Flamming Dart), ngày 11-2-1965, Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đã dẫn đầu những phi đoàn Bắc phạt A1 Skyraider vượt qua vĩ tuyến 17 bắn phá miền Bắc Việt Nam.
Ngay sau chiến dịch này ông được bổ về làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia kiêm Giám đốc Nha An Ninh Quân đội, phụ trách Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.
Kể từ ngày về chỉ huy ngành CSQG, các báo chí Saigon được gần gũi với Đại Tá Loan hơn và đã đặt cho ông hỗn danh là “Sáu Lèo”. Tác giả Phan Lạc Phước đã giải thích ý nghĩa hỗn danh “Sáu Lèo” như sau:
“Sáu ở đây là quan Sáu theo danh xưng bình dân thời Pháp gọi các quan võ, mỗi một vạch trên vai là một cấp bậc (thiếu úy vạch một vạch là ông một, trung úy vạch hai vạch là ông hai…). Nhưng sau chữ Sáu của ông Loan còn thêm tĩnh từ Lèo. Không biết nó xuất xứ từ đâu, nhưng khi nó đi vào ngôn ngữ dân gian thì nó mang một ý niệm bỉ thử, dèm pha, tiêu cực. Tiền lèo là tiền vô giá trị, hay là tiền chỉ có trong tưởng tượng. Hứa lèo là hứa xuông, hứa hão, hứa mà không thực hiện bao giờ. Vậy Sáu Lèo có nghĩa là một ông quan vô giá trị hay là một ông tướng hữu danh vô thực hay sao? Sở dĩ cái danh xưng này đứng vững, một phần là vì cái bề ngoài luộm thuộm của ông Loan. Ông rất ít khi mặc quân phục, mũ mãng cân đai, nghênh ngang giàn giá. Ông thường mặc quần Trây-di xộc xệch, không đeo lon lá gì, chân đi dép cao su lẹp xẹp. Ra ngoài thì ông ngồi xe jeep bình thường, không có mang cờ quạt, mà cũng không có xe mở đường, mô tô bảo vệ. Ông nhiều khi còn cỡi xe mobilet lạch xạch đi làm. Có khi ông còn một tay cầm chai lade, vừa chửi thề loạn xạ. Bề ngoài của ông tướng Loan đúng là xập xệ, là lèo, nhưng việc làm của ông thì lại không lèo một chút nào… Ông hành động theo những điều mà riêng ông cho là phải. Ông là người bất quy tắc (non conformist) cho nên ông được gọi là Sáu Lèo.”
Cách giải thích của tác giả Phan Lạc Phước khá lý thú. Tuy nhiên, chữ “Lèo” ngoài ý nghĩa khôi hài châm biếm như trên, còn có thể mang thêm một ý nghĩa khác đứng đắn và cũng hợp với hoàn cảnh Tướng Loan. “Lèo” thường đi chung với chữ “Lái”: Lèo Lái. Từ sau cuộc đảo chánh 1963, các nhân viên ngành CSQG bị gán tiếng là thân cận với chế độ Ngô Đình Diệm, nên bị bạc đãi và mất tinh thần, nhưng khi Tướng Loan về lèo lái con thuyền Cảnh Sát thì tất cả đều đổi mới, bóng tối tự ti mặc cảm biến mất, ánh sáng bình minh ló dạng và mọi người hăng hái ra khơi. Lúc đó, ngành Cảnh Sát có 70.000 nhân viên, chỉ chuyên chú về việc bảo vệ luật lệ. Đại Tá Loan đã quân sự hóa ngành Cảnh Sát để trở thành một lực lượng bán quân sự, vừa bảo vệ trật tự dân chúng vừa hành quân võ trang chống Cộng Sản với lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến. Thành quả đáng tuyên dương là chính lực lượng Cảnh Sát đã chống trả cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân ngay từ giây phút đầu tiên, để rồi sau đó, các quân binh chủng khác mới tập trung tiếp sức.
Năm 1966, Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan được chính quyền Saigon cử ra miền Trung bình định vụ biến động Phật Giáo miền Trung. Với thành quả rất mạo hiểm và xuất sắc này, ông được vinh thăng Chuẩn Tướng vào tháng 11-1967.
Sau Tết Mậu Thân năm 1968, ông được thăng cấp Thiếu Tướng.
Tác giả Phạm Phong Dinh trong cuốn “CHIẾN SỬ Quân Lực VNCH” đã viết rằng: “Cống hiến lớn nhất của Thiếu Tướng Loan mà cũng là mối oan khiên mà ông phải gánh chịu nhục nhằn trong vòng mấy chục năm là cuộc chiến đấu trong những ngày Mậu Thân binh lửa…
“Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan cùng lực lượng CSQG và Cảnh Sát Dã Chiến chịu trách nhiệm đánh địch tại lãnh thổ các quận 1, 2, 3, 4, 5. Các chiến sĩ Cảnh Sát liên tục mở những cuộc hành quân loại địch ra khỏi dân chúng. Tuy nhiên, khi mặt trận Hàng Xanh nổ lớn, Thiếu Tướng Loan đã điều động lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến và đích thân ông chiến đấu sát cánh với các chiến sĩ Mũ Nâu Tiểu Đoàn 30 BĐQ của Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân. Các thám thính xa V100 của Cảnh Sát cũng được gửi tới tăng viện mặt trận. Quân ta tiến vất vả và chậm trên khắp mặt trận, là bởi vì bọn Việt Cộng man rợ, chúng lùa thường dân, đàn bà, người già và trẻ em làm bia đỡ đạn hoặc dùng súng bắn chặn không cho dân chúng di tản ra khỏi khu vực giao tranh. Các chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia và Cảnh Sát Dã Chiến được Thiếu Tướng Loan điều động đến càn quét khu vực Thị Nghè. Gia đình của một Đại Úy Cảnh Sát trong khu vực này không chạy kịp đã bị tên Bảy Lốp, Đại Úy Đặc Công Việt Cộng tàn sát man rợ.”
Cựu Đại Tá Trần Minh Công, trước khi giữ chức Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, đã có thời làm việc sát cánh bên Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Hồi Tết Mậu Thân, ông giữ chức Trưởng Ty CSQG Quận Nhì Đô Thành Saigon. Nhờ mặc chiếc áo giáp nên ông đã thoát chết, vì đạn Việt Cộng đã bắn nát áo ông.
Đại Tá Công đã khẳng định rằng: “Tướng Nguyễn Ngọc Loan là một vị Tướng trí thức trong hàng ngũ tướng lãnh VNCH. Tướng Loan là một người rất can đảm, một cấp chỉ huy tài ba và là một vị anh hùng dân tộc. Ít có vị tướng nào lại cùng cầm súng chiến đấu ngoài mặt trận như một người lính thường. Nếu không có Tướng Loan xông pha bảo vệ Thủ đô Saigon trong dịp Tết Mậu Thân, tôi nghĩ Saigon sẽ tan hoang không khác gì Huế.”
Chỉ bốn tháng sau, tức ngày 5-5-1968, Bắc Việt lại mở cuộc tổng công kích lần thứ hai. Lần này, Tướng Loan cùng với lực lượng Cảnh Sát can đảm của ông ngày đêm xông xáo chiến đấu ngoài đường phố Saigon. Ông bị địch quân bắn trọng thương vào cả hai chân trên cầu Phan Thanh Giản.. Một ký giả người Úc nhìn thấy và đã khẩn cấp dìu ông vào chỗ an toàn. Định mệnh thật lạ kỳ: Một ký giả Mỹ đã hủy diệt danh tiếng Tướng Loan thì một ký giả Úc đã cứu sống ông.
Sau đó, Tướng Loan được chở sang Úc chữa trị, nhưng vì bị công luận Úc phản đối, nên ông lại được chở sang bệnh viện Walter Reed Army Medical Center ở Washington, DC., Hoa Kỳ. Nhưng thật đau đớn cho Tướng Loan, các dân biểu phản chiến tại Quốc Hội Hoa Kỳ vào lúc đó cũng phản đối. Trở về Sàigòn với đôi chân tật nguyền khập khiễng, Tướng Loan được giải ngũ và dành thì giờ vào các công tác thiện nguyện giúp trẻ mồ côi.
Ngày 3-6-1968, 6 sĩ quan ưu tú của quân lực VNCH mà phân nửa là CSQG đã bị trực thăng Mỹ “bắn lầm” (?) tại một cao ốc ở Chợ Lớn trong cuộc hành quân đánh đuổi Cộng Sản. Người ta nói rằng nếu Tướng Loan không bị thương thì có lẽ cũng đã bị chết với bộ tham mưu hành quân này.
Năm 1975, miền Nam sụp đổ, máy bay của Hoa Kỳ không đưa Tướng Loan và gia đình ông di tản, nhưng các chiến hữu không quân của ông đã cứu ông.
Khi Tướng Loan đến Hoa Kỳ, nữ Dân Biểu Nữu Ước Elizabeth Holtzman yêu cầu trục xuất ông và cả Sở Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ cũng đồng quan điểm. Nhưng quyết định trục xuất Tướng Loan về Việt Nam có nghĩa tương đương với bản án tử hình dành cho ông. Vì thế, chính Tổng Thống Jimmy Carter đã phải can thiệp và quyết định cho phép ông được định cư tại Hoa Kỳ..
Tướng Loan và gia đình đến lập nghiệp ở thành phố Springfield, Tiểu Bang Virginia, Hoa Kỳ. Ông mở một tiệm bán pizza mang tên Pháp là “Les Trois Continents” (Ba Đại Lục). Đã có lần, Eddie Adams đến tiệm pizza này thăm Tướng Loan. Khi nhắc đến tấm hình oan nghiệt năm xưa, Tướng Loan không hề nói một lời oán trách tác giả tấm hình. Ông còn yên ủi Adams: “Ông làm nhiệm vụ của ông, tôi làm nhiệm vụ của tôi. Chỉ có thế thôi!” Chính vì câu nói này, Adams càng thêm mến phục Tướng Loan và họ đã trở thành đôi bạn tri kỷ.
Trong một dịp có vài chiến hữu cũ đến thăm Tướng Loan tại quán ăn, bên những ly rượu hội ngộ, Thiếu Tướng Loan đã rưng rưng nước mắt thổ lộ hoài bão:
« Nếu cơ may một ngày nào đó tụi mình trở về, thì lúc đó tụi mình đều là nghĩa quân cả. Không Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Bộ Binh, Lực Lượng Đặc Biệt gì cả. Tụi mình chỉ là nghĩa quân. Nghĩa quân đây là nghĩa quân của thời Lê Lợi khởi nghĩa, của thời Cần Vương chống giặc ngoại xâm. Chỉ có đám quân đội của tụi mình mới có thể nói chuyện « phải quấy » với đám quân đội phía bên kia, vì hồi còn đánh nhau, hai bên đều bị bịt mắt cả ».
Đến năm 1991, tướng Loan phải đóng cửa tiệm pizza này, vì dân chúng địa phương đã nhận diện được ông. Có kẻ đã vào nhà vệ sinh của tiệm và viết lên tường câu khiếm nhã này bằng Anh ngữ: “Chúng tao đã biết mày là ai.”
Nhận xét về cá tính của Tướng Loan, cựu Đại Tá Trần Minh Công nhận định như sau: “Nhìn phong cách và diện mạo của Tướng Loan, nhiều người cứ tưởng lầm ông là một bạo tướng, nhưng nhiều lần tôi đã từng chứng kiến ông ngồi khóc một mình. Tìm hiểu ra mới biết ông là người rất giầu tình cảm. Ông thương yêu thuộc cấp, sống chết với họ. Kể cả khi ông bắt gặp đàn em làm bậy, ông cũng không nỡ phạt họ, mà chỉ răn đe để họ cải sửa. Mỗi khi thuộc cấp hy sinh tử trận, ông khóc thương, nước mắt dầm dề. Có khi thượng cấp hiểu lầm ông, ông cũng khóc. Ông kể lể: ‘Tao phục vụ quốc gia, dân tộc, chứ tao đâu có phục cá nhân nào.’”
Ngay khi còn ở Việt Nam vào lúc nắm giữ quyền uy trong tay, gia đình Tướng Nguyễn Ngọc Loan vẫn sống rất thanh bạch. Tiền lương đem về hôm trước, hôm sau ông lại lấy đi để giúp đỡ thuộc cấp. Khi bị thương, phải đi ngoại quốc chữa trị, ông không đủ tiền. Thuộc cấp xin đóng góp, nhưng ông không nhận.
Trong cuốn “Bốn Tướng Ðà Lạt” của Lê Tử Hùng có kể lại vụ Tướng Nguyễn Ngọc Loan trả lại chiếc nhẫn kim cương cho một Hoa kiều giầu có, tên là Hoa Hồng Hỏa. Ông này là một trong những thương gia gốc Hoa lương thiện, nhưng đã trở thành nạn nhân của các tướng lãnh sau cuộc đảo chánh 1963. Ông ta bị vu oan để rồi chiếc biệt thự của ông ở Ðà Lạt bị một ông tướng chiếm. Tới thời Tướng Loan chỉ huy ngành CSQG, họ Hoa mới được minh oan và tiếp tục làm ăn. Khi ông Loan gặp hoạn nạn, phải ra ngoại quốc chữa chân, Hoa Hồng Hỏa biết ông là người thanh liêm, gia cảnh thanh bạch, lại không có thân nhân ở ngoại quốc, nên đã trả ơn Tướng Loan bằng cách tặng ông một cái nhẫn kim cương. Sau này ông Hoả kể lại rằng ông không biết Tướng Loan phải chữa trị bao lâu và cuộc sống ở ngoại quốc khó khăn ra sao, nhưng ngày trở về Việt Nam, Tướng Loan đã đem trả lại chiếc nhẫn cho chủ nó. Vợ chồng Hoa Hồng Hỏa đã lạy khóc và ca tụng Tướng Loan là bậc “Thánh”!…
9. Dòng Lệ Tiếc Thương
Linh cửu Cố Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan
Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã qua đời lúc 20 giờ ngày 14-07-1998 vì bệnh ung thư, thọ 68 tuổi. Ông để lại vợ, bà Mai Chính, 5 người con và 9 cháu nội ngoại.
Ngay sau khi nhận được tin này, Eddie Addams đã viết ra bản điếu văn bằng nước mắt ngập tràn và từ con tim vỡ nát vì hối hận. Tuần báo TIME đã đăng tải bài điếu văn này ngay trong số phát hành ngày 27-07-1998.
« Tôi đoạt giải Pulitzer trong năm 1969 nhờ tấm ảnh chụp một người bắn vào một người khác. Trong tấm ảnh đó có đến hai người chết: Người nhận lãnh viên đạn và Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Ông Tướng đã giết chết tên Việt Cộng, nhưng tôi giết ông Tướng bằng cái máy ảnh của tôi. Những tấm ảnh vốn vẫn là những thứ vũ khí kinh khủng trên thế giới. Người ta tin tưởng vào chúng, nhưng những tấm ảnh đó cũng có thể nói láo, thậm chí không cần phải ngụy tạo. Chúng chỉ nói lên được có phân nửa của sự thật. Những gì mà tấm ảnh này chưa nói lên được là: « Người ta sẽ hành động ra sao nếu họ ở vào vị trí của ông Tướng, vào cái thời điểm và nơi chốn của một ngày nóng bức, khi người ta vừa bắt được một tên gọi là ác ôn mà trước đó hắn đã bắn chết một, hai hay ba người lính Mỹ?
“Tướng Loan là một mẫu người có thể được gọi là chiến binh đúng nghĩa và được thuộc cấp kính trọng. Tôi không nói rằng những gì ông Tướng đã làm là đúng, nhưng người ta phải tự đặt mình vào vị trí của ông. Tấm ảnh không hề diễn tả được rằng ông Tướng đã tận tụy dành nhiều thời gian đến các bệnh viện để thăm hỏi những nạn nhân chiến cuộc. Tấm ảnh này đã thực sự làm đảo lộn cuộc đời ông. Ông chẳng hề phiền trách gì tôi. Ông nói với tôi rằng: Nếu tôi không chụp tấm ảnh, thì sẽ có người khác làm việc đó, nhưng tôi vẫn cảm thấy bứt rứt xốn xang về ông và gia đình ông trong một thời gian dài. Tôi vẫn thường liên lạc với ông, lần cuối cùng mà chúng tôi nói chuyện với nhau đã xảy ra hồi sáu tháng trước, vào lúc ông đã bị bệnh rất nặng.”
Trong lúc các bạn hữu, các tổ chức người Việt tỵ nạn còn phải đắn đo, suy nghĩ, họp bàn về việc có nên đăng báo phân ưu và gửi vòng hoa đến phúng điếu cố Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan hay không thì Eddie Adams đã mau mắn gửi một vòng hoa lớn nhất đến phân ưu Tướng Loan với hàng chữ:
« Kính thưa ông Tướng, Lệ đã tràn đầy trong mắt tôi ».
Dưới đây là bản dịch nguyên văn những lời nói của chính Eddie Adams, phát ra từ đáy con tim, với những cảm xúc ân hận vì đã chụp tấm hình oan nghiệt, làm hại đời của Tướng Loan:
“Trong đời tôi, bức hình này đã gây ra bao nhiêu lời chỉ trích. Bức hình đã làm tôi đau đớn. Tôi đã bắt đầu nghe được điều này ngay khi bức hình được tung ra. Như quý vị đã biết: Nó đã gây nên những cuộc biểu tình vào năm 1968 và đã tạo ra sự giận dữ và phẫn nộ tại Hoa Kỳ.
“Tôi không hiểu được điều này và cho tới giờ này tôi cũng vẫn không hiểu được, vì trong thời chiến, con người ta chết vì chiến tranh. Và điều mà tôi đã hỏi nhiều người rằng nếu quý vị là ông Tướng đó và nếu quý vị bắt được kẻ đã giết hại dân chúng của quý vị thì quý vị sẽ làm sao? Đây là thời chiến mà!
“Làm sao mà biết được nếu chính quý vị gặp hoàn cảnh này mà lại không bóp cò súng?
“Bởi vậy tấm hình này đã nói dối, đưa đến việc người ta kết án ông Tướng. Ông là một vị Tướng, nhưng thực ra, lúc đó ông là Đại Tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát QGVN. Ông đã tốt nghiệp trường chỉ huy tại Hoa Kỳ. Ông là người đậu thủ khoa. Tôi hiểu ông và kính phục ông. Tôi nghĩ rằng đã có hai người chết trong bức hình của tôi: Không phải chỉ người bị bắn, mà cả chính ông Tướng bắn nữa.
“Bức hình đã hủy diệt cuộc đời ông và tôi không hề có ý như vậy. Ý của tôi là chỉ muốn trình bày việc gì đã xảy ra. Sự thực là tôi không muốn gánh trách nhiệm là kẻ đã hủy diệt đời sống của bất cứ ai cả.”
Eddie Adams đã đến tham dự đám tang của Tướng Loan và nói rằng: “Tướng Nguyễn Ngọc Loan là một anh hùng. Cả nước Mỹ nên khóc thương ông. Tôi không thích ông ra đi lặng lẽ theo cách này, để không ai biết đến”.
Sáu năm sau đó, vào ngày 12-9-2004, Eddie Adams cũng qua đời. Hưởng thọ 71 tuổi.
10. KẾT LUẬN
Kẻ chiến thắng, uống mãi ly rượu mừng rồi cũng có ngày say sưa bất tỉnh.
Người bại trận, nhấp mãi chén đau thương rồi cũng có ngày tỉnh giấc vùng lên.
Không phải tất cả những kẻ chiến thắng đều là đúng đắn, giỏi giang hay ái quốc.
Cũng không phải tất cả những người bại trận đều là sai lầm, dốt nát hay phản quốc.
Đã trên 30 năm qua, đây là lúc phải trả lại sự thực cho lịch sử chiến tranh Việt Nam.
Sự thực của lịch sử là gì?
Sự thực không thể chối cãi là: Trong cuộc chiến Việt Nam, kẻ chiến thắng không phải do tài ba của mình, người bại trận không phải do yếu kém của mình. Kẻ thắng không ngờ mình thắng, người thua không hiểu tại sao mình thua. Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh? Anh và tôi, tất cả chúng ta chỉ là những con tốt thí trên bàn cờ quốc tế. Tất cả chiến thắng hay thất bại trong cuộc chiến Việt Nam đều do bàn tay phù thủy, lông lá của ngoại bang vẽ ra.
Bởi vậy, đây là lúc phải xét định công tội cả bên thắng cũng như bên thua bằng tinh thần ái quốc đối với Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam.
Cuộc chiến Việt Nam không phải bẩn thỉu như người ta nghĩ đâu, vì đó là một trận thư hùng giữa Tự Do và Độc Tài, giữa Hữu Thần và Vô Thần, giữa Quốc Gia và Cộng Sản.
Phản chiến Hoa Kỳ lên án Tướng Loan bắn Cộng Sản là lạc hậu. Thế thì khi Tướng Loan bị thương, được đem đến nhà thương bên Úc, người ta từ chối không chịu chữa. Đó là văn minh chăng? Người ta lén lút vào nhà vệ sinh thuộc cơ sở làm ăn của Tướng Loan viết những câu hăm dọa, tục tĩu. Đó là văn minh chăng?
Phản chiến Hoa Kỳ rầm rộ biểu tình chống chiến tranh Việt Nam vì bức hình Tướng Loan bắn Việt Cộng ngay tại chiến trường mà họ gọi là « tù binh », trong khi họ lại yên lặng khi các quân nhân Hoa Kỳ lột trần truồng tù binh Iraq để làm trò giải trí, khi các tù binh Iraq bị xích như những con chó bò lê lết trên sàn nhà?
Trong vụ tấn công Tết Mậu Thân, Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Saigon và Tướng Loan đều có cùng một chủ trương là những kẻ chủ mưu cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân phải trả giá ngay tức khắc tại phạm trường, không để sống sót bất cứ một tên nào, nhưng Tướng Loan đã áp dụng theo cách thế “ngạo nghễ” của riêng ông, hoàn toàn khác với phương pháp âm thầm kín đáo của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ. 19 đặc công đánh vào Tòa Đại Sứ Mỹ, không ai bị bắt, không ai bị thương, tất cả đều chết.
Tại sao chúng ta lại buồn phiền, xấu hổ, mang tự ti mặc cảm, khi đám phản chiến Hoa Kỳ gọi Tổng Giám Đốc CSQG/ VNCH là “bạo tướng”, trong khi chính họ gọi Tổng Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld và bà Ngoại Trưởng Condoleezza Rice ngày 4-5-2006 tại Atlanta là những “tội phạm chiến tranh”? Nếu đã là “tội phạm chiến tranh” thì phải lãnh hình phạt tử hình, chứ không thể ngồi điều khiển Ngũ Giác Đài và Bộ Ngoại Giao của siêu cường quốc Hoa Kỳ được.
Trong suốt cuộc đời, Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã chịu bao nhiêu oan khiên, nghiệt ngã: Phật Giáo ghét ông vì vụ Bàn Thờ Phật xuống đường. Công Giáo ghét ông vì ông bắt tên cán bộ Cộng Sản nằm vùng Phạm Ngọc Thảo, tự nhận là “con nuôi ông Diệm” ẩn núp tại một giáo xứ ở Hố Nai. Sinh viên tranh đấu ghét ông vì ông dẹp họ biểu tình. Tổ chức phản chiến trên thế giới ghét ông vì ông bắt kẻ sát nhân phải đền tội ngay tức khắc tại phạm trường.
Nhưng bây giờ lịch sử đã chứng minh: Tất cả những kẻ ghét ông đã sai, và ông đã hành xử đúng.
Tướng Loan đã đem sinh mạng và tất cả danh dự đời ông để bảo vệ đời sống của dân lành. Ông gieo rắc bình an cho dân chúng ở Saigon, Đà Nẵng, Nha Trang… và tất cả những nơi ông đặt chân đến.
Cầu mong Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan được an nghỉ bình yên trong Ánh Hào Quang Rạng Ngời, với lòng cảm mến, kính phục và biết ơn của tất cả những người Việt quốc gia.
Tiến Sĩ TRẦN AN BÀI
Nguyên Giảng Sư Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia

Thư khẩn của 144 nhân sỹ trí thức kính gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

2 Nov

Tâm Thư cảm ơn gởi các vị Nhân sỹ trí thức đã vận động cho bạn Nguyễn Phương Uyên và thông báo khẩn của sinh viên

Kính thưa quý bác, cô chú nhân sỹ trí thức,
Chúng cháu những sinh viên của Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm chân thành cảm ơn các vị nhân sỹ trí thức đã đứng cùng chúng cháu, hậu thuẫn những đề nghị chính đáng của tập thể sinh viên lớp 10CDTP1, lên tiếng để bảo vệ cũng như yêu cầu Chủ tịch nước Trương Tấn Sang can thiệp để trả tự do ngay cho bạn Nguyễn Phương Uyên.
Sau khi bức thư chúng cháu viết cho bác Chủ tịch nước được gởi đi, cho đến nay vẫn không có hồi đáp gì. Thật sự chúng cháu rất là buồn. Chúng cháu còn quá trẻ, trên đường đời nhiều cam go không có đủ kinh nghiệm ngoài trái tim nóng bỏng của tuổi trẻ và lòng yêu nước thiết tha. Vì thế chúng cháu rất vui mừng khi thấy 157 vị nhân sỹ trí thức, trong đó đặc biệt là giáo sư Ngô Bảo Châu, người mà giới sinh viên chúng cháu xem là thần tượng và là mục tiêu phấn đấu trên con đường học hành đã đồng hành và cất tiếng nói cùng chúng cháu.
Lá thư khẩn của quý bác, cô chú gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã giúp cho chúng cháu cảm thấy tự tin hơn vì biết rằng trên con đường gian nan và vào những giây phút khó khăn này, bên cạnh chúng cháu đã có các bậc cha anh nâng đỡ khi chúng cháu vấp ngã. Hơn ai hết chúng cháu hiểu được tình thương yêu và nâng đỡ của thế hệ đi trước dành cho chúng cháu, dành cho hoài bão trong sáng của thế hệ trẻ, của các thanh niên sinh viên đang tiếp tục nối bước cha anh góp phần vào việc bảo vệ đất nước và xây dựng quê hương theo đúng khát vọng chung của dân tộc.
Nhân dịp này, chúng cháu xin cảm ơn quý bác, cô chú, các anh chị đã hết lòng hỗ trợ, lên tiếng, bày tỏ quan điểm ủng hộ lòng yêu nước của bạn Nguyễn Phương Uyên cũng như đã an ủi, khuyến khích chúng cháu để chúng cháu có đủ tinh thần vừa phải học hành, vừa phải lo cho bạn đang bị bắt giữ và vừa phải đối đầu với những khó khăn chồng chất chỉ vì thương mến bạn Phương Uyên và thương yêu giống nòi.
Chúng cháu xin hứa sẽ giữ vững truyền thống hào hùng của tổ tiên, của những vị anh hùng dân tộc cứu nước và dựng nước mà nhờ vào đó mà chúng cháu đã ngẩng cao đầu để luôn tự hào chúng cháu là người Việt Nam.
Xin cho chúng cháu gởi lời chúc sức khỏe và lòng biết ơn sâu sắc.
Đại diện lớp 10CDTP1 
*
Chúng cháu cũng xin được thông tin khẩn đến với mọi người: 
Sau khi bức thư gởi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang được soạn từ trong trường đại học CNTP, thì áp lực từ phía nhà trường, và từ phía chính quyền luôn giám sát mọi động tĩnh của sinh viên chúng cháu.
Vào chiều hôm nay ngày 2/11/2011 một số cán bộ đã đến làm việc với 4 lớp CNTP đặc biệt là lớp 10CDTP1 mà chúng em và Phương Uyên theo học.
Phái đoàn gồm có:
+ Thành đoàn TPHCM
+ Phòng công tác học sinh sinh viên ĐHCNTP
+ Trưởng khoa CNTP
+ Bí thư đoàn trường
+ Bí Thư đoàn Khoa, và một số thầy cô.
Phái đoàn đã đến tận lớp để thông báo việc bạn Nguyễn Phương Uyên và theo các cán bộ thì Phương Uyên bị bắt là do có hành vi rãi truyền đơn chống lại đảng cộng sản, chứ không phải truyền đơn chống Trung Quốc như bức thư của sinh viên gởi chủ tịch nước.
Họ đã tạo áp lực và yêu cầu những sinh viên có tên trong danh sách ký tên gởi thư cho Chủ tịch nước mỗi người phải viết cam kết là không có viết lá thư gởi cho chủ tịch nước và không có ký tên. Xong rồi nộp lại cho nhà trường, nhà trường sẽ cử đại diện giao lại các bản cam kết đó cho chủ tịch nước.
Thầy giáo chủ nhiệm lớp 10cdtp1 là thầy Trần Quyết Thắng (thangtq@cntp.edu.vn) (hiện đang làm giảng viên bên Khoa CN Thực Phẩm) đã bị cắt điểm thi đua và bị kỷ luật về mặt đảng vì vụ bạn Uyên.
Hiện giờ nhà trường kèm cặp và tạo áp lực với sinh viên, xung quanh các hàng quán đều có công an thường phục theo dõi động tĩnh từ phía sinh viên.
Đại diện lớp 10CDTP1
 
 ___________________________________
Những bài viết, thông tin về Nguyễn Phương Uyên:

Thư khẩn của 144 nhân sỹ trí thức kính gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

Vì Độc lập, vì Tự do…

– Vụ bắt SV Nguyễn Phương Uyên: CA vi phạm BLTTHS ra sao?
Khi trời tối đen ta mới thấy các vì sao
 « Đất nước không chiến tranh, sao đau thắt trong lòng »

Sự khác biệt của thông tin lề Dân và lề đảng qua một bản tin
Phương Uyên con gái Sông Phan
– Yousafzai và Phương Uyên: “Bút và Thép”

Thư khẩn của 144 nhân sỹ trí thức kính gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Ngày 30 tháng 10 năm 2012 
Kính gửi: Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang
Tiếp theo thư của các cháu sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh gửi Chủ tịch Nước ngày 20.10. 2012 và nhằm hậu thuẫn cho đề nghị chính đáng của sinh viên, chúng tôi, những người ký tên dưới đây, trân trọng kính gửi đến Chủ tịch Nước những ý kiến và kiến nghị sau đây. Vừa qua, theo dõi thông tin trên mạng, chúng tôi hết sức bức xúc về tin nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên, trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm, bị công an bắt. Công an chỉ mới thừa nhận bắt giữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên dù trước đó họ phủ nhận. Bạn học của Phương Uyên cho biết khi tràn vào phòng trọ bắt cô hôm 14/10, công an chỉ nói lý do là “để điều tra về các truyền đơn chống Trung Quốc” mà không hề có bất kỳ một lệnh bắt hay một văn bản nào. Sau 10 ngày kể từ khi sinh viên này bị bắt, gia đình Phương Uyên mới chính thức nhận được thông báo của công an tỉnh Long An về việc bắt giữ người để điều tra về hành vi “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo điều 88”. 
Hầu hết bạn bè đều nói rằng, Phương Uyên, Ủy viên Ban Chấp hành Chi đoàn Thanh niên Lớp 10CDTP1 của trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh là “một người bạn tốt, hiền ngoan và học giỏi, rất năng động trong những hoạt động của trường lớp, hòa đồng với bạn bè…” Mẹ của Phương Uyên thì cho biết đã được công an thông báo lý do bắt giữ cô là vì tội “tuyên truyền chống Nhà nước.” Bà nói: “Theo lời thuật lại của cháu Phương ở chung phòng với nó nói là Uyên bị bắt vì làm bốn câu thơ chốngTrung Quốc. Nói vậy chứ không biết rõ ràng, nhưng thực chất cháu Uyên ghét Trung Quốc thì khi tôi lên công an phường Tây Thạnh thì tôi mới biết. Người ta kể lại là cháu Uyên trả lời mấy chú công an là nó rất ghét Trung Quốc. Nếu như cháu Uyên ghét Trung Quốc thì tôi nghĩ nó không sai trái gì hết.” 
Những bạn cùng lớp của Nguyễn Phương Uyên tại trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh đã viết một đơn cầu cứu khẩn cấp gửi Chủ tịch Nước để xin can thiệp giúp cho Nguyễn Phương Uyên sớm trở về với gia đình, với trường lớp và thầy cô. Bức thư viết: “Về việc làm của bạn Nguyễn Phương Uyên xét cho cùng tất cả đều xuất phát từ tinh thần yêu nước của tuổi trẻ. Đã là tuổi trẻ thì luôn thể hiện tinh thần và thái độ của mình một cách trong sáng dù đôi khi bồng bột, luôn muốn thử sức mình và đôi khi phải chịu đựng sự vấp ngã trong cuộc sống. Tuy nhiên, dù với cách thức thể hiện như thế nào, chúng cháu luôn luôn tin rằng tận trong thâm tâm của bạn Nguyễn Phương Uyên vẫn mang tinh thần giống như những gì mà bác đã gửi đến chúng cháu nhân ngày Quốc Khánh 2 tháng 9: “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt về những yếu kém, khuyết điểm của mình đã cản trở bước đi lên của dân tộc. Hổ thẹn không phải để bạc nhược, mất ý chí mà để vươn lên gấp hai, gấp ba, để tiếp tục đi tới với tư thế vững vàng, khí phách hiên ngang vốn là truyền thống dân tộc, góp phần làm cho đất nước ta phát triển và trường tồn mãi mãi.” 
Trong chúng tôi cũng có những người đã từng đứng trên bục giảng và hiểu được tâm trạng của tuổi trẻ. Có những người từng là tù Côn Đảo trước 1975, vốn từng trải qua tâm trạng của tuổi thanh niên bị kẻ thù giam cầm khủng bố khi tham gia cách mạng, có người bị chính quyền của chế độ cũ bắt không cho gia đình biết theo kiểu cách như công an ta vừa bắt cô sinh viên 20 tuổi Phương Uyên cũng trạc tuổi chúng tôi dạo ấy, nhằm lung lạc tinh thần tuổi trẻ và gây hoang mang cho gia đình. Tâm trạng của chúng tôi khi ấy là chỉ thầm mong sao cha mẹ mình biết tin, chứ bản thân mình vốn đã xác định “dấn thân vô là phải chịu tù đày, là gươm kề tận cổ, súng kề tai, là thân sống chỉ coi còn một nửa”, vì vậy “Dù ai ngon ngọt nuông chiều, cũng không nói yêu thành ghét. Dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu” như những dòng thơ mà chúng tôi đã thuộc nằm lòng từng giục giã tuổi trẻ có lương tri, biết sống cuộc sống có ý nghĩa, không chỉ “hiền ngoan” để trở thành phường “giá áo túi cơm”, khuất phục trước cường quyền, áp bức và bất công.
Trên bục giảng cũng như trong cuộc sống gia đình và trên đường phố, đường làng, chúng tôi từng dạy dỗ con cháu mình phải sống có hoài bão cao đẹp, biết rèn luyện phẩm chất và trí tuệ để trở thành người hữu ích cho xã hội. Chừng nào Biển Đông còn dập dồn những con sóng xâm lược của các thế lực hiếu chiến trong giới cầm quyền Bắc Kinh thì tuổi trẻ Việt Nam phải nung nấu và tỏ rõ tinh thần yêu nước, khí phách quật cường của Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Lê Lợi, Nguyễn Huệ từng viết nên những trang sử vàng của dân tộc, từng khắc trên cánh tay hai chữ Sát Thát, đánh tan tác quân xâm lược “ra đến biển chưa thôi trống ngực, về đến Tàu còn đổ mồ hôi” như Nguyễn Trãi từng viết trong “Bình Ngô Đại cáo”! Phải thường xuyên nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết căm ghét, phỉ nhổ những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống do “úy tử tham sinh”, muốn “ngôi cao, lộc lớn” đã hèn nhát cúi đầu theo giặc, treo một tấm gương nhơ bẩn trong lịch sử, muôn đời bị nhân dân nguyền rủa.
Chính vì thế, khi cháu Phương Uyên vì lòng yêu nước, ghét kẻ thù xâm lược, không chịu “hiền lành, ngoan ngoãn” như bản tính vốn có của cháu, mà dám dấn thân vào chuyện “mạo hiểm”, thì những người làm cha chú như chúng ta, trong đó có Chủ tịch Nước, cần phải ứng xử như thế nào với cháu, người cùng trang lứa với Võ Thị Sáu, Quách Thị Trang trước đây? Phải chăng cháu Phương Uyên đã thực hiện mơ ước mà nhiều người trong số chúng tôi, khi đứng trên bục giảng, đã từng giải thích cho sinh viên “Nếu tôi không cháy lên, Nếu anh không cháy lên, Nếu chúng ta không cháy lên, Thì làm sao / Bóng tối / Có thể trở thành / Ánh sáng?”. 
Hành động của Phương Uyên biểu tỏ khí phách của tuổi trẻ, cho dù có bị quy kết thế nào, thì trước hết cũng phải thấy rằng cô đã biểu thị một phẩm chất đáng quý, có tác dụng cổ vũ, động viên thanh niên biết sống vì mục đích cao đẹp, yêu nước chống xâm lược, sao lại bắt giam và hành hạ cháu? Cũng như vậy, với những thanh niên yêu nước khác đang bị bắt giam và kết án rất nặng, và mới đây thôi, người viết các bài hát nói lên nỗi phẫn nộ trước việc Trung Quốc gây hấn tại Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông đã bị quy tội là chống nhà nước để xử tù người nhạc sĩ yêu nước Việt Khang, thì như vậy có phải là đã làm xấu gương mặt của đất nước trước thế giới không?
Chẳng phải Chủ tịch Nước, trong các cuộc tiếp xúc cử tri vừa rồi cũng đã nói đến những bức xúc của dân về vấn đề Biển Đông và nhấn mạnh rằng “chủ quyền đất nước là thiêng liêng, chúng tôi không bao giờ lơi lỏng vấn đề này”, đó sao? Khi cháu Phương Uyên cũng như nhiều thanh niên cùng trang lứa với cháu thực hiện ý nguyện đó bằng hành vi cụ thể của mình chứ không bằng những lời nói suông, thì chúng ta phải động viên, khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho họ hành động, nếu cần thì đối thoại với họ chứ sao lại dung dưỡng cho sự trấn áp thô bạo nhằm khủng bố và triệt tiêu những tư tưởng và hành vi yêu nước của tuổi trẻ?
Chẳng lẽ bao nhiêu xương máu của nhiều thế hệ Việt Nam đổ ra để rồi đất nước sẽ lại phải chứng kiến những sự kiện Quách Thị Trang, Trần Văn Ơn mới với những hành vi trấn áp bạo tàn mới theo kiểu phát xít hóa đời sống xã hội?
Kính thưa Chủ tịch Nước,
Bức xúc trước thời cuộc, trong chúng tôi đã có những người ký tên vào Thư Ngỏ ngày 6.8.2012, trong đó đã nói rõ: “Nhân dân đang đòi hỏi khẩn trương xây dựng luật bảo đảm thực hiện quyền biểu tình của công dân đã ghi trong Hiến pháp. Chúng tôi cho rằng chính quyền nước ta cùng với ý thức làm chủ của nhân dân ta hoàn toàn có đủ khả năng bảo đảm các cuộc biểu tình phản đối hành động xâm lược, bành trướng của Trung Quốc diễn ra ôn hòa, trật tự, đúng mục đích. Điều có thể làm ngay để biểu thị quyết tâm cải cách chính trị hợp lòng dân là chấm dứt các hành động trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước; trả tự do cho những người bị giam giữ vì bất đồng chính kiến, chỉ công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình mà đã và đang bị kết án hình sự”. Cũng trên tinh thần đó, một số trong chúng tôi đã ký vào Đề nghị ngày 27.7.2012 của 42 nhân sĩ trí thức gửi đến Thường trực Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Thường trực Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị có chủ trương tổ chức biểu tình để biểu thị tình cảm, ý chí của người dân thành phố trước hành động gây hấn mưu toan độc chiếm Biển Đông của thế lực hiếu chiến trong giới cầm quyền Bắc Kinh. Thế nhưng, cho đến nay, ngoài việc một vị Phó Chủ tịch UBNDTPHCM tiếp ba trong số 42 nhân sĩ, trí thức ký tên vào văn bản đề nghị nói trên với những lời giải thích loanh quanh không cho thấy một hướng giải quyết nào, thì hiện chưa có thêm bất cứ hồi âm cụ thể nào.
Chúng tôi nhắc lại ý kiến này nhằm biểu tỏ ý chí của chúng tôi trước họa xâm lược, đòi hỏi cần phải có hành động mạnh mẽ để nhà cầm quyền Trung Quốc hiểu rằng, bất cứ mưu ma chước quỷ quen thuộc hay nham hiểm mới mẻ nào cũng không thể lừa bịp được nhân dân Việt Nam, trong đó có giới trí thức và tuổi trẻ Việt Nam. Chúng tôi biểu tỏ quyết tâm sát cánh với tuổi trẻ yêu nước với bản lĩnh kiên cường không nao núng trước cường quyền và bạo lực của con cháu chúng ta, mà cháu Phương Uyên là một ví dụ, nhằm động viên cổ vũ họ rèn luyện và phấn đấu để xứng đáng với cha anh đã kiên cường, quật khởi trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Chính vì thế, chúng tôi nhắc lại một lần nữa những điều đã nêu trong các Thư ngỏ ngày 6.8.2012 và Đề nghị ngày 27.7.2012: “chấm dứt các hành động trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước”, đặc biệt là chấm dứt hành động đàn áp, khủng bố những thanh niên yêu nước đã dám dấn thân vào các hành động cứu nước một cách cụ thể, trong sáng và mạnh mẽ. 
Trước mắt, chúng tôi đề nghị Chủ tịch Nước đòi cơ quan có trách nhiệm phải công khai giải thích về việc bắt giam cháu Nguyễn Phương Uyên một cách tùy tiện, trái pháp luật. Cũng đã từng có những vụ bắt bớ không theo đúng quy định của pháp luật mà vụ này là thô bạo và trắng trợn nhất, gây phẫn nộ trong công luận trên cả nước và thế giới. Vì vậy, chúng tôi đề nghị Chủ tịch có chỉ thị cụ thể cho việc xử lý có tình, có lý đối với hành vi yêu nước của một cô gái 20 tuổi đã dám biểu tỏ bằng hành động cụ thể tinh thần dân tộc và lòng căm thù quân xâm lược cho dù hành động đó có bị quy kết vào bất cứ tội trạng nào.
Thực hiện điều đó chính là một biểu hiện cụ thể khiến cho bất cứ người dân nào, đặc biệt là đối với con cháu chúng ta đang ngồi trên ghế nhà trường đều hiểu được rằng: đoàn kết, hòa hợp dân tộc, đặt Tổ quốc lên trên hết là đòi hỏi sống còn của đất nước ta trong bối cảnh mới của thế giới với những biến động khó lường trong khi họa ngoại xâm lại đang rình rập đất nước ta từng phút, từng giờ.
Vì những lý do đã trình bày ở trên, chúng tôi đề nghị Chủ tịch Nước, với trọng trách của mình, chỉ thị cho các cơ quan có trách nhiệm trả tự do ngay cho cháu Nguyễn Phương Uyên để cháu nhanh chóng trở lại nhà trường, tiếp tục nhiệm vụ học tập như mong muốn của các bạn cháu trong thư gửi Chủ tịch Nước để cháu “tiếp tục đi tới với tư thế vững vàng, khí phách hiên ngang vốn là truyền thống dân tộc, góp phần làm cho đất nước ta phát triển và trường tồn mãi mãi” mà Chủ tịch đã phát biểu.
Chúng tôi cũng đề nghị Chủ tịch xem xét, rà soát lại những bản án đã xử rất nặng những người yêu nước biểu tỏ sự bất đồng chính kiến bằng tư tưởng mà không có hành vi bạo động nào nguy hại đến lợi ích quốc gia như người ta đã quy kết. Những bản án đó chính là sự phá hoại uy tín của Nhà nước, bôi xấu hình ảnh của Việt Nam trước thế giới hơn bất cứ hành động phá hoại nào mà công an đang ra sức truy lùng và đàn áp.
Chúng tôi nghĩ, bạo lực và trấn áp không thể nào là phương thuốc chữa trị những yếu kém của tình hình đất nước hiện nay thay vì thực hiện một cách trung thực lời dạy của Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa của thế giới, nhà chính trị lỗi lạc bậc nhất của nước ta: “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. 
Càng quay cuồng với bạo lực và trấn áp càng bộc lộ tính phi nhân nghĩa và không thể nào an dân khi mà lòng dân đang hết sức bất an trước họa xâm lăng, trước bầy sâu tham nhũng đang nhung nhúc đục khoét cơ thể đất nước, khi một “bộ phận không nhỏ những người cầm quyền đang thoái hóa biến chất” chưa bị xử lý để lấy lại lòng tin của dân. Đã đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật và nói lên sự thật đau xót đó để có những quyết sách an dân khi lòng dân đang phẫn nộ, đặc biệt là thế hệ trẻ, chứ không thể bằng biện pháp “phát xít hóa” đã từng là giải pháp bế tắc mà lịch sử đã cho thấy đó là cách giải khát bằng thuốc độc!
Kính gửi đến Chủ tịch lời chào trân trọng và kính chúc Chủ tịch dồi dào sức khỏe để tiếp tục những điều mà Chủ tịch đã bộc bạch và hứa hẹn với cử tri trong những cuộc tiếp xúc vừa qua.
Sao kính gửi: 
Văn phòng Thủ tướng Chính phủ
Văn phòng Chủ tịch Quốc hội
Văn phòng Trung ương Đảng

Những sản phẩm bẩn thỉu của những bộ óc khốn cùng

8 Août

Những sản phẩm bẩn thỉu của những bộ óc khốn cùng

Khi một đất nước đưa đội quân của mình vào vùng lãnh thổ nước khác mà không được mời, không được sự thỏa thuận thì đương nhiên đó là hành động xâm lược. Tổ quốc đang bị xâm lược, điều đó đã rõ ràng, bọn bá quyền Trung Cộng đã ngang nhiên điều động quân lực, công cụ đến chiếm đóng lãnh thổ đất nước chúng ta.

Cái gọi là Thành phố Tam Sa do Trung Cộng lập nên trên lãnh thổ Việt Nam.

Khi Tổ quốc bị xâm lăng

Tàu Trung Cộng ngang nhiên đánh cá trên vùng biển Việt Nam

Thế nhưng, trên nhiều phương diện, đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam đã tỏ rõ sự khúm núm và ươn hèn trước bọn giặc xâm lược, điều đó không phải chỉ trên bình diện quốc tế mà ngay cả những người dân trong nước đều thấu rõ. Chính vì vậy mà người dân đã thấy trách nhiệm của mình trước sự tồn vong của lãnh thổ, của non sông. Nhiều hoạt động khác nhau biểu lộ tinh thần yêu nước của nhân dân đã tự phát dâng cao làm cho nhà cầm quyền Hà Nội lâm vào thế buộc phải cởi bỏ cái mặt nạ làm lộ ra bộ mặt thật của mình.

Biểu tình yêu nước và chống biểu tình yêu nước tại Bờ Hồ sáng 5.8.2012

Sáng 5/8/2012, dù nhà cầm quyền Hà Nội đã dùng nhiều lực lượng, nhiều món võ bẩn thỉu khác nhau để ngăn chặn người dân tập trung thể hiện lòng yêu nước của mình. Nhưng lòng yêu nước của nhân dân thì có gì có thể ngăn cản được, những người yêu nước vẫn cùng nhau tập trung lên tiếng vì Tổ Quốc. Bất chấp những lòng dân sôi sục, bất chấp mọi ánh mắt căm hờn, ba đợt bắt bớ đàn áp liên tục diễn ra đối với đoàn biểu tình ngay trong sáng 5/8/2012 nhưng tinh thần yêu nước của nhân dân vẫn trào lên như sóng bất chấp hiểm nguy, bất chấp mọi khó khăn.

Họ đã hành động vì điều gì?

Trưa 5/8/2012, Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội (PT-THHN) – được coi là cơ quan của Đảng bộ cộng sản và chính quyền Hà Nội – cô phát thanh viên với vẻ rất nghiêm trọng và hớn hở đưa bản tin như sau: “quần chúng nhân dân và lực lượng an ninh đã phát hiện và bắt quả tang một số đối tượng đang phát trả tiền công cho những người tham gia biểu tình” và còn “sẽ phản ánh rõ nét” chi tiết việc “biểu tình ăn tiền này” trong bản tin thời sự buổi chiều cùng ngày vào lúc 18h30″.

Thế nhưng, kể cả buổi truyền hình lúc 18h30 và cả những buổi sau đó, Đài PT-THHN cũng đã không đưa ra được bất cứ một chứng cứ nào? Đánh giá thế nào về sự lừa đảo nhân dân này?

Tuyên truyền bịa đặt, sản phẩm của những bộ óc bệnh hoạn và dối trá

Những người có kinh nghiệm với những cơ quan tuyên truyền của Hà Nội như Hà Nội mới, Đài PT-THHN, báo An ninh Thủ đô… hẳn không thấy lạ gì với những màn biểu diễn đê tiện, kệch cỡm và thô bỉ kiểu này. Nhiều tấn trò khác nhau đã được sử dụng còn bẩn thỉu hơn, độc địa hơn mà họ đã dùng, nhiều người đã chứng kiến sự thật mà họ còn làm được, thì ba cái màn vu cáo kiểu này hẳn không có gì đáng phải lạ.

Người ta còn nhớ rõ, trong vụ Tòa Khâm sứ, Thái Hà, từ việc giả dạng giáo dân để đưa đến nhà thờ phỏng vấn bị vạch mặt, đến vụ bố trí cởi áo bộ đội giả dạng giáo dân trả lời truyền hình… Rồi những màn truyền thông lấy râu ông cụ cắm cằm ông sư, chuyện dùng hình kiểu này giải thích minh họa kiểu khác nhằm bôi nhọ, đả kích nhân dân làm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc thì mấy tờ báo này thuộc hạng thượng thừa.

Không chỉ có họ dựng chuyện qua vài chi tiết, dựng những người đã chết cách cả… 6 năm để phỏng vấn mà thậm chí còn có cả những bài báo giả danh giáo dân để nói về những việc liên quan đến giáo hội, nhưng thủ đoạn này đã bị vạch mặt.

Cứ tưởng rằng với một bộ phận giáo dân nhỏ bé, hiền lành thì đám truyền thông bịp bợm này mới thò ngón nghề này ra, nào ngờ với cả những người dân yêu nước, với vận mệnh dân tộc họ cũng chẳng từ. Mà việc đó không chỉ một mà là nhiều lần. Nhiều người nói rằng, sự bịa đặt dối trá hiển nhiên như vậy, tại sao vẫn cứ để xảy ra? Trả lời câu hỏi này không khó, chỉ cần biết rằng đó là đặc trưng của nền báo chí định hướng XHCN là có thể giải thích mọi điều.  Với nền báo chí đó, thì mọi chuyện luật lệ, khiếu kiện, tố cáo v.vv. đều là chuyện đùa của trẻ con. Giáo dân Thái Hà đã có thừa kinh nghiệm khi vấp phải ván bài cùn của các cơ quan này.  Ngay cả với những người biểu tình yêu nước, chống Trung Cộng xâm lược, đây cũng không phải là lần đầu tiên.

Tuy nhiên, đằng sau việc bêu riếu, bôi nhọ và bịa đặt về những người yêu nước trước dư luận là gì?

Chỉ cần một logic suy luận đơn giản như sau: Trước họa xâm lăng, những công dân Việt Nam thể hiện lòng yêu nước bằng hình thức biểu tình chống Trung Cộng xâm lược. Những kẻ chống lại người yêu nước là ai? Họ đang đứng về phía nào trong cuộc chiến xâm lược và chống xâm lược? Mục đích của việc kết án người yêu nước là gì, họ đang làm việc cho tổ chức nào? Có phải vì Tổ Quốc Việt Nam đang lâm nguy?

Học tập và làm theo…  được gì?

Mấy năm nay, đảng CSVN và nhà nước VN tập trung hô hào và tổ chức rầm rộ cái gọi là “Học tập và làm theo Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”. Một cuộc vận động hết sức tốn kém và hình thức. Vậy họ đã học tập được những gì qua đó?

Chưa cần đi sâu, nói đến Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng biết rằng đó là tư tưởng Cộng sản mà thế giới đã nói đến quá nhiều. Cũng chưa cần nói đến cái đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm những mục nào như với gia đình ông bà bố mẹ thì đạo đức ra sao, cần học tập điều gì ở đạo đức Hồ Chí Minh khi đối xử với vợ con v.v… Chỉ cần kiểm tra lại mấycâu nói được cho là của Hồ Chí Minh cũng đã thấy rằng nhà cầm quyền Hà Nội đã không thuộc bài, ngược lại những cuộc vận động học tập và làm theo kia hình như không có tác dụng lắm. Chẳng hạn:

Khi Tổ Quốc bị xâm lăng, công dân biểu thị lòng yêu nước của mình đã bị công an truy bức rằng “Ai xúi giục”? Đặc biệt Truyền hình Hà Nội, báo HNM… nhằm thóa mạ tinh thần yêu nước của nhân dân đều nằng nặc cho rằng các cuộc biểu tình đó đều do các thế lực xấu kích động và lợi dụng. Có lẽ những công an, cán bộ công quyền đã không thuộc câu nói của Hồ Chí Minh tại Đền Hùng là: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Nếu cho rằng có ai xúi giục lòng yêu nước, đi biểu tình chống Trung Quốc, thì câu nói này là câu trả lời cho hệ thống công an, chính quyền HN. Đây đích thị là những sự kích động lòng yêu nước của nhân dân chứ cần tìm đâu cho mệt.

Thậm chí, khi những người biểu tình hô vang Đả đảo Trung Quốc xâm lược thì bị bắt? Vậy câu nói “Hễ còn một tên xâm lược nào trên đất nước chúng ta, thì ta còn phải chiến đấu, quét sạch nó đi” của Hồ Chí Minh có còn ý nghĩa?

Nhận tiền biểu tình yêu nước và nhận tiền đàn áp biểu tình yêu nước. Ai có tội?

Một con bài khá quen thuộc trong hệ thống báo chí nhà nước VN là dùng vấn đề tiền bạc, kinh tế để bôi xấu những ai họ cần bôi xấu. Cách thường là tung tin rằng những đối tượng nọ, đối tượng kia đã nhận tiền bạc của nước ngoài để làm những việc như họ muốn kết tội. Trong cuộc biểu tình yêu nước ngày 5/8/2012, Đài PT-THHN cũng đã dùng đến con bài bẩn này. Đài PT-THHN lớn tiếng tuyên bố rằng: “quần chúng nhân dân và lực lượng an ninh đã phát hiện và bắt quả tang một số đối tượng đang phát trả tiền công cho những người tham gia biểu tình”.

Tiếc rằng đó chỉ là những lời nói làm trò cười cho thiên hạ mà không có một bằng chứng nào dù đã trịnh trọng hứa trước nhân dân. Thật đểu khi chuyện đó lại xảy ra ở một Đài truyền hình Thủ đô.

Chuyện này cũng tương tự khi nhà cầm quyền Hà Nội cướp đất của Giáo xứ Thái Hà phân lô chia chác. Khi bị giáo dân ngăn cản đòi lại, thì giở bài cù nhầy bạo lực. Cũng những cuộc đọc kinh cầu nguyện của giáo dân buộc nhà cầm quyền phải biến thành vườn hoa, liền bị tuyên truyền rằng “đi cầu nguyện được phát tiền”. (Sic).

Rõ ràng, những điều bịa đặt từ các cơ quan tuyên truyền nói trên là không thiếu. Chỉ có điều, nhiều khi tôi cứ nghĩ về phương diện cá nhân, những người đã làm công việc bẩn thỉu đổi trắng thay đen đó có bao giờ họ nghĩ về hậu quả của những việc làm hôm nay? Điều băn khoăn này tôi đã có lần viết trong “Thư gửi một nữ phóng viên Truyền hình“.

Nhưng, nếu như có chuyện nhận tiền bạc thì sao? Họ sẽ có tội gì?

Rõ ràng, kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay, nhà nước này gắn liền với chuyện nhận tiền bạc của nước ngoài chứ không ai khác. Kể từ thời Chống Pháp rồi đánh miền Nam, đến khi đánh Trung Cộng và kể cả những khi đánh dân, vũ khí, đạn dược, tiền bạc đều có liên quan đến nước ngoài. Sự liên quan đó đến mức mà chính Hồ Chí Minh – lại cũng là Hồ Chí Minh – đã tự hào rằng: “Nhân dân dũng cảm và cần kiệm, các nước anh em giúp đỡ nhiều”.

Thế rồi sau những năm hệ thống cộng sản sụp đổ mà không biết nương tựa vào đâu, nhà cầm quyền HN đã hướng đến những ông chủ nợ mới. Rồi cứ thế, hàng năm, hàng tháng các khoản tiền nước ngoài cứ chảy vào Việt Nam để gánh nợ lên đầu nhân dân ngày càng chất cao như núi và quan chức thì cứ tham nhũng như rươi. Thậm chí những ai kêu gọi nhận được nhiều tiền nước ngoài còn được tung hô và vinh danh. Còn khi bọn “nước ngoài” cắt viện trợ đối với Việt Nam, thì báo chí la oai oái. Đó là chưa nói đến khoản kiều hối hàng năm gửi vào Việt Nam là một con số khổng lồ mà Thông tấn xã VN còn cho rằng đó là những “mùa vàng bội thu”, nếu thiếu nó, chắc không tránh khỏi những khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam.

Không chỉ là phương diện nhà nước, về phương diện cá nhân, đã có thời có tin đồn rằng Thủ tướng đã nhận 150 triệu đola trong vụ đưa Trung Cộng vào khai thác Boxit Tây Nguyên. Tuy nhiên, sau đó cơ quan nhà nước đã thông báo bác bỏ tin đó. Vậy còn bao vụ cũng tin đồn khác nhưng không thấy cơ quan nhà nước ra thông báo bác bỏ thì sao? Chẳng hạn tin đồn về vụ một cựu Tổng Bí thư nhận 1 triệu đôla của Tập đoàn LG Hàn Quốc, sau đó không thấy thông tin nào cải chính mà người ta chỉ thấy ông Đỗ Mười đã tặng một ngôi trường trị giá 9 tỷ đồng tại Hà Nội.

Vậy nhưng chưa có điều luật nào cấm nhận tiền hoặc nhận tiền từ nước ngoài. Vậy nhận tiền hoặc nhận tiền nước ngoài có tội gì? Tại sao Truyền hình HN cố tình bịa đặt chi tiết đó để bôi xấu người yêu nước.

Đã từ lâu, ở Việt Nam cả hệ thống tuyên truyền đã hùa nhau gây nên một cảm giác cứ nước mình là vĩ đại, là tốt còn nước ngoài thì chỉ có xấu trở lên. Nếu nước ngoài có tốt, thì chỉ là “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ” – (Việt Phương) – mà thôi. Vì thế việc có quan hệ với nước ngoài là một trọng tội không cần kết án. Như trên đã nói, đó là hậu quả của truyền thông tuyên truyền méo mó theo kiểu “người ghét nhưng của thì ưa” ở Việt Nam đến nay.

Nhưng, trong một nhà nước pháp quyền, điều đó không thể cứ lập lờ đánh lận con đen nhằm bưng bít sự thật và lừa bịp dư luận.

Sự thật là gì? Người ta chưa thấy việc có người đi biểu tình yêu nước cũng như đi cầu nguyện được phát tiền, nhưng rõ ràng là cả hệ thống công an, an ninh, dân phòng, thanh niên xung kích và kể cả đám “xã hội đen” đóng vai quần chúng tự phát đến phá rối, bắt bớ, thậm chí cả hệ thống báo chí, truyền hình Hà Nội… đều đã nhận tiền từ túi tiền của nhân dân để chống phá những người yêu nước.

Ngược lại, nếu có ai dùng tiền bạc của mình để nhân rộng lòng yêu nước, thì đó là những việc làm phải được hoan nghênh.

Những đồng tiền từ túi tiền của nhân dân đóng thuế, chắc chắn chỉ để xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ Quốc, nhất định không phải dùng để trấn áp những người yêu nước. Hành động đó là phản bội lại chính nhân dân và đất nước này.

Những kẻ phụ họa cho hành động đó, không khác gì hơn là những kẻ đã bán đứng linh hồn mình cho bọn giặc xâm lược.

Những hành động đó không đánh lừa được ai, ngược lại chỉ thể hiện sự khốn cùng của trí tuệ những kẻ bịp bợm mà thôi.

Hà Nội, ngày 8/8/2012

J.B Nguyễn Hữu Vinh

42 công dân đề nghị tổ chức cuộc biểu tình tuần hành phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc

31 Juil

31/07/2012

42 công dân đề nghị tổ chức cuộc biểu tình tuần hành phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 7 năm 2012
Kính gửi: Thường trực Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh
Thường trực Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
(v/v: Đề nghị tổ chức cuộc biểu tình tuần hành phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục có những hành động gây hấn, mưu toan xâm chiếm vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông)

Sau khi Luật Biển được Quốc hội Việt Nam thông qua với đa số áp đảo, nhà cầm quyền Trung Quốc đã hằn học dùng các phương tiện truyền thông chính thức của Đảng và Nhà nước Trung Quốc công kích, đe dọa Việt Nam, thành lập và xây dựng chính quyền cái gọi là “Thành phố Tam Sa” (Tam Sa thị) gồm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, cho gọi thầu công khai những lô dầu nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, dùng các đội hải giám, ngư chính mà thực chất là các tàu vũ trang tiếp tục bách hại, cướp bóc ngư dân Việt Nam. Ngày 12-07-2012 Trung Quốc lại mở cuộc ra quân rầm rộ gồm 29 tàu đánh cá hiện đại cùng với tàu hậu cần và chế biến hải sản hàng ngàn tấn vào gần đảo đá chữ thập trong quần đảo Trường sa thuộc chủ quyền của Việt Nam cùng với lời dọa dẫm dùng vũ lực khi gặp cản trở.Những khiêu khích chưa dừng lại, họ tuyên bố thành lập khu quân bị Tam Sa và đưa quân đến đồn trú trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và chuẩn bị diễn tập bắn đạn thật tại Biển Đông Những hành động thô bạo trên đây đã đe dọa nghiêm trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam mà cha ông chúng ta qua nhiều thế hệ đã đổ biết bao xương máu để bảo vệ cho đến ngày nay.Tại hội nghị các ngoại trưởng của khối ASEAN ở Phnom Penh, thông qua nước chủ nhà Campuchia, Trung Quốc, kẻ đứng sau bọn diệt chủng Pol Pot – Ieng Sary thảm sát mấy triệu dân Campuchia, đã phá hoại sự thống nhất của khối ASEAN làm cho Hội nghị không công bố được tuyên bố chung trong đó có điều khoản nói về vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, điều chưa từng xảy ra từ khi khối ASEAN được thành lập đến nay. Điều đó càng chứng minh ý đồ độc chiếm Biển Đông, phá hoại sức mạnh đoàn kết giữa ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, bao vây Việt Nam và không loại trừ khả năng nhà cầm quyền Trung Quốc tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta, tự lột trần 16 chữ vàng và 4 tốt giả dối mà từ trước tới nay họ vẫn rêu rao.
Đứng trước tình hình cấp bách và nguy hiểm nói trên, chúng tôi, những công dân yêu nước và những người đã từng tham gia phong trào đấu tranh thống nhất đất nước trước 1975; từng giữ những cương vị trong bộ máy Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể quần chúng sau 1975, ký tên dưới đây đề nghị:
1/ Thành ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần có chủ trương để cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, các đoàn thể thành viên trong đó có Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Sinh viên Thành phố, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh và các tổ chức chính trị xã hội khác đứng ra tổ chức một cuộc biểu tình tuần hành để nói lên ý chí của nhân dân thành phố chống âm mưu bành trướng, xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc mà gần đây nhất là những hành động gây hấn khiêu khích như đã nói ở trên
2/ Trong trường hợp Thành ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vì lý do gì không có chủ trương nói trên thì chúng tôi, những công dân của thành phố, thực hiện quyền biểu tình đã được ghi trong Hiến pháp, tự đứng ra tổ chức một cuộc biểu tình tuần hành, thể hiện quyết tâm của nhân dân thành phố, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.
Chúng tôi sẽ thông báo ngày giờ và địa điểm tổ chức cuộc biểu tình tuần hành nói trên. Để cuộc biểu tình có kết quả tốt đẹp chúng tôi kiến nghị bố trí lực lượng chức năng giữ gìn trật tự an ninh, giúp chúng tôi phát hiện những kẻ quá khích có những hành động đi ngược lại mục tiêu chống hành động bành trướng, xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc mặt khác tránh việc bắt bớ, đàn áp những người yêu nước như trong cuộc biểu tình ngày 01-07-2012 vừa qua. Rất mong nhận được phúc đáp sớm nhất.
Trân trọng,
Đồng ký tên,
1/ Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tp Hồ Chí Minh
clip_image002
2/ Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin Sáng
clip_image004
3/ Linh mục Huỳnh Công Minh
clip_image006
4/ Hồ Ngọc Cứ, Luật gia, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên phó chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Dân chủ và Pháp luật của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
clip_image008
5/ Tương Lai, Giáo sư, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
clip_image010
6 /Huỳnh Tấn Mẫm, Bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975.
clip_image012
7/Trần Hữu Tá, Phó Giáo sư – Tiến sĩ, nguyên Chủ nhiệm khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
clip_image014
8/ Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Giám đốc Tổng công ty Du lịch Thành phố (Saigontourist).
clip_image016
9/ Trần Văn Long, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Giám đốc Tổng công ty Du lịch Thành phố (Saigontourist).
Hiện đang ở nước ngoài, đã đồng ý ký tên.
10/ Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Đại biểu Hội đồng Nhân dân Thành phố khóa 4, 5.
clip_image018
11/ Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng thuộc Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
clip_image020
12/ Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Thành phố).
clip_image022
13/ Võ Thị Bạch Tuyết, nguyên Giám đốc Sở Lao động, Thương binh, Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh.
clip_image024
14/ Linh mục Thiện Cẩm, Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Tư vấn Tôn giáo, Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh.
clip_image026
15/ Hồ Hiếu, nguyên cán bộ phong trào đấu tranh của nhân dân, sinh viên học sinh tranh thủ dân chủ TP Đà Lạt, nguyên Chánh văn phòng Quận ủy Quận 1, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, cựu tù chính trị Côn Đảo
clip_image028
16/ Ngô Văn Phương, nguyên Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 6, nguyên Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố khóa 5
clip_image030
17/ Phạm Đình Trọng, nhà văn.
clip_image032
18/ Nguyễn Hoàng Trúc, nguyên Tổng thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Nhà Bè
clip_image034
19/ Hạ Đình Nguyên, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, cựu tù chính trị Côn Đảo.
clip_image036
20/ Trần Văn Mỹ, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên giảng viên Đại học Sài Gòn
clip_image038
21/ Nguyễn Xuân Lập, nguyên Phó Chủ tịch Hội Y Dược Việt Nam, Trưởng đoàn sinh viên Phật tử Sài Gòn (trước 1975)
clip_image040
22/ Nguyễn Huy Diễm, Bác sĩ, nguyên Chủ tịch Ban Đại diện Sinh viên Y khoa năm 1971-1972, cựu tù chính trị Côn Đảo
clip_image042
23/ Hà Thúc Huy, Tiến sĩ, giảng viên Đại học Khoa học Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh
clip_image044
24/ Phan Thị Hoàng 0anh, Tiến sĩ, Giảng viên Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
clip_image046
25/ Dương Hồng Lam, nguyên Tổng giám đốc Vinabico, nguyên cán bộ Ban Tuyên huấn Trung Ương cục Miền Nam
clip_image048
26/ Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới – Saigontourist.
clip_image050
27/ Lê Thân, nguyên cán bộ phong trào đấu tranh của nhân dân, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ Thành phố Đà Lạt; cựu tù chính trị Côn Đảo clip_image052
28/ Nguyễn Phú Yên, nhạc sĩ
clip_image054
29/ Bùi Tiến An, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên cán bộ Ban Dân vận Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Chủ tịch Lực lượng Phụng sự Lao động (trước 1975)
clip_image056
30/ Đỗ Hữu Bút, nguyên cán bộ Thành đoàn
clip_image058
31/ Trương Hồng Liên, nguyên cán bộ Thành đoàn
clip_image060
32/ Đỗ Trung Quân, nhà thơ, nhà báo; nguyên thành viên lực lượng Thanh niên Xung phong Thành phố Hồ Chí Minh.
clip_image062
33/ Tuấn Khanh, nhạc sĩ
clip_image064
34/ Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo
clip_image066
35/ Nguyễn Quốc Thái, nhà báo
clip_image068
36/ Nguyễn Viện, nhà văn
clip_image070
37/ Nguyễn Hòa, nhà báo tự do
clip_image072
38/ Trần Hữu Kham, cựu tù chính trị Côn Đảo, thương binh
clip_image074
39/ Trần Hữu Khánh, cựu biên tập viên Nhà xuất bản Trẻ
clip_image076
40/ Bùi Chát, nhà thơ, hoạt động xuất bản độc lập
clip_image078
41/ Nguyễn Đắc Diên, Bác sĩ
clip_image080
42/ Tô Lê Sơn, Kỹ sư Kinh tế
clip_image082
clip_image084
clip_image086
clip_image088
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 01:35

Khối 8406 tuyên bố về hiện tình Việt Nam 30/07/2012

30 Juil

Khối 8406 tuyên bố về hiện tình Việt Nam

Khối 8406 
 
Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 
 
 
 
Tuyên bố về hiện tình đất nước: 
 
Tổ quốc lâm nguy! 
Kính gửi: 
– Toàn thể đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.
– Các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền và cộng đồng thế giới tiến bộ.
Tổ Quốc Việt Nam đang lâm nguy vì dã tâm xâm lược của Nhà cầm quyền Trung Quốc và vì thái độ “hèn với giặc, ác với dân” của Nhà cầm quyền Việt Nam! Điều đó thấy rõ qua vô số sự kiện dồn dập gần đây liên can tới quan hệ Trung-Việt.
Hiện tình quan hệ Việt Nam – Trung Quốc:
Ngày 21-06-2012, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật biển Việt Nam khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền nước Việt. Cùng ngày, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị tuyên bố: “Đây là một hoạt động lập pháp bình thường nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của Việt Nam, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới”. Việc này đã kéo theo một chuỗi phản ứng như sau:
1) Hành động xâm lược của phía Trung Quốc: 
+ Ngay trong ngày 21-06-2012, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn quyết định thành lập cái gọi là “Thành phố Tam Sa”, với phạm vi quản lý bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Cùng ngày, tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Trương Chí Quân đã triệu tập đại sứ Việt Nam, ông Nguyễn Văn Thơ, yêu cầu phía Việt Nam phải “chỉnh sửa ngay lập tức Luật Biển mới thông qua vì đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Trung Quốc. Nó hoàn toàn vô giá trị, không có hiệu lực. Hành động đơn phương của Việt Nam làm leo thang và phức tạp thêm tình hình, vi phạm sự đồng thuận đạt được giữa lãnh đạo hai nước cũng như tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC.”
+ Ngày 23-06-2012, Tổng công ty Dầu khí Hải Dương – Trung Quốc (CNOOC) ngang nhiên thông báo mời thầu quốc tế, với 9 lô dầu khí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Nơi gần nhất chỉ cách đảo Phú Quý của Việt Nam khoảng 13 hải lý và cách bờ biển Việt Nam khoảng 60 hải lý.
+ Ngày 12-07-2012, Trung Quốc đưa một đội tầu 30 chiếc, gồm một tầu hậu cần 3000 tấn và 29 tầu đánh cá tiến vào khu vực đảo đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa. (Mặc dầu trước đó, họ đã ngang ngược ra lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông từ ngày 16-05-2012 đến ngày 01-08-2012, lấy lý do “bảo vệ hệ sinh thái và tài nguyên biển”). Đài truyền hình trung ương Trung Quốc CCTV tuyên bố: “Đây là một cách thể hiện chủ quyền ở Nam Sa”. Cùng lúc, báo Quân Giải Phóng Trung Quốc cho biết: “Sẽ thay thế 6 nhân sự cấp cao trong quân khu tỉnh Hải Nam để ứng phó với tình hình căng thẳng ở biển Nam Hải”. 
+ Ngày 20-07-2012 một tàu đổ bộ của Trung Quốc mang tên Ngọc Đình (072-II) số 934, được trang bị ba khẩu pháo và một bãi đáp trực thăng, dùng để chở binh lính và hàng hóa, đã xuất hiện tại bãi đá Su Bi, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Từ lâu nay, những loại tầu quân sự chính thức hay trá hình của Trung Quốc như thế đã thường xuyên bắt giữ ngư thuyền, tịch thu ngư cụ, cướp đoạt ngư phẩm và đánh đập ngư dân Việt Nam (thậm chí còn bắt giam họ để đòi tiền chuộc) mà hải quân Việt Nam chẳng bao giờ ra tay bảo vệ!
+ Ngày 21-07-2012, tờ China Daily đưa tin : “Ủy ban Quân sự trung ương Trung Quốc đã ủy quyền cho Bộ chỉ huy quân khu Quảng Châu thành lập đơn vị đồn trú ở “thành phố Tam Sa”. Đơn vị này tương đương cấp phân khu, có nhiệm vụ quản lý các hoạt động quốc phòng, quân bị và thực hiện các hoạt động quân sự tại “thành phố Tam Sa”. Tư lệnh quân đồn trú chịu sự quản lý song song của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hải Nam, cũng như của giới chức hành chính của “thành phố Tam Sa”.
+ Ngoài ra, trên mặt trận ngoại giao: Trung Quốc luôn né tránh vấn đề Biển Đông ở tất cả các diễn đàn an ninh khu vực và quốc tế. Họ cho rằng: tranh chấp trên Biển Đông chỉ nên giải quyết trực tiếp giữa các nước hữu quan (theo kiểu song phương, thay vì đa phương như các nước đòi hỏi). Tại Hội nghị ngoại trưởng khối ASEAN kết thúc ngày 13-7-2012 vừa qua ở Phnom Penh, Trung Quốc đã chi phối được nước chủ nhà Campuchia không đưa vấn đề tranh chấp ở Biển Đông giữa Việt Nam, Philippin với Trung Quốc vào Tuyên bố chung, khiến lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm của khối ASEAN, Tuyên bố chung không đưa ra được, làm cho Khối mất uy tín nặng nề.
+ Trên mặt trận tuyên truyền: tờ Hoàn Cầu Thời Báo, phụ bản của tờ Nhân Dân Nhật Báo – Cơ quan ngôn luận của Đảng CSTQ- liên tục có những thông tin bịa đặt, luận điệu vu cáo nhằm kích động tâm lý hiếu chiến, chống đối Việt Nam trong công chúng Trung Quốc và cộng đồng người Hoa khắp thế giới. Cụ thể trong số ra ngày 03-07-2012: “Phía Việt Nam đã chiếm đảo, ăn cắp dầu mỏ; ngư dân Trung Quốc đánh cá trong vùng biển của Trung Quốc bị pháo hạm của Việt Nam truy đuổi, phun vòi rồng, bắt thuyền, đánh người, cướp cá…”. Sự kiện Hoàng Sa năm 1974 bị đổi trắng thay đen thành: “Chính quyền Sài Gòn đã huy động quân đội xâm phạm nhóm đảo Vĩnh Lạc trong quần đảo Tây Sa, đánh chiếm các đảo Cam Tuyền và Kim Ngân của Trung Quốc. Đáp lại, quân và dân Trung Quốc đã vùng lên đánh trả, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ”. Cuối cùng tờ báo hăm dọa: “Hiện nay Trung Quốc có tiền, có súng, có thị trường và tình hình tất sẽ phát triển theo hướng khó tránh khỏi xung đột… Nếu bọn khỉ (chỉ Việt Nam) chấp nhận thì phải từ bỏ tranh giành. Nếu họ dám phá thì ngoài việc thu hồi những đảo họ đã cưỡng chiếm, ta còn thu hồi cả những mỏ dầu mà họ đã khoan trước đây.” 
2) Thái độ “hèn với giặc, ác với dân” của Nhà cầm quyền Việt Nam: 
Trước những hành động ngày càng ngang ngược, biểu lộ dã tâm xâm lược Việt Nam của phía TQ, phản ứng của Nhà cầm quyền Hà Nội rất nhu nhược và gây phẫn nộ trong nhân dân:
+ Họ chỉ ra lệnh cho Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (một doanh nghiệp đơn thuần) họp báo, rồi Hội Luật gia, Hội Nghề cá Việt Nam ra tuyên bố, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) ra thông báo… gọi là để phản đối quân xâm lược. Theo một bản tin ngắn của TTXVN thì: “Ngày 24-6-2012, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp (thay vì triệu tập) đại diện Sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để trao công hàm phản đối về việc chào thầu trên” nhưng lại không nói rõ đại diện của cả 2 phía là những người nào.
+ Họ đàn áp nhiều người Việt Nam yêu nước xuống đường ngày 01-07 để phản đối các hành động leo thang xâm lược mới của phía Trung Quốc. Đến ngày 13-07, Chủ tịch UBND Tp. Hà Nội lại phát biểu trong kỳ họp bế mạc của Hội đồng nhân dân: “Về an ninh trật tự, đặc biệt lưu ý tình trạng tập trung đông người kéo về Hà Nội khiếu kiện có tổ chức, theo chỉ đạo của đối tượng xấu. Lợi dụng tình hình trên, các thế lực thù địch và số cơ hội chính trị đã kích động người dân, nhất là số người đi khiếu kiện ở các địa phương biểu tình để gây áp lực với chính quyền phải giải quyết những khiếu nại, yêu sách”. Sau cuộc biểu tình ngày 22-07 mà rất nhiều nơi bị ngăn chận, báo Nhân Dân (24-07) lại cho rằng những ai xuống đường chống TQ đã “bị lạm dụng, bị khống chế và lôi kéo vào một số bè phái… luôn nhân danh lòng yêu nước nhưng thực chất là toan tính ích kỷ, háo danh, hoang tưởng… Hành động biểu tình này đã gây tổn hại đến sức mạnh và lợi ích quốc gia”.
+ Ngày 10-7-2012, tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội hữu nghị ViệtTrung nhiệm kỳ 5 (2012-2017), ông Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ tướng Việt Nam phát biểu: “Hội hữu nghị Việt Trung sẽ tổ chức các hoạt động tri ân các cá nhân, tổ chức và địa phương Trung Quốc xuyên suốt trong 5 năm, sau Đại hội này”. Những sự kiện gần đây trên Biển Đông không hề được ông lẫn các quan chức cấp cao hơn ông lên tiếng. Đại hội trái lại chỉ thống nhất nhận định: “Vấn đề nổi cộm nhất trong quan hệ giữa hai nước là sự “mất cân bằng lớn trong cán cân thương mại”! 
+ Những phản ứng trên là hoàn toàn “nhất quán” với Tuyên bố chung Việt-Trung ngày 15-10-2011 tại Bắc Kinh, do Tổng Bí thư ĐCS Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng đồng đưa ra: “Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục.” Ngoài ra, tuy Quốc hội đã ra Luật Biển, nhưng phải đợi tới đầu năm 2013, Luật mới được Đảng CS thông qua và Chính phủ CS phê chuẩn. Phải chăng Luật sẽ còn sửa đổi để phù hợp với phương châm và tinh thần nói trên?
+ Giới lãnh đạo quân sự cao cấp của Việt Nam cũng hoàn toàn im hơi lặng tiếng sau những sự kiện trên. Có chăng chỉ là ở cấp quân khu, tỉnh đội. Điều này phản ảnh thái độ của Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh vốn đã dõng dạc tuyên bố trong Hội nghị đối thoại chiến lược quốc phòng an ninh ViệtTrung lần thứ 2 ngày 28-8-2011 tại Bắc Kinh: “Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc vì chính lợi ích của chúng tôi… Nhưng nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng, với hơn 1 tỉ 350 triệu dân, đang phát triển, có vị thế và uy tín ngày càng cao trên thế giới”. Điều đó cũng phản ảnh thái độ của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh vốn tuyên bố trong Hội nghị lần 6 của các bộ trưởng quốc phòng Khối ASEAN ngày 29-05-2012 tại thủ đô Campuchia: Chủ trương của Việt Nam là giữ quan hệ hợp tác-giao lưu về quốc phòng và quân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc: “Lãnh đạo Quân đội hai nước gặp nhau trao đổi thẳng thắn, chân tình và thống nhất quân đội hai nước phải kiềm chế không để xảy ra xung đột quân sự trên biển”. Ông cũng kêu gọi chính phủ hai bên chú ý quản lý các phương tiện truyền thông, « không để các cơ quan báo chí đăng tải những bài viết có tính chất kích động, chia rẽ quan hệ hai nước, làm phức tạp thêm tình hình ».
3) Phản ứng yêu nước của nhân dân Việt Nam: 
Trước nguy cơ mất nước cận kề, trái ngược hẳn thái độ “hèn với giặc, ác với dân” của Nhà cầm quyền, một bộ phận ưu tú của Dân tộc đã quyết đứng lên:
+ Nhiều cán bộ lão thành, nhiều trí thức, văn nghệ sỹ, nhà báo và những người đấu tranh dân chủ đã tỉnh táo chỉ rõ tình thế cực kỳ nguy hiểm của dân Việt hôm nay là: ngoài biển Đông thì Trung Quốc liên tục gây hấn; trong đất liền thì Trung Quốc liên tục xâm nhập: thuê các cánh rừng đầu nguồn, khai thác bauxite ở Tây Nguyên, lập bè nuôi cá trên vịnh Cam Ranh và Vũng Rô (những vị trí xung yếu về an ninh và quốc phòng), xây thôn làng phố thị tại Lào Cai, Bình Dương…, thắng thầu khắp mọi nơi từ Lạng Sơn tới mũi Cà Mau, dựng nhà máy không giấy phép ở Quảng Ninh, khai trương trang mạng xã hội Baidu hòng kiểm soát và khống chế internet trên đất Việt, mở phòng mạch khám chữa bậy tại Hà Nội lẫn Sài Gòn, xúi nông dân nhiều nơi nuôi đỉa trâu, làm chè bẩn… Tất cả xảy ra trước sự bất lực hay bao che của toàn bộ “hệ thống chính trị” Việt Nam! Đó là chưa kể Trung Quốc đang thao túng nền chính trị, tài chánh, văn hóa của đất nước; xâm nhập vào cả lực lượng công an, quân đội.
+ Tại những thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn vào các ngày chủ nhật, (01, 08, 22 tháng 07-2012 đã có hàng ngàn người xuống đường phản đối những hành động xâm lược mới của Trung Quốc. Đặc biệt có ông André Menras (Hồ Cương Quyết), một người Việt gốc Pháp từng làm bộ phim “Hoàng Sa–Nỗi Đau Mất Mát” cũng đã cùng đồng bào biểu tình chống Trung Quốc tại Sài Gòn ngày 1-7-2012 với tấm biểu ngữ: “Thế giới căm ghét bọn ăn cướp! Không có một “chữ vàng”, không có một “cái tốt” với kẻ ăn cướp! Hãy tôn trọng luật pháp quốc tế! Hãy tôn trọng dân tộc Việt Nam! Biển Đông không phải là cái ao nhà của các ngươi! Hãy quay về Hải Nam của các ngươi! Cút đi!”. Thế nhưng nhiều người trong số công dân yêu nước ấy đã bị Nhà cầm quyền Việt Nam ra tay đàn áp bằng nhiều cách: hoặc hăm dọa, ngăn chận, hoặc đánh đập, bắt giam… Và tất cả họ đều bị Nhà cầm quyền lùa hết vào cái rọ “lũ phản động”, coi như “những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội chính trị bị các thế lực thù địch bên ngoài mua chuộc, lôi kéo, chi phối, giật dây”“luôn nhân danh lòng yêu nước nhưng thực chất là toan tính ích kỷ, háo danh, hoang tưởng”, “có âm mưu lật đổ nhà nước nhân dân”!?!
4) Phản ứng phê phán của cộng đồng thế giới: 
+ Tại Philippin, ngày 04-07-2012, Bộ Ngoại giao Philippin đã triệu tập Đại sứ Trung Quốc là Mã Khắc Khanh để phản đối việc nước này thành lập “Thành phố Tam Sa” và tuyên bố: “Philippin sẽ không đàm phán song phương với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông”. Đồng thời, Tổng thống Philippin, ông Benigno Aquino, đã gặp toàn bộ nội các vào ngày 05-07-2012 để bàn về việc tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc.
+ Tại Campuchia, ngày 12-07-2012, Ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton khẳng định:“Tuy Mỹ không tuyên bố chủ quyền hay biên giới ở biển Đông, nhưng có những lợi ích cơ bản về kinh tế, thương mại và quyền tự do đi lại ở đây. Chúng ta tin rằng các quốc gia trong khu vực cần làm việc trên tinh thần ngoại giao và hợp tác để giải quyết các tranh chấp; không được áp bức, khủng bố tinh thần, đe dọa và tuyệt đối không sử dụng vũ lực. Tiếp cận giải pháp theo hướng song phương chỉ gây rối loạn và đối đầu”. 
+ Tại Australia, ngày 17-07-2012, tờ Sydney Morning Herald bình luận: “Thái độ hung hăng của Trung Quốc trên biển Đông đang khiến những ai từng nghi ngờ âm mưu của Trung Quốc thì nay đã hết cả nghi ngờ. 22 vụ đụng độ trên Biển Đông trong ba năm qua chủ yếu là do tàu của Trung Quốc gây ra ở những khu vực của Philippines và Việt Nam là bằng chứng rõ ràng hơn bao giờ hết. Những động thái mới nhất của Trung Quốc cho thấy nước này không hề có tư tưởng hòa giải nào trong đầu. Bắc Kinh chỉ cho thấy họ đang sẵn sàng châm dầu vào lửa!”.
+ Tại Nga, ngày 20-07-2012, các vị tướng lĩnh quân sự nước này tuyên bố: “Nếu Trung quốc cố tình hành động xâm phạm chủ quyền biển của Việt Nam được quốc tế công nhận thì sẽ vấp phải sự lên án không chỉ của Mỹ và Nga mà còn cả thế giới nữa.” 
+ v.v…
Trước tình hình trên, Khối 8406 chúng tôi tuyên bố: 
1) Dã tâm xâm lược Việt Nam của mọi triều đại Trung Quốc từ thời phong kiến xưa đến thời cộng sản nay không hề thay đổi! Dã tâm ấy hiện càng mở rộng, khiến Trung Quốc ngày càng trở thành hiểm họa lớn lao nhất của cả thế giới. Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ mơ hồ, mất cảnh giác về điều này cũng như chưa bao giờ sợ hãi! Trong điều kiện thuận lợi của thế giới văn minh và liên lập hôm nay, một dân tộc dù nhỏ bé nhưng nếu có một chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân thì dân tộc ấy hoàn toàn có thể bảo vệ được Tổ quốc họ, với sự ủng hộ và trợ giúp của cộng đồng quốc tế.
2) Những hành động ngày càng leo thang xâm lược Việt Nam của Nhà cầm quyền Trung Quốc trước hết là do bản chất xấu xa của họ. Nhưng nguy cơ dẫn đến mất nước chính là sự hèn nhát bạc nhược và tiếp tay đồng lõa của những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống trong Ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam trước kia và hiện thời, những kẻ chưa bao giờ thực sự đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên tất cả! Đang khi đó thì Nhà cầm quyền Hà Nội vẫn cứ lải nhải “16 chữ vàng”, “tinh thần 4 tốt”, vẫn cứ huênh hoang“tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục”, vẫn cứ phủ dụ: “Việc đấu tranh với Trung Quốc hãy để Đảng và Nhà nước lo” hòng tiếp tục lừa bịp nhân dân!
3) Trong những ngày qua đã có nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc nổ ra, tiếp nối phong trào biểu tình năm ngoái. Chúng tôi hết sức hoan nghênh thái độ yêu nước này của Đồng bào. Nhưng thâm tâm ai cũng thấy phương thức hữu hiệu nhất để chống lại nổi quân xâm lược chính là tinh thần và thể chế dân chủ. Bởi lẽ thủ phạm chủ yếu làm trì trệ việc phát triển đất nước và làm suy yếu việc bảo vệ Tổ quốc chính là đường lối sai lầm (chính sách độc tài toàn trị) của tất cả các Bộ Chính trị ĐCSVN từ khi thành lập đến nay. Đứng trên lập trường dân tộc, chúng tôi kêu gọi Đồng bào tiếp tục đấu tranh bất bạo động, kể cả xuống đường, đòi dân chủ hóa chế độ, để nhân dân có đời sống tốt đẹp hơn, đất nước có chính danh cùng sức mạnh hơn hầu chống TQ xâm lược.
4) Giới trí thức dân sự và chức sắc tôn giáo xin hãy thể hiện tinh thần sĩ phu yêu nước, đoàn kết chặt chẽ, đứng ra lãnh đạo toàn dân, điều hướng sức mạnh của mọi lực lượng quần chúng chống lại ngoại thù xâm lăng và nội thù đồng lõa. Lực lượng công an quân đội -sinh ra từ nhân dân và nuôi sống bởi nhân dân- chớ để mình hay tự biến mình thành kẻ thù của nhân dân bằng cách đàn áp những tấm lòng yêu nước theo lệnh các lãnh đạo CS. Bằng không anh em sẽ đắc tội trước lịch sử và sẽ trực tiếp hứng chịu sự trừng phạt của nhân dân khi những kẻ sai khiến anh em bỏ chạy ra nước ngoài.
5) Đồng bào Việt Nam trên khắp thế giới xin hãy liên tục và đồng loạt biểu tình chống hành vi xâm lăng ngang ngược của Trung Quốc và chống thái độ “hèn với giặc, ác với dân” của nhà cầm quyền CSVN tại các tòa đại sứ, tòa lãnh sự của cả hai nước. Cộng đồng thế giới dân chủ xin hãy ủng hộ mạnh mẽ hơn nữa cuộc đấu tranh nhằm dân chủ hóa đất nước của người Việt Nam, áp lực với nhà cầm quyền CSVN trả tự do cho tất cả những công dân yêu nước đang bị bỏ tù, bắt bớ, quản chế, bao vây, theo dõi; xin hãy đưa những đòi hỏi về nhân quyền khi bang giao với Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa, thương mại, quân sự…
Làm tại Việt Nam và hải ngoại, ngày 28 tháng 7 năm 2012. 
 
Ban điều hành lâm thời Khối 8406: 
 
1- Linh mục Phan Văn Lợi – Huế – Việt Nam. 
 
2- Kỹ sư Đỗ Nam Hải – Sài Gòn – Việt Nam. 
 
3- Giáo sư Nguyễn Chính Kết – Houston – Hoa Kỳ. 
 
4- Bà Lư Thị Thu Duyên – Boston – Hoa Kỳ. 
 
Trong sự hiệp thông với Linh mục Nguyễn Văn Lý, cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù cộng sản.

Ngày 22/7 – Toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước xuống đường bảo vệ quê hương

21 Juil

Ngày 22/7 – Toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước xuống đường bảo vệ quê hương

David Thiên Ngọc (Danlambao) Không còn chần chừ hay nghi ngại gì nữa. Giặc ngoại xâm Bắc phương đã ngang nhiên xâm lấn cõi bờ đất nước, biển đảo quê hương VN ta. Ta phản đối một thì chúng lấn lướt hai, ba.

Khi Quốc Hội VN thông qua luật biển ngày 21/6/2012 thì ngay ngày hôm đó chính quyền CS TQ thành lập cái gọi là TP. Tam Sa bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN, có các cơ quan hành chính, quân sự hẳn hoi. Tiếp đến mời quốc tế đấu thầu 9 lô dầu khí hoàn toàn nằm trên vùng đặc quyề kinh tế của VN. Rồi tiếp theo là một tàu cảnh sát biển VN đi tuần tra trên lãnh hải của mình lại bị bốn tàu chiến TQ truy đuổi và xua đi.
Ngang ngược và hung hăng hơn là TQ điều 30 tàu cá dàn làm hai biên đội xuất phát từ Hải Nam trực chỉ Trường Sa của VN được tàu ngư chính yểm trợ cho 30 tàu cá « hoạt động » là một điều mà chúng ta không thể nhường nhịn hơn được nữa.
Trong một diễn biến khác, nguy hiểm hơn là tàu đổ bộ của TQ đã vào neo đậu ở bãi đá SuBi thuộc quần đảo Trường Sa của VN. Tàu này mang vũ khí hạng nặng và có cả bãi đáp cho máy bay trực thăng. Thật nghịch lý và một điều khó hiểu là sự kiện này về phía chủ nhà VN không hề hay biết, hay đã biết nhưng câm nín vì đây là tàu của thiên triều? Ngược lại bên phát hiện lại là máy bay do thám của Philippines chuyên theo dõi tàu bè TQ trong khu vực Biển Đông và những nơi thuộc lãnh hải của Phi. Tên và số hiệu cùng lớp tàu đổ bộ trên phía Phi đều nắm rõ. Trong lúc máy bay thám sát và các lực lượng tuần dương của hải quân VN thì co cụm hay trốn tiệt tự nơi nào?
Tình thế nguy biến đã gần kề. Chẳng lẽ chúng ta cứ mãi đợi đến khi nào súng nổ, nhân dân ta ngã gục, máu đổ đầu rơi, xác thân chôn vùi nơi biên giới, lòng biển như những năm 1974, 1979, 1988 rồi mới hành động sao?
Chống giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi không đợi chờ trông cậy vào ai cả mà là nhiệm vụ thiêng liêng của mỗi con người chúng ta. Không thuộc quyền của một ai, chính thể nào, đảng phái nào… nhất là một khi đảng phái đó, chính thể đó ươn hèn với giặc.
Chính quyền làm ngơ trước vận nước, vô cảm trước sự sống còn của dân tộc, xem nhẹ non sông gấm vóc, nhân nhượng trước sự hung hăng của giặc xâm lấn cõi bờ, cương thổ, núi rừng, biển đảo… là tội đồ của dân tộc, là mãi quốc cầu vinh.
Đất nước Việt Nam tổ tiên Hồng Lạc xây dựng 4.000 năm. Máu xương nhuộm hồng từng tấc đất. Gần 90 triệu nhân dân VN không thể nào để mất đi cho dù một phần nhỏ thịt da.
Hỡi đồng bào, hỡi 90 triệu nhân dân VN hãy đồng lòng đứng lên ngăn giặc. Không phải đợi đến lúc chúng xua quân chà đạp trên mồ mả cha ông. Mà ngay bây giờ từ Bắc chí Nam, mọi thành phố trên mọi miền đất nước toàn dân một lòng xuống đường hô vang khẩu hiệu « Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh ».
Bắt đầu từ ngày chủ nhật 22/7 và kế tiếp mỗi ngày không đợi đến ngày chủ nhật tiếp theo toàn thể công nhân lao động ở các công trường nhà máy, cơ sở sản xuất, nông dân, nhân viên văn phòng công sở, các tổ chức cơ sở tôn giáo nhà thờ, chùa, thánh thất, các nơi thờ phượng… cho đến sinh viên học sinh tất cả các trường cấp II, III, cao đẳng, dạy nghề, đại học, văn nghệ sĩ trí thức, các sĩ phu mọi tầng lớp… chợ búa tiểu thương, trung tâm thương mại, siêu thị, bến xe nhà ga… cùng nhau đình công bãi thị hoàn toàn xuống đường bảo vệ quê hương cứu nguy cho tổ quốc.
Mỗi một ngày ta còn làm việc là ta còn giúp cho cỗ máy ươn hèn, mục nát làm hại nhân dân vận hành. Mỗi ngày còn cộng tác làm việc là ta tự rút ngắn quãng đời còn lại của ta và con cháu.
Đất nước còn, còn tất cả. Đất nước mất, mất tất cả.
Đất nước mất rồi, nhân dân nô lệ há ta có còn làm chủ được bản thân, gia đình của ta để mà mưu cầu hạnh phúc?
Nghỉ một ngày hay năm bảy ngày… thậm chí cả tháng không hoạt động làm việc bán mua, học hành, tu niệm… thì cũng chưa phải là điều đáng kể. Tất cả chung lòng đấu tranh, chung lo cho tiền đồ đất nước, sống còn của dân tộc. Bờ cõi vỗ yên, xã hội an lành, tự do dân chủ… bấy giờ ta xây dựng trên dưới trong ngoài có phải hơn không?
Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi! Bắt đầu từ ngày 22/7 và kế tiếp mãi mãi đến khi nào đất nước nở hoa sạch bóng quân thù.
Từ Bắc chí Nam khắp mọi miền đất nước. Các thành phố lớn như SÀI GÒN, NHA TRANG, QUI NHƠN, ĐÀ NẴNG, HUẾ, VINH, HÀ NỘI, HẢI PHÒNG… Hãy đồng lòng xuống đường cùng nhau cứu nước.
Ở Hải ngoại tất cả người Việt cũng cùng ngày này và kế tiếp cùng nhau xuống đường, toạ kháng trước các Đại Sứ Quán, Lãnh Sự Quán TQ ở tất cả các nước, thành phố sở tại trên toàn thế giới đấu tranh ngăn chặn, cắt đứt mộng xâm lăng, bá quyền của TQ tại Biển Đông. Xoá tan lưỡi bò 9 đoạn, hàng hải lưu thông, ngư dân hoạt động hành nghề tự do, bình đẳng, công bằng để xứng danh là biển Thái Bình.
Ngày 21/7/2012 

Vài lời với lãnh đạo công an Sài Gòn trước lời kêu gọi tổng biểu tình ngày 22/7/2012

Nguyễn Chí Đức – Đối với một người có lý trí tối thiểu, lòng tự trọng khiêm tốn, bất kì ai dù có hâm mộ cuồng nhiệt Hồ Chí Minh cỡ nào cũng nên đồng ý với tôi rằng: tên tuổi cụ Hồ không nên và không thể được đặt cho bất kì một tỉnh lỵ nào trên lãnh thổ Việt Nam…

 
Nếu Việt Nam mất biển, mất đảo thì chính công an, quân đội CSVN sẽ tự rệu rã, làm loạn xã hội dẫn đến đảo chính chứ không phải nhân dân, không phải là các Hội-Đoàn-Đảng không được ĐCSVN và Hiến Pháp nước CHXHCNVN thừa nhận. Gần đây những thuật ngữ như “diễn biến hòa bình“, “thế lực thù địch” chỉ là tuyên truyền láo, nhằm dọa ma những người yếu bóng vía mà thôi…
*
Nhân lời kêu gọi Tổng biểu tình trên toàn quốc của blog danoan2012, trong đó có đoạn:
“Chúng tôi, những người điều hành trang này kêu gọi đồng bào hãy xuống đường tổng biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược trên toàn quốc! 
 
Thời gian: 9h sáng chủ nhật ngày 22/7/2012 
 
Địa điểm:
– Hà Nội: Trước cửa Nhà Hát Lớn
– Sài Gòn: Công viên 30/4
– Đà Nẵng: hồ phun nước góc đường Quang Trung – Ông Ích Khiêm – Trần Cao Vân
– Huế: vườn tượng quốc tế bên sông Hương
– Vinh: quảng trường Hồ Chí Minh »
Tôi xin chia sẻ một vài suy nghĩ dành cho lãnh đạo công an Sài Gòn nếu như họ cắt cử cấp dưới vào các blog điểm tin, lề dân để nghe ngóng, nắm bắt tình hình:
Thực ra đúng văn bản hình thức thì phải gọi là Công An thành phố Hồ Chí Minh mới phải lẽ. Nhưng quả thật đứng ở góc độ một người yêu nước thuần túy và có lý trí, tôi thấy từ cổ chí kim của dân tộc Việt Nam, chưa từng có một anh hùng dân tộc, một nhà tư tưởng nào được đặt tên cho một thành phố lớn thứ nhì cả nước về mặt chính trị, đứng thứ nhất về kinh tế như cụ Hồ Chí Minh. Thậm chí ngay cả truyền thuyết về vua Hùng Vương (Quốc Tổ) cũng chỉ khiêm tốn được đặt tên đường, tên trường học làng nhàng rải rác khắp nơi mà thôi.
Câu chuyện “cái gì của Xêda hãy trả lại cho Xêda” về địa danh Sài Gòn-Gia Định chỉ là vấn đề thời gian. Đối với một người có lý trí tối thiểu, lòng tự trọng khiêm tốn, bất kì ai dù có hâm mộ cuồng nhiệt Hồ Chí Minh cỡ nào cũng nên đồng ý với tôi rằng: tên tuổi cụ Hồ không nên và không thể được đặt cho bất kì một tỉnh lỵ nào trên lãnh thổ Việt Nam. 
Nhưng tại sao tôi lại lôi cụ Hồ Chí Minh vào chuyện biểu tình yêu nước này?
Bởi vì cụ Hồ đã từng đề cập đến danh từ “đồng bào” trong nhiều bài viết, đã từng gây xúc động với câu nói “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?” trong ngày 2/9/1945 khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập, ra mắt chính phủ lâm thời của nước VNDCCH. Nhưng trong thực tế khái niệm “đồng bào” mà Hồ Chí Minh sử dụng chỉ có mục đích tuyên truyền. Bởi vì sau này những đồng bào nào mà không liên quan hoặc không giúp đỡ cho CS (người quốc gia) sẽ bị riềng tới nơi tới chốn, kể cả những đồng bào theo kháng chiến, ủng hộ Việt Minh cũng bị chia rẽ có hệ thống qua phân loại về giai cấp, tôn giáo, lý lịch nhằm gây mâu thuẫn giữa đồng bào với nhau.
Điều này khác hẳn với quan điểm vận động đoàn kết của chí sĩ Phan Bội Châu cũng thường dùng danh từ “đồng bào” với một sự thành thực qua việc cổ võ đoàn kết 10 hạng người, không phân biệt thành phần xuất thân, tôn giáo thậm chí cả những người Việt đi lính, làm công chức cho thực dân Pháp thì cụ Phan Bội Châu cũng nhắc đến trong các bài viết cổ động yêu nước nhằm thức tỉnh tinh thần dân tộc cho họ.
Sở dĩ tôi phải đề cập 2 vấn đề trên vì tôi được biết và cảm nhận công an Sài Gòn rất cứng rắn và khá thô bỉ ổi đối với những người đi biểu tình yêu nước. Trong khi thành phần những người đi biểu tình này rất đa dạng.
Tôi xin hỏi các Ông lãnh đạo vài câu như sau:
Nước Việt Nam có phải của riêng ĐCSVN không?
 
Dựa vào điều luật nào mà công an Sài Gòn trấn áp rất mạnh tay, vô cớ đối với những người đi biểu tình yêu nước?
 
ĐCSVN xuất xứ những anh tài, hào kiệt trong nhân dân mà ra hay từ trên trời rơi xuống?
 
Nước Việt Nam nếu không có Hồ Chí Minh thì có thoát được họa ngoại xâm hay không?
 
Cách mạng tháng 8/1945, thực tế ĐCSVN cướp chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim (quốc hiệu Đế Quốc Việt Nam) hay ĐCSVN khai sáng ra nền độc lập cho nước Việt Nam mới? 
Mấy câu hỏi về lịch sử này có thể gây xôn xao, làm khó chịu lãnh đạo công an Sài Gòn và một số độc giả bảo thủ là cựu quan chức/tướng lãnh/chiến binh CS, vậy tôi sẽ đề cập vấn đề cụ thể sát sườn hơn.
Nếu nước Việt Nam bị giặc Tàu chiếm trọn quần đảo Trường Sa thì ai sẽ bị thiệt hại nhiều nhất? Xin nhắc lại: thiệt hại nhiều nhất?
Có phải là những ngư dân đánh cá?
Xin thưa: Sai lầm. Thiệt hại nhiều nhất chính là Quân Đội & Công An Cộng Sản Việt Nam.
Nguồn thu to lớn từ dầu khí và những tài nguyên-khoáng sản khác, thuế má của nhân dân lao động chủ yếu để trả lương cho bộ máy chính quyền công kềnh, kém hiệu quả do ĐCSVN lãnh đạo trong đó có Quân đội & Công An. Bộ máy này giúp nước, bảo vệ dân thì ít hiệu quả mà hành dân, ngu dân, hút tiền bạc để tồn tại & chương phình ra thì nhiều.
Tôi cũng xin nói thêm một điều cực kì quan trọng: nếu Việt Nam mất biển, mất đảo thì chính công an, quân đội CSVN sẽ tự rệu rã, làm loạn xã hội dẫn đến đảo chính chứ không phải nhân dân, không phải là các Hội-Đoàn-Đảng không được ĐCSVN và Hiến Pháp nước CHXHCNVN thừa nhận. Gần đây những thuật ngữ như “diễn biến hòa bình“, “thế lực thù địch” chỉ là tuyên truyền láo, nhằm dọa ma những người yếu bóng vía mà thôi. Đó là sự thật! Tôi xin cam kết đó là sự thật!
Thật trớ trêu và cay đắng làm sao cho đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta!
Nhân dân Việt Nam có đi biểu tình cũng xuất phát từ tình cảm dân tộc, từ quyền lợi thuần túy về tinh thần, tâm tưởng vô hình về tài sản của Quốc gia do các tiền nhân khai phá và để lại. Còn lợi ích cụ thể chính là việc trả lương cho các cán bộ, chiến sỹ trong các lực lượng vũ trang, cho lãnh đạo hội họp-du hí-ăn nhậu, cho các kế hoạch ma (tham nhũng) nhằn đàn áp những người muốn cải cách chính trị, tìm cách giảm thiểu bất công trong xã hội…
Nếu lãnh đạo công an Sài Gòn quyết tâm đàn áp, khủng bố những người biểu tình yêu nước thì quả thật rất bất nhân, bất nghĩa và hết sức phản động. Lúc này giặc Tàu đã vào cửa ngõ biển Việt Nam rồi chứ không còn lớn tiếng nạt nộ, khiêu khích như những lần trước đây. Lúc này chúng ta cần đoàn kết thực lòng, yêu thương chân thành, bỏ qua những dị biệt giữa nhóm người này với người kia về mặt chính trị/lịch sử/tôn giáo trước một kẻ thù truyền kiếp đầy dã tâm và nham hiểm.
Tôi không muốn viết dài lê thê thêm nữa, tôi tin rằng lãnh đạo công an Sài Gòn thừa hiểu những gì tôi viết ở trên. Nếu các Ông nhất nhất cho rằng việc đàn áp, khủng bố người đi biểu tình yêu nước là đúng, là cần thiết thì chính các Ông mới là những người có tội với dân tộc Việt Nam. Không bao lâu nữa lịch sử sẽ phát xét chuyện này, cố nhiên những kẻ chịu trách nhiệm sau cùng và rốt ráo chính là những vị trong TW, BCT của ĐCSVN.
Những lúc thế này lãnh đạo công an Sài Gòn nói riêng, toàn quốc nói chung hãy để các cuộc biểu tình yêu nước diễn ra khắp nơi và thật sự đông đảo nhằm chuyển đến thông điệp cho chính quyền Bắc Kinh hiểu rằng ý chí của dân tộc Việt Nam không bao giờ bị khuất phục trước họa ngoại xâm. Không bao giờ!
Chúng ta cùng chờ diễn biến vào sáng chủ nhật ngày 22/7/2012 sẽ diễn ra như thế nào?

Biển động gợn sóng

19 Juil

Thứ năm, ngày 19 tháng bảy năm 2012

Biên tập viên Tân Hoa xã phản đối ‘thành phố Tam Sa’

Biên tập viên Chu Phương của Tân Hoa xã thẳng thắn bày tỏ quan điểm cực lực phản đối chính sách sử dụng vũ lực ở Biển Đông, đòi xóa bỏ cái gọi là “thành phố Tam Sa” của Trung Quốc.
Gần đây, khi tình hình Biển Đông căng thẳng, nhất là sau khi Trung Quốc có những bước đi ngang ngược, bất chấp lẽ phải và sự thật như khẳng định yêu sách về “Đường Lưỡi bò”, lập ra cái gọi là “thành phố Tam Sa”, biên tập viên Chu Phương của Tân Hoa xã đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm cực lực phản đối chính sách sử dụng vũ lực ở Biển Đông, đòi xóa bỏ cái gọi là “thành phố Tam Sa”…
Nhà báo Chu Phương sinh năm 1960, Cử nhân Anh văn (1982), Thạc sỹ Báo chí truyền thông (1989), từ 1989 đến nay là biên tập viên công tác tại Ban biên tập đối ngoại của Tân Hoa xã.
Ông là nhân vật nổi tiếng có quan điểm thẳng thắn trong làng báo Trung Quốc, hồi tháng 3 năm nay, từng gây chấn động dư luận bởi là người viết những bài đầu tiên đăng trên Blog Sina.com phê phán Bạc Hy Lai và “mô hình Trùng Khánh” ngay từ khi nhân vật này còn đang trên đỉnh cao danh vọng và quyền lực.
Ngày 17-7, ông cho đăng bài viết “Hiện trạng Nam Hải (Biển Đông) có lẽ sẽ kéo lùi cải cách chính trị của Trung Quốc”.
Trong đó ông viết: “Ý nghĩa lớn nhất của việc lập ra “thành phố Tam Sa” là chường cho bàn dân thiên hạ thấy nỗi nhục của Trung Quốc; đồng thời cũng sẽ buộc chính phủ và quân đội Trung Quốc phải giở bài ngửa với các quốc gia xung quanh và quốc tế… Chúng ta từ nhỏ đã được nhìn thấy tấm bản đồ Nam Hải (Biển Đông).
Một đường biên giới đứt đoạn rất thô màu hồng đưa toàn bộ Nam Hải vào trong bản đồ Trung Quốc. Cho đến ngày nay chúng ta mới biết sự thực không phải như vậy. Cái đường biên giới quốc gia ấy không những các nước láng giềng và cả quốc tế không công nhận, mà ngay chính phủ và các học giả nước ta (Trung Quốc) cũng không giải thích rõ được”.
Trước đó, ngày 29-6, Chu Phương viết bài: “Thiết lập “thành phố Tam Sa” là trò cười quốc tế, mạnh mẽ yêu cầu hủy bỏ ngay!”. Bài này đã được nhiều diễn đàn mạng đăng lại.
Chu Phương viết: “Nhiều người dân nước ta đến giờ vẫn không hiểu Nga tại sao lại lần đầu tiên tham gia cuộc diễn tập quân sự lớn Thái Bình Dương do Mỹ chủ đạo. Kỳ thực, đó chính là sự phản ứng mạnh mẽ của quốc tế trước hành động thiết lập “thành phố Tam Sa” đi ngược lại luật quốc tế và vô trách nhiệm của Trung Quốc.
Nếu giai tầng lãnh đạo Trung Quốc đến giờ vẫn không đọc hiểu được thứ ngôn ngữ quốc tế chung đó thì sẽ kéo nhân dân Trung Quốc sa vào một cuộc chiến tranh không thể thoát ra.
Việc thiết lập “thành phố Tam Sa” là một trò cười quốc tế điển hình. Chính phủ Trung Quốc cần sớm nhận sõ sai lầm to lớn của mình, sớm có hành động sửa chữa sai sót.
Bản thân tôi mạnh mẽ kêu gọi: hãy lập tức hủy bỏ “thành phố Tam Sa”, triển khai sớm nhất có thể được việc đối thoại mang tính xây dựng với các nước xung quanh Nam Hải (Biển Đông), dốc sức cho việc làm dịu tình hình căng thẳng ở Nam Hải, loại bỏ nguy cơ chiến tranh, đưa Trung Quốc quay trở lại với đại gia đình quốc tế”.
Chu Phương viết: “Trung Quốc đã trải qua kiểu hành động tùy tiện thời “Cách mạng văn hóa”, đã tự mình nếm trải thời kỳ “chính trị thống soái”, cần phải nhận thức được mình là thành viên của đại gia đình quốc tế, cần phải tuân thủ các chuẩn tắc và quy phạm mà cả cộng đồng quốc tế tuân theo.
Trong xử lý công việc quốc tế, nhất là xử lý các vấn đề phức tạp, tồn tại tranh chấp nghiêm trọng giữa các quốc gia, tuyệt đối không được tự mình hành động một mình theo quan niệm giá trị, quan niệm lịch sử và lập trường của mình, chỉ nói điều mình nghĩ; như thế không những không giúp gì cho việc giải quyết tranh chấp quốc tế, mà còn làm tình hình xấu thêm, gia tăng thêm quan hệ căng thẳng giữa Trung Quốc với các nước xung quanh.
Đồng thời cũng làm tổn hại đến hình ảnh và địa vị quốc tế của Trung Quốc, làm suy yếu tiếng nói của Trung Quốc trên trường quốc tế.
Trong vấn đề ngoại giao, trong xử lý công việc quan hệ quốc tế, chúng ta cần phải có thêm nhiều nhà ngoại giao, nhà chiến lược quốc tế và những chính trị gia thực sự có tầm để tham gia vào việc quyết sách; quyết không nghe theo tiếng gào thét của những “cuồng nhân chiến tranh” hay để cho quân sự chỉ huy chính trị. Kinh nghiệm lịch sử của tất cả các quốc gia cho thấy rõ: quân nhân can dự chính trị chỉ đem lại tai họa cho đất nước”.
Về việc chính phủ Trung Quốc vội vàng tuyên bố lập ra cái gọi là “thành phố Tam Sa” bao gồm toàn bộ vùng biển trong “Đường biên giới 9 đoạn” mà họ tự vạch ra một cách vô căn cứ, Chu Phương thẳng thắn bày tỏ quan điểm: “Việc thiết lập “thành phố Tam Sa” là bước đi sai lầm nhất và không sáng suốt nhất của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Nam Hải (Biển Đông), khiến cả quốc tế chê cười những nhà quyết sách Trung Quốc thiếu kiến thức về luật quốc tế muốn thông qua việc thiết lập “thành phố”, ngang nhiên đưa công hải (vùng biển quốc tế) vào lãnh hải của nước mình.
Cách làm sai trái ấy không chỉ tạo ra tiền lệ quốc tế, mà còn trở thành trò cười quốc tế, tất sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh quốc tế của Trung Quốc. Quá trình thiết lập “thành phố Tam Sa” thể hiện sự nóng vội và cẩu thả, rõ ràng là quyết định được đưa ra thiếu luận chứng khoa học và không sáng suốt.
Hành động này không chỉ đi ngược lại luật pháp và tập quán quốc tế, mà cũng trái với những quy định pháp luật của chính Trung Quốc về việc thành lập thành phố, càng đi ngược lại quốc sách và chiến lược phát triển hòa bình phù hợp mà Trung Quốc cần có”.
Việc thiết lập “thành phố Tam Sa” là bước đi sai lầm nhất và không sáng suốt nhất của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Nam Hải (Biển Đông). Cách làm sai trái ấy không chỉ tạo ra tiền lệ quốc tế, mà còn trở thành trò cười quốc tế, tất sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh quốc tế của Trung Quốc
Biên tập viên Tân Hoa XãChu Phương
Ông phân tích: “Hành động sai lầm nguy hiểm vô trách nhiệm của một số người trong việc thiết lập “thành phố Tam Sa” đang đẩy nhân dân Trung Quốc sa vào miệng hố chiến tranh. Nhân dân Trung Quốc cần hòa bình, không cần chiến tranh. Trong việc xử lý vấn đề quốc tế và xử lý vấn đề quan hệ với các nước, Trung Quốc cần phải tỉnh táo, không được cuồng nhiệt. Trung Quốc cần làm một dân tộc có trách nhiệm, đứng thẳng giữa khu rừng các dân tộc thế giới; quyết không thể làm một “cô nhi thế giới” hành động ngang bướng. Trong việc giải quyết công việc quốc tế, Trung Quốc cần phải học cách tuân theo quy tắc trò chơi đã được cả quốc tế công nhận, tránh một mình một kiểu, mình khen mình hay, đừng để trở thành Triều Tiên thứ hai”.
Chu Phương thẳng thắn đề xuất ý kiến cá nhân: “Đối với vấn đề “thành phố Tam Sa”, chính phủ Trung Quốc cần sớm nhận ra sai lầm lớn lao của mình, xin đừng ngại mất thể diện mà bỏ lỡ thời cơ. Trung Quốc cần sớm hành động, sửa chữa sai sót…
Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta thấy, một Trung Quốc cô lập sẽ không có tiền đồ. Việc Nga tham gia cuộc diễn tập quân sự Thái Bình Dương vẫn chưa khiến một số chính khách và quân nhân của ta tỉnh ra.
Trong thế giới ngày nay, sự phát triển của một quốc gia càng cần có sự quan tâm, tham dự và giúp đỡ của cộng đồng quốc tế. Đừng nói gì Trung Quốc đang tự coi mình là “quốc gia đang phát triển”, mà ngay cả Mỹ, “Siêu cường quốc duy nhất thế giới” hiện cũng đang ngày càng biết cách lợi dụng và dựa vào cộng đồng quốc tế để đạt được mục đích của mình”.
Ông kết luận: “Thiết lập “thành phố Tam Sa” là hành động tự cô lập mình của Trung Quốc, là một sai lầm chiến lược to lớn cần phải nhanh chóng sửa chữa!”.
Thu Thủy
Theo Sina.com, Zhoufang.blshe.com

Ngư dân VN bị tàu nước ngoài tấn công

Ngư dân VN
Việc bị tấn công, uy hiếp trong thời gian gần đây khiến đời sống các ngư dân Việt Nam ngày trở nên khốn khó
 Bộ đội biên phòng tỉnh Cà Mau cho hay hai tàu cá của Việt Nam bất ngờ bị một tàu nước ngoài đuổi bắn khiến năm thuyền viên bị trọng thương.

Cả hai tàu cá mang số hiệu CM 95842 TS và CM 91088 TS chứa tổng cộng 11 ngư dân đang hoạt động đánh cá ở khu vực Vịnh Thái Lan tại thời điểm bị tấn công hôm thứ Ba 17/7.

Trả lời phỏng vấn BBC ngày 19/7, ông Lưu Văn Sơn, Chính ủy bộ đội biên phòng tỉnh Cà Mau cho biết: “Ngư dân cho biết tàu nước ngoài xuất hiện, tiến gần và dùng súng bất ngờ tấn công họ”.
“Những viên đạn cắm trên người các nạn nhân là loại đạn ria, sử dụng trong các loại súng dùng để đánh bắt cá.”
Ông Sơn cho hay, cả năm thuyền viên bị thương nặng đang được điều trị tại bệnh viện trên đảo Phú Quốc, Kiên Giang và hiện đã qua cơn nguy kịch.
“Cả năm người hiện đã tỉnh táo và chúng tôi sẽ bắt đầu lấy lời khai để phục vụ công tác điều tra vào ngày 20/7” – ông nói.
Theo ông chính ủy, các ngư dân cho rằng tàu nước ngoài tấn công họ là của Thái Lan.
Bộ đội biên phòng tỉnh Cà Mau hiện đã đưa hai tàu bị nạn về thị trấn Sông Đốc, Khánh Hội, quận U Minh.
Lực lượng này cũng cho hay đang gấp rút tiến hành lấy lời khai cũng như khám xét vật chứng để phục vụ cho công tác điều tra để có thể công bố kết quả sớm nhất lên phía Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau.
Thời gian gần đây, các tàu cá Việt Nam liên tục bị uy hiếp, tấn công bởi các tàu nước ngoài khiến đời sống ngư dân Việt Nam trở nên khốn đốn và việc đánh bắt cá xa bờ càng lúc càng trở nên nguy hiểm.

Hiện Tượng “Con Đường Việt Nam”

12 Juin

Chính Trị không hề là một Đặc Quyền của bất cứ một ai. Mọi con dân trong một xứ sở đều có trách nhiệm tham gia Chính Sự sao cho đất nước khả dĩ đạt được một chế độ cai trị nhẹ nhàng và phù hợp với nhân tính nhất, trong đó Quyền Tự Do Tư Tưởng và Bổn Phận Tôn Trọng Tự Do của kẻ khác phải được đề cao nhất. -LTC-

Trung Quốc sẽ phải sụp đổ. Họ đang lo lắng và họ làm mọi cách hòng ngăn cản lịch sử, đó là việc làm vô ích, vì họ không thể làm được điều đó. Nhưng họ vẫn đang cố duy trì, kìm hãm càng lâu chừng nào có thể” (…) “Họ làm trò cười. Họ không thể làm được điều đó. Nhưng họ đang cố cản trở lịch sử càng lâu càng tốt.”Ngoại Trưởng MỸ Hillary R. Clinton

TỔ QUỐC TRÊN HẾT

Wednesday, June 20, 2012

Hiện Tượng “Con Đường Việt Nam” và Thực Trạng Nham Nhở Của Giới Đối Kháng Việt Nam – Lê Tùng Châu

…Trên đây là một vài nhận định trực tiếp từ hiện tượng Con đường Việt nam này, đọc tới đây hẳn bạn đọc không khỏi tạm kết luận là: ông Long không phải là tác giả thực của Con đường Việt nam.
Tác giả thực là kẻ khác, dấu mặt và có dụng ý gì, tiến trình ra sao, sẽ đi đến đâu…đòi hỏi chúng ta phải thận trọng tỉnh táo chờ thời gian tới với các diễn biến mới sẽ giúp ta nhận rõ sự thực. Không thể chỉ mới ngày một ngày hai mà đã có thể có câu trả lời gì cho Hiện Tượng Con đường Việt nam này.

Lê Tùng Châu

Phân Tích và diễn dịch từ sự kiện

Nếu tạm chấp nhận “Con đường Việt Nam” là do ông Lê Thăng Long viết và phát động, chúng ta hãy đi từ chính sự kiện này, và bằng phương pháp diễn dịch một cách thận trọng, ta sẽ thấy nhiều điều.

Bản Văn

Đọc “Con đường Việt Nam”, tôi thấy văn phong của bản văn này có gì đó chung chung, mơ hồ.
Giả thử chúng ta đang ở trong bối cảnh Việt Nam Hậu Cộng Sản, và cả nước đang trên đường tạo lập tự do dân chủ, mà các thế lực mới đang còn tranh chấp, trong đó đảng CS chưa bị giải tán hoàn toàn, thì bản văn này có vẻ hợp cảnh hợp tình chút ít.
Còn hiện tại, đảng CS vẫn ngồi lù lù án ngữ đó, thì đọc “Con đường Việt Nam” thấy có cái gì lạc lõng, mù mờ, có cái gì cố ý lạc đề, tránh né ở đây! Ngôn phong cũng nhiều chỗ tối nghĩa, kỳ cục, chữ quen nghe và quen dùng là Nhân Quyền thì được né tránh bởi “quyền con người” (theo lối nói “tụ tập đông người” thay vì Biểu Tình rất đuợc Hanoi ưa dùng!!!)

Coi kỹ sẽ thấy trong đó không nêu rõ ai phải đấu tranh với ai, dẹp bỏ cái gì? tạo dựng cái gì? Ai nhũng lạm quyền hành để chiếm đoạt nhân quyền? Ai có tội gây ra bất công (vốn ngày càng dày đặc và đầy dẫy trong đất nước Việt Nam)? Ai phải bị xử? Ai sẽ được minh oan, phục hồi? Ai sẽ được đền bù vì đã chịu quá nhiều bất công bởi bạo quyền CS??? Hoàn toàn không có trong bản văn này.

Một dân oan, hay một nạn nhân của một đất nước vô luật (luật rừng), bất công và giả trá, tham nhũng… mà đọc bản văn này sẽ chẳng thích, chẳng có gì hấp dẫn họ vì nó né tránh và nhạt nhẽo trước thực trạng bi đát quá trầm trọng của xã hội hiện tại.

Cơ cấu thể chế, pháp lý và sự vận hành “con đường” ấy ra sao? Nên nhớ, khi bước vào lĩnh vực chính trị điều hành 1 quốc gia thì lập trường trong hiểu biết tối thiểu của 1 trí thức như ông Long đã phải có sẵn trong đầu là Việt Nam không còn cộng sản (thì mới có nhân quyền, dân quyền!) sẽ theo Thể Chế gì?

Bản văn na ná một bài Giáo Khoa nhạt nhẽo nặng vẻ Lý Thuyết cho sinh viên quốc gia hành chánh năm dự bị chứ không phải lời hiệu triệu trong 1 công cuộc đầy máu và nước mắt bỏng sôi này của dân tộc.

Con Người

Giả định, ông Lê Thăng Long là người viết “Con đường Việt Nam”, rồi lập 2 Weblog (1 ở blogspot, 1 ở wordpress) để khởi xướng phong trào “Con đường Việt Nam”, khi trình làng, đã có hơn chục bài viết dưới dạng biên khảo nhỏ -có cả bản dịch ra Anh ngữ, nhiều thư gởi các nhân vật chóp bu của Hanoi hiện tại, và nhất là danh sách nhiều người được mời “tham gia sáng lập” phong trào…, ta thấy gì? Đó là ông Long ra tù ngày 4/6, đến ngày 10/6 là hoàn tất 2 Weblog và hàng loạt bài viết, lên danh sách người được mời…
Ông Long có thể làm được như thế chăng trong 1 thời gian quá ít ỏi?

1- Mới ra tù, thường thì như BS Lê Nguyên Sang hay Mr. Nguyễn Bắc Truyển, hay LS Lê Thị Công Nhân, hay LS Nguyễn Văn Đài…thảy họ đều im, không phải vì họ ngưng đấu tranh, mà vì bạo quyền cấm nói. BS Lê Nguyên Sang vừa vào tới Sài Gòn (10/6/2011 ) cho biểu tình 12/6/2011 thì đã bị Công an cộng sản hốt về Đà Nẵng là 1 ví dụ.
Một thực tế gần gũi nhất, là một người ở tù CS từ 4/6/2009 (đã 3 năm qua), mới ra tù, người đó cần bao lâu để phục hồi sức khỏe và phong độ để tiếp tục trên đường đấu tranh? Phải mất hàng tháng trời cho việc ăn ngủ, tẩm bổ phục hồi cho cơ thể, và nhiều ngày tháng nữa để lấy lại tinh thần, cập nhật tình hình xã hội biến động bên ngoài mà 3 năm qua người tù kia đã bị lạc nhịp. Cho dù có “bàn trước với 2 anh Thức và Định” như ông Long nói, thì làm sao Lê Thăng Long có thể nhảy ra lập ngôn lung tung chỉ mới 7 ngày trong khi gọng kìm của “bầy sói hoang” vẫn đang chực chờ kia?? (*). Và làm sao bảo đảm là 2 anh Thức, Định đã đồng ý cùng Lê Thăng Long cho việc phát động này? Chỉ nghe ông Long nói mà thôi!

2- Trên thực tế, một người tự do ở ngoài này, mà chịu khó học hỏi và làm việc quen tay với Net, Computer, html…cho quen thuộc tính ý của blogspot, wordpress…vừa viết các bản văn, vừa lập Blog, chỉnh sửa giao diện cho đẹp mắt, viết bài chỉnh sửa câu chữ từng dấu phẩy cho chỉn chu, lại còn dịch sang Anh ngữ nữa…phải mất hơn 2 tuần mới hoàn thành tạm những gì mà Lê Thăng Long trình làng vừa rồi, đó là nếu anh ta dành toàn thời gian để chỉ làm việc ấy mà thôi. Đó là kinh nghiệm từng làm việc của chính tôi khi phát biểu như vậy.

Một người ở tù đã 3 năm, vốn là doanh nhân chớ không phải chuyên viên IT thì ra tù ngày 4/6/2012, đến ngày 10/6/2012 cho publish tất cả những gì như Lê Thăng Long làm vừa rồi kể cả email mời hàng trăm « người đồng sáng lập » …theo tôi là bất khả.

Có rất nhiều tên tuổi trong List mời của Lê Thăng Long vào tháng 6/2009 chưa nổi lên, mới trở về từ hỏa ngục CS (thì ngay cả giá hiện thời của 1 tô phở, 1 lit xăng chưa chắc đã biết) làm sao mà ông Long lại biết tất tần tật mọi người đang sinh động hoạt động kể cả địa chỉ email của họ để gởi thư?

Hẳn là phải có 1 « bộ sậu » làm sẵn những thứ này nếu “Con đường Việt Nam” là thực và Lê Thăng Long có đồng chí ở ngoài làm sẵn. Nhưng ông Long có đồng chí như thế không?

Nếu có, một hay nhiều người ấy có chường mặt ra ngay gặp ông Long để bàn bạc và tiếp nối thống nhất mọi thứ khi công bố có 7 ngày sau khi ra tù vậy không? Chắc chắn là không vì họ đã giữ bí mật bấy nay, thì không dưng lại ló mặt ra ngay? Họ sẽ dò xét và sẽ « làm tiếp » một cách dè chừng thận trọng hơn.

Nếu không, thì hẳn phải do Ai Đó làm và Lê Thăng Long đồng ý (hoặc bị áp lực) đứng tên tác giả cho cái phong trào “Con đường Việt Nam” như thế.

Với một người tù trong vụ “lật đổ chính quyền” nổi tiếng 3 năm trước với các tên tuổi Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, mà cái gọi là “Tòa án” của Hanoi cáo buộc các anh và tống giam từ 4/6/2009, nay Lê Thăng Long ra tù trước hạn 6 tháng và vội vã trình làng « Con đường Việt nam » chỉ vẻn vẹn trong thời gian không tưởng 7 ngày như đã nói, thì Ai Đó chỉ có thể là ai?

Với lập luận vắn tắt trên, cho dù ông Long hay thân phụ của anh Trần Huỳnh Duy Thức lên tiếng xác nhận đi nữa, làm sao người ta tin được??? Vì nó phi lí!

3- Tự thân việc viết « Con đường Việt nam » với ý nghĩa mù mờ (như đã trình bày ở trên) lẫn việc mời số quá đông người vào vai « đồng sáng lập » là ngớ ngẩn nếu không nói là vô nghĩa vì làm sao (và buồn cười thay!) GS Nguyễn Quang A có thể đứng chung với tên hề thế kỷ Ng minh Triết hay Mss Ng Cao Kỳ Duyên?

Thư mời có mẫu chung là: « …Tôi viết thư này thay mặt cho những người khởi xướng phong trào CON ĐƯỜNG VIỆT NAM mời Ông trở thành người sáng lập của phong trào này để giúp nó lớn mạnh nhằm góp phần vì một Việt Nam dân chủ và thịnh vượng…. » ngoài cái nghĩa chung chung, mơ hồ, nó còn cho ta thấy là vô duyên vì bất khả!
Nan đề chính của mọi nan đề tại Việt Nam hiện tại là độc tài và bất công. Chính quyền hiện tại là bất hợp pháp vì không do dân bầu. Việt Nam cần vùng thoát ra khỏi kiếp nạn cộng sản độc tài chớ không phải đang thái bình yên ổn rồi cần « Con đường Việt nam » để dân chủ và thịnh vượng…!!! Trong hoàn cảnh thực tế tại VN lúc này, 2 chữ dân chủ và thịnh vượng là mơ hồ, cố ý lạc đề, tránh né. (Ai lại đi gầy nên 1 phong trào mù mờ như thế nhỉ???)

Vì làm sao trong gọng kìm đàn áp bằng bạo lực và chà đạp, bất chấp pháp luật của chính chế độ này, một phong trào như thế có thể hình thành chứ đừng nói là lớn mạnh được? Giáo Sư Nguyễn Quang A mới vừa lội ra Hồ Gươm để biểu tình chống Trung cộng thôi mà đã 3, 4 công an CS bám theo ngăn trở đòi xét giấy tờ xe gắn máy do con trai ông chở đi? Thế là ông bỏ mặc đấy và đành phải lội bộ ra nhập vào đoàn biểu tình.

Trong trận chiến không cân sức giữa bạo quyền có tổ chức với 1 tốp trí thức tiên phong ô hợp mà chúng nó muốn bẻ gãy ai, bẻ cái gì…là chả ai ngăn cản (như việc chị Bùi Hằng hay vụ NX Diện, cụ LH Đức…) thì những gì mà « Con đường Việt nam » gào lên có gì mới? có gì hiệu quả? và làm sao mà Tổ Chức Đội Ngũ trước bầy sói hoang đang chực chờ như thế????

Và giả thử nếu tất cả gần 250 người được mời mà đồng ý hết thì số đông này sẽ gặp nhau ở đâu để hội họp, bàn bạc? khi làm việc chung như thế (…để giúp nó lớn mạnh nhằm góp phần vì một Việt Nam dân chủ và thịnh vượng…) thì ngân quỹ ở đâu? Địa điểm nào đủ to rộng chứa hết số đông ấy? chưa kể sẽ có các hãng tin ngoại quốc tác nghiệp lẫn bầy đàn “báo” đỏ đến cùng “chung vui” nữa, thì lúc ấy ai bảo vệ họ khỏi bị đánh hộc máu như 2 ông Ngọc Năm và Phi Long của VOV trong vụ cướp đất Văn Giang 24-4-2012 vừa qua?

Giả thử (lại giả thử) tổ chức được cuộc họp bàn với hai trăm mấy chục người như thế đi, thì để tiến hành « Con đường Việt nam », sẽ phải thống nhất bầu bán, hoàn thiện cơ cấu tổ chức để đi vào hoạt động, sẽ phải mất rất nhiều ngày, thế lúc ấy chế độ Hanoi nó để yên cho các ông làm sao? Hãy xem Thượng Tọa Thích Không Tánh (Vụ Trưởng Vụ Từ Thiện của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất) chỉ mở cửa chùa cho một ít dân oan từ miền Tây lên Saigon kiện tụng đất của họ bị cướp vào trú tạm, có chỗ nghỉ ngơi cơm nước qua đêm rồi mai lại đi, thế mà ngay tức khắc, một bầy chó săn công an cộng sản xúm lại trước cổng chùa lớn tiếng đe dọa đòi Thượng Tọa phải mở cổng để chúng vào chùa mà bắt bớ nông dân, thì thử hỏi cái tính kém tưởng tượng của tác giả thực của “phong trào Con đường Việt nam » kia nó tệ hại như thế nào???

Hơn nữa, số người được mời “đồng sáng lập” có rất nhiều khuynh hướng, cương lĩnh khác nhau, làm sao họ chịu dẹp bỏ hết những cái riêng của mình lâu nay để về đứng cùng nhau một cách ngoan ngoãn như trong mơ vậy?

Một phong trào cách mạng chính trị hay xã hội thường hoạt động gần như một đảng phái, bên dưới có nhiều thành viên, thường do một vài nhân sĩ đứng đầu tiên phong, dẫn dắt, trình bày đường hướng, cương lĩnh và thường chỉ hiện hữu trong các quốc gia tự do dân chủ nhằm tự vận động để thủ đắc lá phiếu của cử tri trong các cuốc bầu cử Hành Pháp hay Lập Pháp. Đó là cách thế hợp pháp, chính danh duy nhất để tham chính, đem tài sức của mình ra phụng sự xã hội.

Tại Việt Nam, các em SVHS mới ra « biểu tình ngồi » bệt chống Trung cộng ở nhà thờ Đức Bà Saigon thôi, đã bị an ninh cộng sản giả dạng dân phòng xông tới hỏi giấy tờ, đòi xua đuổi, giải tán…thì việc 1 phong trào vận động tới những gần 250 người là một cái gì bất thường, phi lí và khôi hài.

Chỉ Ra Kết Luận Tạm

Trên đây là một vài nhận định trực tiếp từ hiện tượng Con đường Việt nam này, đọc tới đây hẳn bạn đọc không khỏi tạm kết luận là: ông Long không phải là tác giả thực của Con đường Việt nam.

Tác giả thực là kẻ khác, dấu mặt và có dụng ý gì, tiến trình ra sao, sẽ đi đến đâu…đòi hỏi chúng ta phải thận trọng tỉnh táo chờ thời gian tới với các diễn biến mới sẽ giúp ta nhận rõ sự thực. Không thể chỉ mới ngày một ngày hai mà đã có thể có câu trả lời gì cho Hiện Tượng Con đường Việt nam này.

Những Trò Lừa Lịch Sử của Cộng Sản

Cho đến nay, ai quan tâm và có hiểu biết về các chế độ độc tài cộng sản đều không quên những lừa bịp của nó, đơn cử một vài như dưới đây:

– Thời Staline thanh trừng nội bộ ở Nga 1936, 1937, 1938, cả thế giới tự do vô cùng ngạc nhiên khi những đồng chí cũ một thời lẫy lừng chiến công với Lénine gậy dựng nên Bolshevik cướp chính quyền từ tay Nga Hoàng 1917 như Zinoviev, Kamenev, Smirnov, Evdokimov, Radek, Bakaev, Dreitser, Piatakov, Sokolnikov, Sérébiakov, Toukatchevsky (Thống chế, chỉ huy hồng quân Nga), Yagoda, Boukharine, Kretensky, Rakovsky…đều lần lượt bị đưa ra các phiên tòa đặc biệt (đều cùng do 1 Công cáo Ủy viên Vychinsky) và đều bị xử bắn.
Tất cả họ đều bị buộc tội phá hoại kinh tế hoặc đồng lõa làm phản cùng với Trotsky (lúc này đã bị lưu đày biệt xứ và sống tại Mễ Tây Cơ (Mexico), cho đến tháng 8/1940 thì bị người của Staline sang tận nơi ám sát (Ramón Mercader, nhân viên cục tình báo Nga NKVD).
Đó là cả những “vụ án” đẫm máu, kỳ quặc lẫy lừng của của chế độ Soviet thời Staline. Ngày nay nhiều quan sát viên hoặc sử gia đã tìm thấy nhiều bằng chứng cho thấy các “tội trạng” do các phiên tòa nói trên là bịa đặt. Nhưng điều kỳ quặc nhất là trong các vụ án đó, hầu hết bị can đều thú tội trước tòa. Cũng có 1, 2 người chối, chống tội áp buộc nhưng lại cũng kỳ lạ thay, sau một đêm suy nghĩ, sáng mai họ lại ngoan ngoãn nhận tội trước tòa. Lạ lùng hơn, không hiếm những phiên đối chất, Công cáo Ủy viên buộc tội thì ít mà các bị can tự nhận thêm tội là nhiều??!!! Tấn tuồng thật quái đản khiến thế giới văn minh phương Tây không sao hiểu được.

Trong cuốn tiểu thuyết lừng danh “Ngày và Đêm” (nguyên tác Đức ngữ: Sonnenfinsternis, tựa Anh ngữ: Darkness at Noon, tựa Pháp ngữ: Le Zéro et L’infini, by Arthur Koestler, nhà văn Hungary, xb 1940), tác giả đã lấy vụ Piatakov làm điển hình để cố phân tích tâm lý, tìm hiểu vì sao các lãnh tụ Bolshevik cừ khôi một thời lại nhận chịu sự ô nhục, nhận chịu đã phản bội, và tự thú tội để rồi bị đem bắn??!!! Staline quả đã phát minh ra những kỹ thuật phi nhân tân kỳ nhằm hạ nhân phẩm con người mà trước ông ta chưa từng thấy trong lịch sử?!!! Và đồng thời đã che mắt được cả thế giới vì chẳng thể nào phản kháng hoặc bêu rếu Staline được vì rõ ràng bị can tự nhận tội rất là “thành khẩn”. Thế giới phải mất bao công sức và bao nhiêu thời gian mới lật hết được mặt thật của những trò lừa che dấu giả trá đó?

– Thời 1945, chuyện Marshall (đặc phái viên của TT Mỹ Truman) bị Mao lừa nhiều lần. Ôm sứ mạng « hòa giải » sang Trung Hoa, Marshall ngây thơ đến nỗi không biết bộ mặt gian trá của Mao, không biết Mao là cộng sản, (thực chất đang là 1 cánh tay mặt của Staline) bỏ về Mỹ khi nhiều lần hòa giải « nội chiến Mãn Châu » không thành, và khuyên Truman đừng giúp Tưởng Giới Thạch, vì nhận định Tưởng « hiếu chiến », còn cộng quân của Mao là quân lính có tinh thần dân tộc, ái quốc!!!

– 1952, Nga sô thao diễn quân đội mời các đại biểu Tây phương đến dự, Nga cho trình bày loại oanh tạc cơ khổng lồ Bisons lúc đó Nga mới có 9 chiếc nhưng làm giả tới 50 chiếc và dùng gián điệp tung tin là sang 1954 Nga sẽ có tới 500 chiếc. Mỹ hoảng, quốc hội bàn cãi đả kích chính phủ, chính phủ vội cho cấp tốc sản xuất loại oanh tạc cơ khổng lồ đặt tên là B52 ngày nay. Biết Mỹ mắc đòn lừa, Nga bỏ sản xuất Bisons và dồn tiền vào nghiên cứu hỏa tiễn không gian.(**)

Có ai thông thái bằng các triết gia, họa sĩ, thi sĩ như ông Bertrand Roussel, Jean Paul Sartre, Pablo Picasso, Tagore (Rabindranath, 1861-1941) v.v…của thời thập niên 60 hãy còn hết lời ca tụng cộng sản, chống chiến tranh Việt Nam, có cảm tình với cộng sản Hanoi; hay cô đào cởi truồng Jane Fonda của Mỹ còn qua Hanoi mặc quần xì với áo bộ đội do Trung cộng viện trợ, đội nón cối, chụp ảnh chung với khẩu cao xạ và lính phòng không VC…năm 72.
Để rồi mười mấy năm sau đó, khi chiến tranh Việt nam kết thúc, bộ mặt tàn ác gian trá lạnh lùng của Hanoi lộ diện hẳn, đám Mặt Trận GPMN bị vắt chanh bỏ vỏ phải bỏ chạy tan tác, người Việt miền Nam vượt biển tìm tự do hàng loạt, thế giới lúc ấy mới nói lên lời thống hận muộn màng. Ông triết gia khả kính Bertrand Roussel tự thú tội, trùm hiện sinh J. P. Sartre âm thầm vận động đóng 1 tàu nhỏ tình nguyện băng ra biển đông vớt người Việt Nam vượt biên, còn Jane Fonda có nguy cơ bị ra trước tòa án binh Mỹ vì tội thân thiện với quân địch trong khi Mỹ lâm chiến và mới đây cô đã tự nói lên lời thú tội)……….

Vài đơn cử trên để thấy rằng, lừa dối là vũ khí chính yếu của địch. Tuy tung ra nhất thời và nhuốm vẻ “hot”, nó sẽ chuyển biến, muôn hình vạn trạng và hãy bình tĩnh chú ý, nó chỉ có thể lừa được những ai quá ham hố, nóng vội nông nổi và nhiều lười biếng suy tư, ít chịu khó tự vấn tự hỏi trước một “hiện tượng lạ” để tự kết luận một cách hồ đồ cảm tính cho xong 1 nan đề rối rắm.
Còn nhớ trước người tù Lê Thăng Long, còn những Đỗ Nam Hải, Lê Công Định, Nguyễn Minh Hoàng.
Đỗ Nam Hải bị công an CS đem cha mẹ, con, cháu tới đồn công an khóc lóc để áp lực anh “ký” vào giấy ngưng hoạt động trong Khối 8406 VN. Khi anh ký, thì 1 tờ báo web hải ngoại mau mắn cho chạy bản tin: « Thủ Lĩnh Dân Chủ đầu hàng ».
Ls Lê Công Định khi bị cộng sản tung video clip (lúc ấy chưa có ra “tòa” CS, chưa có “bản án”), thì 1 “nhà dân chủ” hải ngoại đã viết:

« Tôi vừa viết bài thơ tặng Lê Công Định trên Talawas mới chỉ cách đây hai tiếng đồng hồ.
Vừa đi về, lướt trên mạng, đọc ít dòng thấy bán tin bán nghi, liền ngó vào Vietnamnet, thì đúng vậy. Lê Công Định đã thú nhận tội và xin khoan hồng!

Lê Công Định đã khiếp nhược quá nhanh, ngoài trí tưởng tượng của bao nhiêu người. (Talawas, 18/06/2009 | 11:33 chiều |) »

Tôi không muốn nêu tên báo web hay người viết những dòng trên vì không cần thiết, nhưng ai có theo dõi chặt chẽ diễn trình đấu tranh kháng cộng tại Việt Nam trước nay đều biết là đã có thật. Có một cái gì đó bạc bẽo, vội vã và phản phúc của quần chúng trước biết bao khó khăn, áp lực mà người tù đang phải gánh chịu.

Cả người chủ mưu lẫn kẻ bị lừa đều ấu trĩ khi nghĩ rằng ký tên, nhận tội là xong, là hết, không đấu tranh nữa. Nếu như vậy thì làm gì có cách mạng, làm gì có lật đổ, làm gì có liên tiếp nhưng chế độ độc tài bị lật đổ (sau sụp đổ của cộng sản thế giới) trong Arabe Spring vừa qua và đang còn diễn ra?

Tôi tin chắc ngày sắp tới đây, khi chế độ Hanoi đã cáo chung, ta sẽ biết rõ sự thực những vụ vừa nói: Lê công Định, Trần anh Kim, Nguyễn tiến Trung, Nguyễn Minh Hoàng (thảy họ đều nói “lời khoan hồng” bị quần chúng bạc bẽo khinh khi). Và chắc chắn rằng những sự thực đó phức tạp và đau lòng lắm. Có ai tự hỏi chính mình rằng, nếu mình ở vài hoàn cảnh đó của mấy anh, mình có làm gì khác hơn mấy anh không?

Nên nhớ, còn bước trong trường chính trị thì trò lừa còn theo ta dài dài. Một gương bị lừa dài và đau thương bởi cộng sản Hanoi với màn công diễn Mặt Trận GPMN -nhóm Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát thuở nào chưa nguôi quên sao? Những kẻ già tuổi, sõi đời như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát mà còn tức hộc máu khi bị Duẩn Thọ đá đít sau khi chiếm được miền Nam, thế mà bài học lịch sử còn mới toanh đó có ai chịu học không?

Những trò lừa ấy càng tinh vi thì càng đưa đối tượng nhắm tới để lừa là quần chúng…vào mê hồn trận. Là người có học, là “chiến sĩ”, chúng ta phải biết cách thoát ra mê hồn trận đó, kẻo không, chúng ta đã vô tình tiếp tay cho kẻ thù mà triệt hạ người anh em của mình, và đó mới chính là mục tiêu của địch. Khi biết ra sự thật thì ân hận, dày vò lương tâm bao nhiêu cho vừa??? Mà có ích gì không???

Cách Thế chia rẽ của Giới Đối Kháng

Hiện đa số anh em góp tiếng vụ Con đường Việt nam bằng cảm tính chứ không có phương pháp và đọc trong hầu hết các phê bình nhận định, nó tố cáo người viết đứng ở mảnh đất riêng tư chứ không cùng nắm tay đoàn kết trong một thể thống nhất ý chí chống lại bạo lực bịt miệng và bất công. Đó là điều đáng buồn.

Ngay cả vài người ở hải ngoại vẫn thiếu cung cách làm việc hợp lý: tham gia ý kiến trong 1 sự kiện chính trị, xã hội, thì phải bằng phương thức tranh biện, nghĩa là những ý kiến của mình phải có « chân », tức là có kèm dẫn chứng, suy diễn một cách hợp luận lý, chớ mà nói suông!!!

Không thể vì yêu vì ghét mà nói một cách tùy tiện, vô bằng. Nói bậy tùy thích thì hạ mình xuống hàng mấy bà bán cá ngoài chợ ghen ghét nhau chửi bố này mẹ kia…như kiểu những dòng của tay tự xưng là “nhạc sĩ và nhà thơ” mắng là “Con đường vô liêm sỉ của Lê Thăng Long (17/06/2012)”. Nó thấp hèn và chẳng có ích gì hết!

Kẻ thì ngày trước vỗ tay hoan hô ngày sau mắng người ta “LTLong là con cờ của CSVN để hạ cánh an toàn”??? Kẻ thì « tin LTLong và bằng hữu của anh », kẻ thì mắng lời mời là « rác » “quăng bom”, “trò mèo”, v.v…toàn là lời lẽ cảm tính vô bằng chứ không trưng ra dẫn chứng mang tính luận lý! Chắc gì các ngài đúng không? Sao các ngài cứ coi ông Long là riêng mà chẳng dính dáng gì tới các ngài hết vậy, trong khi tất cả chúng ta đang làm việc chung trên 1 trận tuyến là chống độc tài lừa dối và áp bức bất công?

Những loại góp tiếng ấy khi đọc xong, người ta quên ngay, vì nó là ý riêng của một người, chả phải cái chung cần và ắt có trong trận địa này.

Nếu bạn tin Con đường Việt nam, tin các anh Thức, Định …thì cũng có khối kẻ không tin hoặc phát ngôn là không tin vì chúng là Công an tép riu chuyên ngồi mạng để lung lạc bạn đọc. Hoặc ngay cả nhiều người VN hiện tại tuy tuổi lớn nhưng trí thấp và họ sẽ chẳng trả lời được là tin hay không tin.

Thời buổi này muốn nói gì phải có chứng lý chặt chẽ, nói tin hay không tin suông thì vô nghĩa.

Riêng tôi thấy, mới chưa tới 1 tuần mà kẻ chủ mưu thực vụ Con đường Việt nam này đã gặt hái được quả mà họ mong muốn: đó là gây xung đột, mâu thuẫn và nhiễu loạn các chiến sĩ trên mặt trận Dân Chủ.

Qua việc bày tỏ ý kiến về Con đường Việt nam và ông LTLong, tự nhiên ta thấy bày ra 1 thực tế chia rẽ và manh mún, riêng tư của giới trí thức tiên phong đối kháng tà quyền Hanoi hiện nay.

Tham gia việc dân việc nước mà tâm thế thì vẫn là riêng tư nhà tao nhà mày thì cộng sản nó còn ngồi đó thống trị dài dài!

Đừng quên rằng việc nước là việc của 90 triệu dân, do vậy khi nói gì làm gì phải nghĩ tới khối lượng lớn đó đang bị 1 nhúm có mười mấy thằng vô học chăn dắt bằng dùi cui và họng súng.

Đó là 1 sự thua thảm hại, cho nên hãy cảnh tỉnh ngay đi kẻo làm trò cười cho địch!
Đấu trí mạnh hơn đấu sức, chớ quên điều đó. Họ chỉ cần giải phẫu “mặt trận dân chủ” là lòi ra thực tế ngay! chả cần tung đám CA an ninh ruồi bu đi chận, bắt người biểu tình cho mệt và tốn cơm!

Vậy, hãy từ từ cái mồm lại kẻo sa đà vào đó rồi trúng kế của giặc mà không hay!
Tôi van các ngài quá ư là thông thái hãy ngậm bớt cái mồm lại!

Saigon, June 20, 2012
LTC

Chú Thích:

(*): chữ của AnhBaSam
(**): trích THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ -Biên Khảo- Vũ Tài Lục

Quá trình hình thành Phong trào Con đường Việt Nam

Phong trào Con đường Việt Nam – Tháng 12/2003, bộ Bưu chính Viễn thông và bộ Thương mại ngăn chặn chương trình khuyến mại hợp pháp của công ty cổ phần Internet Một kết nối (OCI) cho khách hàng gọi miễn phí điện thoại internet đến 20 quốc gia. Công ty OCI đã cương quyết bảo về việc làm đúng đắn của mình và quyền lợi của khách hàng. Kết quả vụ tranh chấp này là 2 cơ quan trên không đủ cơ sở pháp lý để buộc công ty OCI dừng chương trình này.
Sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên một doanh nghiệp Việt Nam chủ động làm mà không cần phải xin phép những việc mà luật không hạn chế. Đây chính là tinh thần của pháp quyền. Chính sự kiện này cũng đã kết nối bộ ba Trần Huỳnh Duy Thức (Tổng giám đốc công ty EIS, công ty mẹ của công ty OCI), Lê Thăng Long (chủ tịch HĐQT công ty OCI)Lê Công Định (luật sư đã tư vấn bảo vệ pháp lý cho OCI trong vụ tranh chấp trên).
Từ đây ba người cùng quyết tâm tranh đấu cho tinh thần pháp quyền tại Việt Nam.
– Khoảng tháng 3/2004, ba người thống nhất thành lập một nhóm nghiên cứu mà sau này gọi là nhóm nghiên cứu Chấn để tìm ra những con đường chấn chỉnh, canh tân đất nước. Quyết định này ra đời sau kết luận từ những khảo sát thực tế cho thấy không có cách gì áp dụng được tinh thần pháp quyền trong môi trường chính trị, kinh tế, xã hội tại Việt Nam vào lúc đó, dù rằng nó đã được hiến định từ năm 2001. Không có cách gì để vượt qua những rào cản hành chính và tư pháp hiệu quả hơn phong bì, thậm chí còn phải đi bằng đầu gối. Do vậy cần phải có biện pháp cải cách toàn diện.
– Tháng 1/2006: sau gần 2 năm nghiên cứu nghiêm túc, nhóm nghiên cứu Chấn đưa ra một bản đánh giá toàn diện các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Vấn đề nổi bật từ bản đánh giá này là dự báo sẽ có một cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ nổ ra không quá 2 năm nữa (tức sẽ rơi vào đầu 2008) nếu không có sự chấn chỉnh ngay lập tức vào đầu năm 2006. Nếu không có những biện pháp đúng đắn thì cuộc khủng hoảng sẽ kéo dài trên 5 năm nữa và dẫn theo những khủng hoảng xã hội, chính trị trầm trọng, làm cuộc sống của nhân dân khó khăn và đất nước bị lệ thuộc.
Tóm tắt của bản đánh giá này được viết thành bài « Khủng hoảng kinh tế – Nguy cơ và cơ hội » và đã được gửi đến một số người có thẩm quyền trong đầu năm 2006, nhưng không nhận được sự quan tâm cần thiết. Trong khi đó tình hình kinh tế đã diễn biến đúng như những gì đã dự đoán – cuộc khủng hoảng kinh tế đã nổ ra vào đúng đầu năm 2008 và đã bước qua năm thứ 5 nhưng vẫn chưa phải là điểm kết thúc.
– Giữa năm 2006: Nhóm nghiên cứu Chấn quyết định tập trung cảnh báo những nguy cơ của đất nước. Anh Trần Huỳnh Duy Thức và anh Lê Công Định tập trung viết bài đăng trên các báo trong và ngoài nước. Anh Lê Thăng Long tăng cường quan hệ với giới trí thức và nhà báo để cảnh báo những nguy cơ của đất nước.
Song song với việc cảnh báo, nhóm nghiên cứu Chấn tập trung nghiên cứu để tìm ra cách thức, con đường phát triển đất nước một cách tốt nhất.
Cũng trong thời gian này, nhóm nghiên cứu Chấn công bố bài thơ Tuyên ngôn Lạc Hồng do anh Trần Huỳnh Duy Thức sáng tác để thể hiện khát vọng mà công việc của nhóm hướng đến:
Nam quốc Mộc tinh chấn Lạc Hồng 
Vận thiên khí hội kiến hòa nhân 
Chấn đạo quốc hưng bình thiên hạ 
Ngoại quốc lân bang kính phục giao 
– Tháng 1/2007 anh Lê Thăng Long và anh Lê Công Định quyết định ứng cử đại biểu quốc hội khóa XII với hy vọng nếu trúng cử sẽ có thể cảnh báo và thức tỉnh tốt hơn những nguy cơ của đất nước. Nhưng cả 2 đều không thành công.
– Tháng 4/2007, anh Trần Huỳnh Duy Thức cho ra đời blog Trần Đông Chấn để đăng tải rộng rãi những bài viết phân tích về kinh tế, chính trị, xã hội nhằm cảnh báo những nguy cơ của đất nước và đã nhận được sự đánh giá rất cao của công chúng.
– Đầu năm 2008, nhóm nghiên cứu Chấn quyết định viết quyển sách Con đường Việt Nam do anh Trần Huỳnh Duy Thức đứng đầu và chịu trách nhiệm phần sách lược kinh tế, anh Lê Công Định chịu trách nhiệm phần cải cách pháp luật, anh Lê Thăng Long chịu trách nhiệm phần Biển Đông. Dự định mời giáo sư Hoàng Tụy phụ trách phần giáo dục. Vấn đề Tây Nguyên đang tìm người. Quyển sách này là sự đúc kết kết quả nghiên cứu để tìm ra những cách thức, con đường phát triển đất nước một cách tốt nhất như đã nói trên.
– Tháng 11/2008, anh Trần Huỳnh Duy Thức, anh Lê Công Định, anh Lê Thăng Long thống nhất rằng cần phải hình thành một phong trào sau khi đã hoàn tất và công bố quyển sách Con đường Việt Nam để thúc đẩy quan điểm phát triển và các sách lược của nó để nhân dân ủng hộ rộng rãi, hỗ trợ cho chính quyền vượt qua được khủng hoảng để giảm thiểu sự khốn khó của người dân và sự lệ thuộc của đất nước. Nhóm nghiên cứu Chấn nhận định rằng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2009 mà Chính phủ và Quốc hội vừa thông qua sẽ làm cho nền kinh tế không thể còn có thể cứu vãn được nữa từ năm 2010 trở đi, vì thế cả ba hạ quyết tâm sẽ hoàn thành quyển sách không chậm hơn cuối quý 2/2009. Do vậy cần thêm người cộng tác.
– Tháng 1/2009, theo như đã thống nhất, anh Lê Thăng Long thành lập phong trào Chấn hưng nước Việt để làm tiền đề chuẩn bị cho phong trào nói trên.
– Tháng 3/2009, anh Trần Huỳnh Duy Thức và anh Lê Công Định cùng đi Phuket-Thailand trao đổi với ông Nguyễn Sỹ Bình (lãnh đạo của đảng Dân chủ Việt Nam) để trao đổi về việc viết quyển sách Con đường Việt Nam.
– Tháng 4/2009, xảy ra vụ tranh chấp giữa Sở Thông tin Truyền thông Tp.HCM và công ty OCI về việc công ty OCI kinh doanh điện thoại internet phone-to-phone tại Mỹ, Úc và Canada. Sự việc thuần túy hành chính và dân sự này bị đe dọa hình sự hóa. Linh cảm sẽ bị bắt nên anh Trần Huỳnh Duy Thức, anh Lê Công Định, anh Lê Thăng Long thống nhất cách ứng xử để cho thấy hệ thống tư pháp với chuẩn mực « đúng người, đúng tội » thực ra là « kiểu gì cũng có tội » dù nhận tội hay không. Anh Thức và anh Long đề nghị anh Định nếu bị bắt hãy « nhận tội » để cho thấy các tội đó có được là do hệ thống luật pháp tạo ra cho con người khi họ sử dụng các quyền con người căn bản của họ vì khát vọng chính đáng và tự nhiên của họ. Đồng thời « nhận tội » để anh Định có thể về sớm tiếp tục những gì nhóm nghiên cứu Chấn còn dang dở.
– Từ 24/5 đến 13/6/2009 anh Thức, anh Long, anh Định lần lượt bị bắt. Sau đó là đến anh Nguyễn Tiến Trung và trung tá Trần Anh Kim. Thông tin ban đầu đưa ra khi bắt anh Thức là « trộm cước viễn thông » nhưng vụ án cuối cùng được đưa ra xét xử với tội danh « lật đổ chính quyền nhân dân » theo điều 79 BLHS.
– 20/1/2010 xét xử sơ thẩm vụ án này. Anh Thức và anh Long bác bỏ toàn bộ cáo trạng nên nhận 16 năm và 5 năm tù cộng với 5 năm và 3 năm quản chế. Anh Định nhận 5 năm tù và 3 năm quản chế.
– 11/5/2010 xét xử phúc thẩm. Trong lúc giải lao, anh Thức và anh Định đề nghị anh Long « xin khoan hồng » vào giờ chót để được giảm bớt thời gian tù để sớm về tiếp tục những gì bộ ba đã định. Kết quả anh Thức giữ nguyên mức án vì cương quyết khẳng định những gì mình làm là không có tội. Anh Long được giảm 18 tháng tù. Anh Định cũng bị giữ nguyên vì « không có tình tiết gì mới ».
– 7/7/2010: bộ ba cùng được chuyển đến trại giam Xuân Lộc (Z30A) Đồng Nai để thi hành án tù, cùng ở chung 1 phòng. Cả 3 người cùng tái khẳng định sẽ quyết tâm đi đến cùng « Con đường Việt Nam ». Anh Định được đề nghị nên chọn phương án sớm ra nước ngoài để hoạt động. Anh Long sẽ tiếp tục « xin khoan hồng » để được tiếp tục giảm án để về sớm nhất và ở trong nước để hoạt động. Anh Thức tiếp tục kiên định để khẳng định sự đúng đắn và chính nghĩa của việc làm của mọi người.
Anh Long về sẽ phát động một phong trào đã dự định trước khi bị bắt, đặt tên là phong trào Con đường Việt Nam, dựa trên nguyên tắc Quyền Con người trong nhà nước pháp quyền mà quyển sách Con đường Việt Nam đã nghiên cứu và trình bày. Phong trào sẽ kêu gọi xây dựng và ủng hộ Hiến chương Chấn hưng Việt Nam vì hòa bình thế giới.
– 10/8/2010: anh Định bị chuyển đi trại giam Chí Hòa.
– 31/8/2011: anh Thức ký tên vào một bức thư kèm một tài liệu dày 43 trang viết tay, đề nghị ban giám thị trại giam Xuân Lộc chuyển đến cho các ông Chủ tịch nước, Tổng bí thư, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch TƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Bức thư này đề nghị chính quyền cần ủng hộ cho sự ra đời phong trào Con đường Việt Nam nhằm giúp đất nước mau chóng thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội, chính trị.
– 04/06/2012 anh Long ra tù.
– Ngày 12/06/2012 anh Long thay mặt ba người khởi xướng chính thức phát động phong trào Con đường Việt Nam đến công chúng. Xem Mục tiêu, Quan điểm, Phương thức hành động, Tôn chỉ, Cương lĩnh, Nguyên tắc tổ chức và Cơ sở pháp lý của phong trào Con đường Việt Nam tại đây
http://movementcdvn.wordpress.com/2012/06/10/qua-trinh-hinh-thanh-phong-trao-con-duong-viet-nam-3-2/*

Lời phát động Phong trào Con Đường Việt Nam

Việt Nam, ngày 10 tháng 06 năm 2012,

LỜI PHÁT ĐỘNG PHONG TRÀO CON ĐƯỜNG VIỆT NAM
Thưa quốc dân đồng bào,
Cách đây hơn 100 năm phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân đã ra đời và được nhân dân ta hưởng ứng nhiệt thành. Nếu như chính quyền cai trị của Pháp lúc đó không đàn áp thành công các phong trào yêu nước này thì giờ đây tinh thần “Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh” đã đưa nước ta trở thành một quốc gia phát triển không thua kém gì Nhật Bản và các nước thuộc thế giới thứ nhất khác…

Tổng hợp thông tin trước cuộc cưỡng chế tại Văn Giang-Ecopark 24/04/2012

24 Avr

Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Thanh Phượng và Ecopark

Dân Làm Báo – Nguyễn Thanh Phượng là Chủ tịch của 4 công ty: VietCapital Bank, công ty quản lý quỹ Bản Việt, công ty chứng khoán Bản Việt và công ty bất động sản Bản Việt. Đó là thông tin chính thức được công bố.

Trên trang blog của anh Huỳnh Ngọc Chênh, đăng tải một tài liệu « Nghị quyết Đại hội Cổ đông thường niên 2012 của công ty Bản Việt » đề ngày 20 tháng 4, 2012 với nội dung:
VietCapital Bank phát hành quyền chọn mua cổ phiếu cho Công ty CP Phát triển Bất Động Sản Việt Hưng (Vihajico). Trong văn bản này Việt Hưng được ghi là đối tác chiến lược của VietCapital Bank và VietCapital Bank phát hành quyền chọn mua cổ phiếu cho đối tác chiến lược Việt Hưng. Việt Hưng nắm 5.670.000 quyền, mỗi quyền là 1000 đồng Việt Nam, tổng cộng giá trị của cổ phiếu là 5,6 tỷ VND.
Người ký văn bản là Nguyễn Thanh PhượngChủ tịch Hội đồng quản trị của VietCapital Bank.
Công ty Việt Hưng chính là Công ty Đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) – Chủ dự án Ecopark.
Nguyễn Thanh Phượng là con gái của Nguyễn Tấn Dũng.
Nguyễn Tấn Dũng là Thủ tướng nước CHXHCNVN, người đã ký văn bản 1495/CP – NN cho dự án đô thị Ecopark – Văn Giang và giao cho Công ty Đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) làm chủ đầu tư.
Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên công bố hôm 20/4/2012 do Nguyễn Thanh Phượng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Bản Việt ký cũng đã vừa được đăng tải bởi BBC:

Tóm lại: Nguyễn Tấn Dũng đã dùng quyềh hành Thủ tướng để ký giấy trao dự án EcoPark cho công ty Việt Hưng và công ty này là đối tác chiến lược của VietCapital do Nguyễn Thanh Phượng – con gái của ông ta làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
Sự việc chỉ có dừng lại ở đó? 
Câu hỏi kế được đặt ra là Việt Hưng chỉ là đối tác chiến lược hay chính Nguyễn Thanh Phượng lại là một trong những thành phần lãnh đạo của Việt Hưng.
Các trang mạng lề Dân đang đăng tải thông tin về công ty này trong đó Tổng Giám đốc của Việt Hưng (Vihajico) là Đào Ngọc Thanh và Chủ tịch Hội đồng quản trị là Nguyễn Thanh Phượng.
Tuy nhiên, dữ kiện trên thông tin của Ecopark vào ngày 21.08.2011 « Vihajico kỷ niệm 8 năm ngày thành lập (19/8/2003 – 19/8/2011) », thì chủ tịch HĐQT của Việt Hưng (Vihajico) là ông Lương Xuân Hà.
Dữ kiện về ông Lương Xuân Hà cũng tìm thấy trong bản tin Bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh về thăm dự án Ecopark.
Và sơ đồ cơ cấu tổ chức của Vihajico: (Cập nhật ngày: 01/12/2010)
Hiện nay, nếu có sự thay đổi nhân sự và Nguyễn Thanh Phượng trở thành Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị của công ty Việt Hưng, chủ đầu tư dự án Ecopark thì thông tin này chưa được chính thức công bố.
Tạm thời có thể kết luận: Nguyễn Tấn Dũng đã dùng quyềh hành Thủ tướng để ký giấy trao dự án EcoPark cho công ty Việt Hưng và công ty này là đối tác chiến lược của VietCapital do Nguyễn Thanh Phượng – con gái của ông ta làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
Bạn đọc có thêm thông tin hoặc dữ kiện liên quan xin gửi về lienlacdanlambao@gmail.com


*

Toàn văn Nghị quyết Đại hội cổ đông thường niên 2012 Công ty cổ phần chứng khoáng Bản Việt (VCSC)



917. Tổng hợp thông tin trước cuộc cưỡng chế tại Văn Giang-Ecopark

Posted by basamnews on 24/04/2012

0 h10′ ngày 24/4/2012 – Tin từ CTV:

– Tin từ nội bộ quan chức: có khả năng 12h đêm nay phá sóng điện thoại di động, 3h sáng bắt đầu triển khai quân cưỡng chế.

– Tin từ bà con: Đêm nay hàng nghìn bà con thức túc trực tại các vị trí trên cánh đồng. Nếu lực lượng cưỡng chế tiến vào sẽ có nổ/cháy.

– Tất cả chờ vào tình hình thực tế sáng sớm mai.

–  Bác Lê Hiền Đức đã có mặt tại Văn Giang để sáng mai cùng bà con đấu tranh.

0h25′ – “Một khu lán trại rất lớn với cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc được dựng lên từ chiều bên đất Phụng Công, giáp ranh với Xuân Quan. Đó là khu trại của dân Phụng Công dựng lên để trực chiến và tiếp sức cho Xuân Quan. Có khoảng 500 người đang tập trung ở khu vực này. Ngoài ra còn rất nhiều bà con khác cắt cử nhau đi tuần trong mọi ngõ ngách đường làng có thể tiếp cận khu ruộng sẽ bị cưỡng chế. Có khả năng hướng tiến công rạng sáng mai sẽ theo đường vào khu Phụng Công này trước vì ở đây có đường đã san ủi rất lớn, có thể đổ quân ồ ạt.”

0h50′ “Xung quanh trận địa mà người dân đang giăng ra để chờ nghênh chiến, rất nhiều phương án tác chiến được thảo luận và có tính khả thi rất cao. Người nông dân ba xã này có rất nhiều cựu chiến binh, có trình độ lý luận và khả năng tác chiến tuyệt vời. Rất nhiều thanh niên khỏe mạnh, vạm vỡ với tổ chức chặt chẽ, khoa học… không thể coi thường họ.

Lúc 11h đêm có tin là sẽ cắt sóng di động vào lúc 12h đêm và tấn công vào lúc 3h sáng, nhưng đến nay, lúc 0h30 tình hình chiến trường vẫn im ắng. Chỉ có tiếng xe công nông vẫn rầm rì trong đêm. Đây là những xe chở cây cảnh đang được trồng ngoài ruộng đi sơ tán nốt. Đã 2-3 ngày nay rồi, người dân quần quật gồng gánh, lo cho những tài sản còn sót lại duy nhất trên các mảnh ruộng. Một cuộc chạy loạn giữa thời bình của thế kỷ 21!
.
Nếu khả năng cắt điện, cắt sóng điện thoại di động xảy ra, bà con sẽ dùng kẻng để báo nhau khi có biến… y như thời chống Mỹ, chống Pháp.”
“Trực chiến”

1- NÓNG: QUYẾT CƯỠNG CHẾ ĐẤT CỦA BÀ CON DÂN OAN Ở VĂN GIANG? (Yahoo Việt Nam, tối 23/4/2012).

2- UBND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên: Ra quyết định cưỡng chế trái luật (Người cao tuổi, 19/4/2012).

3- Vì sao các hộ dân ở huyện Văn Giang (Hưng Yên) khiếu nại kéo dài?(Người cao tuổi, 29/3/2012).

NÓNG : QUYT CƯỠNG CH ĐT CA BÀ CON DÂN OAN  VĂN GIANG?

Sáng nay Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng yên tổ chức họp báo tại với Huyện Văn Giang, thông báo về quyết định cưỡng chế, phổ biến kế hoạch cưỡng chế 70 hecta vào sáng mai 24 tháng 4 năm 2012.

Hơn chục phóng viên, nhà báo tới dự họp đã bỏ về mà không ăn cơm mời của Huyện.

Chi bộ họp rất căng thẳng với các lực lượng chuẩn bị cho cưỡng chế, Huyện đang bị đá quả bóng trách nhiệm, có thể sau vụ cưỡng chế thì có vài con tốt bị thí vì mọi vấn đề pháp lý để cưỡng chế đất của dân đều sai phạm như các báo đã đăng. Báo người cao tuổi đã đăng bài về các sai phạm nhưng cán bộ Huyện cũng không đọc, không quan tâm, có thể Huyện đang bị dồn vào thế kẹt, phải hy sinh ?

Các cán bộ thôn, xã đều bị mời họp, quán triệt việc cưỡng chế.

Học sinh các cấp từ phổ thông trung học xuống tới mẫu giáo được thông báo đều phải đi học, cô giáo thông báo ốm cũng phải đi học, chính quyền lo con em cùng Bố Mẹ cho ra cánh đồng phản đối việc cướp đất.

Có 1900 nhân viên công lực gồm công an, bộ đội, phòng cháy, cứu thương, dân phòng, cơ động…đã tập hợp tại Huyện Văn Giang để ăn chực nằm chờ từ sáng nay để sẵn sàng để dàn trận.

Gần ba chục xe ủi và máy xúc đã tập kết tại huyện.

An ninh đã mang chó rà soát khắp mặt bằng để dò mìn, dò các thiết bị cháy nổ, vũ khí.

An ninh của huyện, tỉnh đang rải quân đi đến các nhà của nông dân từng đứng đơn đi gặp các cơ quan nhà nước như Thanh tra, Tiếp dân Trung ương Đảng và Nhà nước để khiếu nại, khiếu kiện.

Bà con nông dân Văn Giang đã làm lều trại tại cánh đồng, cờ đỏ đã cắm trên nóc, bay phần phật như báo trước một trận chiến căng thẳng giữa Nông dân và kẻ cướp. Trống chiêng, cuốc xẻng đòn càn …đã sẵn sàng để ra đồng giữ đất.

Ảnh lều bạt, các chiến lũy cây củi, được lập trên các lối đi để sắn sàng cho việc phản đối cướp đất.

http://3.bp.blogspot.com/-qL_oUjGDHUQ/T5…
http://1.bp.blogspot.com/-lLc9eQipnYA/T5…

Các chiến lũy do Dân lập lên.

An ninh đã mang chó rà soát khắp mặt bằng để dò mìn, dò các thiết bị cháy nổ, vũ khí.

An ninh của huyện, tỉnh đang rải quân đi đến các nhà của nông dân từng đứng đơn đi gặp các cơ quan nhà nước như Thanh tra, Tiếp dân Trung ương Đảng và Nhà nước để khiếu nại, khiếu kiện.

Bà con nông dân Văn Giang đã làm lều trại tại cánh đồng, cờ đỏ đã cắm trên nóc, bay phần phật như báo trước một trận chiến căng thẳng giữa Nông dân và kẻ cướp. Trống chiêng, cuốc xẻng đòn càn …đã sẵn sàng để ra đồng giữ đất.

Ảnh lều bạt, các chiến lũy cây củi, được lập trên các lối đi để sắn sàng cho việc phản đối cướp đất.

Theo nguồn tin của Nhân dân cho biết, họ đã sẵn sàng phản đối cưỡng chế và sẵn sàng cho các tình huống xấu.

Bỏ qua tất cả các văn bản trái phép, các sai phạm đã được báo chí vạch ra, Dân thì vẫn đang tiếp tục khiếu kiện các nơi từ Trung ương đến địa phương, các cuộc đối thoại của các cơ quan công quyền với Dân đều thất bại vì chỗ nào cũng có sai phạm. Chính quyền vẫn quyết định cướp đất !

Nhưng hãy cẩn thận ! phóng viên đã có được những tin rất nặng ký từ phía người Dân Văn Giang.

KHẨN !!! – Có chỉ đạo từ Chính phủ đã chỉ đạo xuống Huyện : ” Phương án cưỡng chế phải linh hoạt, tránh diễn ra tình trạng như Tiên lãng Hải Phòng ! “

– Lúc 6 pm 11, phóng viên được biết : tất cả các nhân viên bảo vệ, an ninh phía Chủ đầu tư đều phải nộp điện thoại di động và chờ chỉ đạo nóng của Chủ đầu tư và Chính quyền.

– Các phóng viên của các báo trong nước và Quốc tế đang kéo đến Hưng yên.

– Một Cụ Bô lão 80 tuổi cho biết : Chủ đầu tư lợi dụng chính quyền, dùng danh nghĩa danh nghĩa luật pháp để vơ vét, cướp đất của Dân, chủ đầu tư là trùm xã hội đen tên Dũng ” Air line”, chuyên buôn bán xuyên Quốc tế qua đường hàng không, vợ của chủ là Bích, có khách sạn lớn tại Trần Hưng Đạo Hà nội – Khách sạn Cây cau.

Một cổ đông trẻ là con gái của một lãnh đạo cấp cao đã được lôi kéo vào dự án để cùng xẻ đất của nông dân lấy tiền.

Cụ Bô lão cho hay : tôi đã hoàn thành các nghĩa vụ với Đất nước, đã già rồi và không còn gì để mất, sẽ dùng nốt chút sức tàn cuối cùng để giữ lại mảnh đất cho con cháu !

http://4.bp.blogspot.com/-618wvwbtCZA/T5…
Quang cảnh buổi họp báo do UBND tỉnh Hưng Yên tổ chức, sáng 23.4.2012
http://3.bp.blogspot.com/-vBOL8OgDutQ/T5…
Ông Bùi Huy Thành, Chánh VP UBND tỉnh Hưng Yên
http://4.bp.blogspot.com/-qh2ZP6oxbso/T5…

Bà Đặng Bích Thủy, Chủ tịch huyện Văn Giang tuyên bố: Mọi việc làm của chính quyền đều đúng.

Bổ sung lúc 17h30: Họp báo tại UBND tỉnh Hưng yên. Bùi Huy Thành, Chánh VP UBND tỉnh Hưng Yên và Đặng Bích Thủy Chủ tịch huyện Văn Giang tuyên bố: Mọi việc làm của chính quyền đều đúng. Dân chống lại thì phải cưỡng chế. Lực lượng gồm công an viên của tất cả các xã trong huyện – trừ 3 xã bị cưỡng chế.

Chi tiết thêm

Bộ CA đưa toàn bộ Học viên của 2 trường Cảnh sát. Tất cả mặc cảnh phục để không nhầm lẫn trong cưỡng chế. Sẽ đào một con hào ngăn cách giữa khu dân cư và đất dự án. Muộn nhất là sẽ tiến hành vào sáng mai. Tỉnh thông báo sẽ huy động mọi nguồn lực và sức mạnh trong đêm nay và rạng sáng mai để cưỡng chế bằng được khu vực ba xã Cửu Cao, Phụng Công và Xuân Quan thuộc huyện Văn Giang cho dự án Ecopark.

—–

UBND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên: Ra quyết định cưỡng chế trái luật

Ngày 4-4-2012 và 5-4-2012, UBND huyện Văn Giang ra một số quyết định cưỡng chế đối với một số hộ dân ở xã Xuân Quan để giải phóng mặt bằng, bàn giao đất cho chủ đầu tư. Đáng tiếc đó lại là những quyết định trái luật.

Theo UBND huyện, quyết định cưỡng chế này áp dụng cho 166 hộ gia đình ở xã Xuân Quan để thi hành quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai, giải toả mặt bằng thực hiện bàn giao đất. Các gia đình bị cưỡng chế đều nhận được một quyết định có nội dung giống nhau, thời gian thực hiện từ ngày 20-4-2012, tại xứ đồng Cầu Ván, xã Xuân Quan, huyện Văn Giang.

Các hộ dân cho biết, ngày 4-4-2012, họ nhận được một quyết định cưỡng chế của UBND huyện Văn Giang do Phó Chủ tịch UBND huyện Chu Quốc Hiệu kí. Quyết định gửi cho từng hộ gia đình và lưu văn thư (huyện), căn cứ vào Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18-3-2005 của Chính phủ.

Tuy nhiên, theo Điều 4, Nghị định 37 thì thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế là của Chủ tịch, không phải của Phó Chủ tịch, và theo Khoản 2, Điều 6 Nghị định 37 thì quyết định UBND cấp dưới phải gửi cho UBND cấp trên (UBND tỉnh). Hôm sau, 5-4-2012, các hộ nói trên nhận được quyết định mới với nội dung giống như hôm trước, do Chủ tịch UBND huyện Đặng Thị Bích Thuỷ kí. Như vậy, sai lầm về mặt văn bản, phải do Chủ tịch UBND huyện kí đã được sửa, nhưng yêu cầu gửi cho UBND tỉnh thì chưa sửa, văn bản mới vẫn chỉ lưu văn thư mà không gửi cấp trên.

Trong các quyết định gửi đến hộ gia đình có những hộ gặp phải quy định trái khoáy: Quyết định số 629/QĐ-CCK ngày 5-4-2012 gửi ông Lê Văn Tuệ, nhưng mọi chi phí liên quan đến việc cưỡng chế lại do ông Đàm Văn Lâm chi trả(?). Điều này cho thấy UBND huyện Văn Giang cương quyết cưỡng chế, không cần kiểm tra xem việc cưỡng chế có đúng đối tượng không, có phù hợp với pháp luật hay không?

Trở lại Dự án xây dựng Khu đô thị – thương mại – du lịch Văn Giang (Ecopark), trong bài “Vì sao các hộ dân ở Văn Giang (Hưng Yên) khiếu nại kéo dài?”, Báo Người cao tuổi số 38, ngày 30-3-2012 đã chỉ ra nhiều sai phạm của dự án.

Bài báo nêu bật nội dung Thông báo số 168/TTCP-V4 ngày 26-1-2007 của Thanh tra Chính phủ, chỉ đạo UBND tỉnh Hưng Yên phải “giải quyết kịp thời kiến nghị chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận của nhân dân trong quá trình đầu tư xây dựng khu đô thị…”. Ngày 12-4-2012, huyện Văn Giang tổ chức cuộc đối thoại của Thanh tra Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung ương, các cơ quan hành chính ở Hưng Yên với nhân dân Văn Giang.

Những tưởng đây là dịp để các cơ quan có thẩm quyền ở Hưng Yên “giải quyết kịp thời kiến nghị chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận của nhân dân” như chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ thì bà Chủ tịch UBND huyện lại nói rõ “chỉ đối thoại với 166 hộ gia đình liên quan đến việc cưỡng chế 72 ha đất để bàn giao cho chủ đầu tư”, không chấp nhận đối thoại với những hộ không nằm trong khu vực cưỡng chế vào ngày 20-4-2012 sắp tới. Thực chất đã rõ, huyện Văn Giang không “đối thoại”, chỉ “cưỡng chế”!

Để ra quyết định cưỡng chế đúng luật, quá trình thực hiện bất cứ dự án nào cũng phải tuân theo các quy định của nhà nước: Họp dân phổ biến nội dung dự án, ra quyết định thu hồi đất, quyết định giao đất, thảo luận với các hộ dân về phương án đền bù, tái định cư. Những dự án kinh doanh (như dự án Ecopark) thì Nhà nước không thu hồi đất, mà chỉ làm trọng tài để nhà đầu tư thoả thuận với dân. Nguyên tắc là khi giải phóng mặt bằng, người dân khi đến nơi ở mới phải có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ…

Nhìn vào dự án Ecopark những điều nói trên hoàn toàn vắng bóng. Quyết định cưỡng chế của UBND huyện Văn Giang không đúng luật, không hợp lí, không hợp tình, không vì lợi ích của nhân dân mà chỉ phục vụ “lợi ích nhóm” nào đấy, trong đó có chủ đầu tư dự án.

Phan Hương – Ngọc Phi

——

Vì sao các hộ dân ở huyện Văn Giang (Hưng Yên) khiếu nại kéo dài?

Khi thực hiện Dự án, người dân không được thông báo về lí do thu hồi đất, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại trước khi thu hồi.

Tại cuộc họp tiếp dân của Chủ tịch UBND xã Phụng Công ngày 17-8-2006 khi người dân hỏi vì sao không được biết về dự án thì ông Nguyễn Văn Tắng, Chủ tịch UBND xã nói: “Về quy hoạch dự án thì cả tôi cũng không được biết hoặc tham khảo gì…”. Có người hỏi thêm: Vậy Điều 28, Luật Đất đai không có ý nghĩa gì hay sao? Câu này không có ai trả lời.

Các hộ dân cho biết: Toàn bộ các hộ sử dụng đất đều có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng tỉnh Hưng Yên đã giao đất cho chủ đầu tư mà không ra quyết định thu hồi đất. Điều 21 Luật Đất đai 1993 quy định: “Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó”. Xem ra, UBND tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang đã bỏ qua rất nhiều quy định pháp luật mà Nhà nước đã ban hành.

Do việc thực hiện Dự án có nhiều điều vi phạm pháp luật, các hộ dân ở ba xã kiên trì, liên tục khiếu nại lên các cấp ở Trung ương. Ngày 26-1-2007, Thanh tra Chính phủ ra Thông báo số 168/TTCP-V4 chỉ ra một số sai phạm trong quá trình thực hiện Dự án và chỉ đạo tỉnh Hưng Yên “Tập trung chỉ đạo tốt việc tuyên truyền nhân dân ba xã vùng dự án về chủ trương đầu tư dự án, bảo đảm lợi ích hài hoà của Nhà nước, nhân dân và nhà đầu tư, giải quyết kịp thời kiến nghị chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận của nhân dân trong quá trình đầu tư xây dựng Khu đô thị Thương mại – Du lịch Văn Giang…”.

Tuy nhiên, các hộ dân cho biết, chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ không được tỉnh Hưng Yên tiếp thu và thực hiện nên nhân dân vẫn phải tiếp tục đội đơn khiếu nại ở các cơ quan có thẩm quyền.

Ngọc Phi

Nghe Trịnh Công Sơn, nghe Việt Khang

22 Mar

THỨ SÁU, NGÀY 30 THÁNG BA NĂM 2012

BỐN CÔ GÁI VIỆT NAM XINH ĐẸP

Có những cô gái Việt Nam đứng xếp hàng cho đàn ông nước ngoài chọn mua về làm vợ
Có những cô gái Việt Nam bị khinh bỉ, xăm soi khi trình hộ chiếu VN để nhập cảnh vào Mã Lai, Singapore, Hàn Quốc…
Có những cô gái đáng thương khác phải bán mình kiếm sống trong những điểm mát xa trá hình, trong những quán bia ôm dâm loạn…
Có những cô gái phải cam phận làm nô lệ tình dục ở quê người thông qua các đường dây buôn bán phụ nữ qua biên giới.
Có những cô gái làm đĩ cao cấp bằng cách khoe mông, khoe ngực, tạo xì căng đan để mồi chài các đại gia lắm tiền nhiều của.
Có những cô gái khóc ngất lên khi gặp được sao Hàn.
Có những cô gái còn ở tuổi học trò đã sẵn sàng xông vào cấu xé, lột truồng, nhục mạ nhau chỉ vì ganh ăn, ghét ở.
Có những cô gái thí đời vào những cuộc vui thâu đêm suốt sáng trong những tụ điểm ăn chơi để quên đi thực tại.…
Những cô gái như vậy sẽ luôn hiện lên trên các dòng tin của hệ thống báo đài. Những dòng tin nhói đau ấy như những nhát bút tối màu tạo nên những gom u ám trên bức tranh toàn cảnh của một xã hội vôn không mấy sáng sủa.
Tuy vậy vẫn có những cô gái trẻ khác mà vẻ đẹp của  họ như những tia sáng chiếu xuyên qua bức màn đêm mang lại niềm tin tươi sáng vào thệ trẻ trong chúng ta.

Cô gái đầu tiên mà không hiếm người biết đến là luật sư Lê Thị Công Nhân. Hãy hiểu về cô qua những gì ghi trên tự điển bách khoa Wikipedia:

Tiểu sử
Lê Thị Công Nhân sinh tại Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, Việt Nam; trú tại tập thể Văn phòng Chính phủ, phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội, xuất thân trong một gia đình công nhân viên chức và tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội năm 2001.
Năm 2004, cô tốt nghiệp lớp luật sư và công tác tại bộ phận thư ký quan hệ quốc tế, Văn phòng Đoàn Luật sư Hà Nội. Năm 2005, thôi việc tại Văn phòng Đoàn Luật sư Hà Nội để về làm việc tại văn phòng Luật sư Thiên Ân.
Lê Thị Công Nhân là thành viên của Khối 8406 và đồng thời là đảng viên của Đảng Thăng Tiến Việt Nam.
Lê Thị Công Nhân bị bắt tạm giam tại Hà Nội vào ngày 6 tháng 3 năm 2007 vì bị cáo buộc hoạt động « tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam », và bị xóa tên khỏi danh sách Đoàn Luật sư Hà Nội.[1]

Vào ngày 11 tháng 5 năm 2007, sau hơn hai tháng tạm giam, cô và Nguyễn Văn Đài được đem ra xét xử, bị kết án 4 năm tù giam và 3 năm quản chế[2]. Ngày 06 tháng 03 năm 2010, Lê Thị Công Nhân đã thi hành xong 3 năm tù, cô được thả về và chịu sự quản chế tại địa phương.
[sửa]Hoạt động
Lê Thị Công Nhân tham gia phong trào đòi đa nguyên, đa đảng. Lê Thị Công Nhân đã từng viết tham luận, nội dung tố cáo Tổng Công đoàn Việt Nam hiện nay không bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền và kêu gọi thế giới hỗ trợ cả tinh thần lẫn vật chất để lập ra những công đoàn độc lập cho công nhân Việt Nam, thể hiện đúng chức năng của Đảng Cộng sản Việt Nam được nêu trong điều 4 Hiến pháp Việt Nam 1992[3]. (« Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. »)
Cô là phát ngôn viên công khai của Đảng Thăng Tiến Việt Nam[4][5], cô đã trả lời một số cuộc phỏng vấn của các đài và báo chí ngoại quốc và viết bài nói về thực trạng của Việt Nam[6]. Vào tháng 12 năm 2006, trả lời cuộc phỏng vấn hội đoàn Lên Đường ở hải ngoại với những lời lẽ phê phán chỉ thị số 37/2006/CT-TTg củaThủ tướng chính phủ về việc quy định một số biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí, cô nói: « Là một luật sư thì tôi xin khẳng định với những hiểu biết cá nhân của mình rằng chỉ thị 37-TTG ngày 29/11/2006 là hoàn toàn vi hiến ». [7]
Cô đã được mời tham dự Hội nghị Công đoàn Tự do tổ chức tại Warszawa, thủ đô của Ba Lan, (28 – 30 tháng 10 năm 2006), nhưng cô không tham dự được vì bịcông an giữ lại trước khi lên máy bay. [8]
Từ đầu tháng 12 năm 2006 đến tháng 2 năm 2007, cô đã cùng luật sư Nguyễn Văn Đài tổ chức các lớp học về dân chủ và nhân quyền, vận động giới thiệu các tổ chức như Đảng Dân chủ, Đảng Thăng Tiến Việt Nam, Khối 8406… cho một số sinh viên, trí thức và người khiếu kiện, tại văn phòng luật sư Thiên Ân…

Người con gái thứ hai là Đỗ thị Minh Hạnh.

Hãy biết về cô qua ghi chép của Bác 8 Bến Tre:
Minh Hạnh (MH) sinh ngày 13-3 năm 1985 trong một gia đình cả cha mẹ đều là cán bộ Cộng Sản ở Di Linh, Lâm Đồng. Năm 18 tuổi cô đã bắt đầu hoạt động bênh vực cho những người dân oan Lâm Đồng làm đơn khiếu kiện đât đai. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, MH vào Sài Gòn tiếp tục học trường Cao Đẳng Kinh tế.
Năm 2005 cô đến Hà Nội giúp đỡ dân oan khiếu kiện đất đai và bị án 3 tháng tù giam. Khi hay tin chánh quyền CSVN cho Trung quốc đầu tư khai thác Bauxit tại Tây nguyên, cô đã bí mật cùng Nguyễn Hoàng Quốc Hùng đến tận nơi chụp ảnh các nông trường của TQ tại đây và chuyển đi toàn cầu qua mạng Internet.
Năm 2007 MH đã tổ chức cho công nhân người Việt bị áp bức tại công ty nước ngoài để biểu tình và đình công để được tăng lương và an toàn lao động. Tháng 12 năm 2009 cô đã bí mật đi đường bộ sang Cambuchia, Thái Lan để đến Malaysia tham dự đại hội kỳ 2 của Ủy ban về người lao động Việt nam.
Những hoạt động yêu nước đó của Minh Hạnh đã đẩy cô vào tù. Vào ngày sinh nhật thứ 27 của Minh Hạnh, tác giả Ngô An viết những giòng sau đây về cô:
Hôm nay – ngày 13 tháng 3 – sẽ là một ngày rất bình thường nếu tôi không biết Hạnh. Tôi còn nợ cô bé ấy nhiều lắm. Có nhiều điều còn nhớ mãi, có những chuyện sẽ không thể nào quên. Thế nhưng, Hạnh vào tù đã được 3 năm, tôi chưa bao giờ viết được một bài trọn vẹn cho em. Có lẽ, tình càm tôi dành cho Hạnh đã bão hòa, đã đầy ắp để mỗi con chữ về Hạnh cũng là thừa. Có lẽ, tôi nhìn thấy sự thừa thãi trong những dòng chữ của mình vì đã có nhiều người viết về Hạnh mặc dù họ chưa được gặp em một lần. Mặc dù họ chưa được một lần nghe Hạnh hát, những bài hát do em tự đặt lời, giọng tự nhiên, trong sáng, không chải chuốt. Nhưng, quả thật, những dòng chữ họ dành cho Hạnh thật ấm áp, thật nghĩa tình như đã quen Hạnh từ lâu.
……………
Những ai đã có lần biết Hạnh, có lẽ sẽ nhớ mãi đôi mắt long lanh sáng của em chứa cả một bầu tâm huyết, Hạnh tin ở con người, cuộc sống, Hạnh tin mãnh liệt ở lý tưởng và điểm đến trên con đường chông gai mà em đã chọn. Bởi đó là hoài bão của em. Hoài bão của Hạnh không phải là một người chồng giàu, một căn nhà đẹp mà là một cuộc sống công bằng, cơm no cho người nghèo, áo ấm cho kẻ không nhà. Và em đã chọn một lối đi riêng cho mình – không giống những cô gái đồng trang lứa – để thực hiện hoài bão đó.
Tác giả Vũ Đông Hà viết về Minh Hạnh: « Hạnh đã cùng với Hùng lên đường, phẫn nộ nhưng không hận thù, hiền hòa nhưng dũng cảm, chông gai nhưng không khiếp nhược, thất bại nhưng không sờn lòng »
Thi sĩ Trần Trung Đạo đã viết « Mấy vần thơ cho Đỗ thị Minh Hạnh »:

Đất nước mình không có hôm nay
Nếu hai ngàn năm trước không có bà Trưng, bà Triệu
Và sẽ tiếp tục sống trong độc tài nô lệ
Nếu không có những người con gái như em
Dòng sông dài và phiến đá chông chênh
Nhưng nếu tất cả đều co ro, sợ hãi
Nếu tất cả đều đứng nhìn, e ngại
Dân tộc này rồi sẽ ra sao?
……….
Lịch sử đang chờ em để bước sang trang
Dân tộc vịn vai em để đi cùng nhân loại
Những người chết đang bắt đầu sống lại
Những người đi đang lần lượt quay về
…………….
Và Hạnh đã viết trong thư gởi mẹ từ trong tù:
“Má ơi, con rất là đau buồn, con không buồn thân thể con, ở tù bao nhiêu năm cũng được… Họ bảo con hãy nhận tội đi rồi sẽ được giảm xuống 4 năm, nhưng không, ở đời thì chết chỉ có một lần mà thôi… để cho họ thấy rằng, họ không được phép coi thường tinh thần bất khuất của dân tộc. Mỗi dân tộc, mỗi một con người, nhất là người lãnh đạo đất nước phải biết rằng « Đặt quyền lợi và danh dự của tổ quốc lên trên quyền lợi cá nhân của mình chứ…”

Người con gái thứ ba tôi muốn nói đến là Trịnh Kim Tiến. Cha già bị công an vô cớ đánh chết, cô gạt những giọt nước mắt bi thương, lao ra đường cùng bạn bè tham gia hầu hết những cuộc biểu tình chống Trung Cộng xâm lược.
Sắp bước lên xe hoa về nhà chồng nhưng cô gái trẻ vẫn đau đáu với quê hương. Bài viết mới nhất của cô đăng trên Face book:

Chắc chắn rằng không chỉ mình tôi mà tất cả mọi người, ai cũng đều mong mỏi đất nước của mình một ngày nào đó “sánh vai cường quốc năm châu”, vươn đôi vai ngang tầm thế giới.

Nhưng một điều thật đáng buồn, những vấn nạn xã hội, kinh tế, văn hóa đã khiến hình ảnh của đất nước, dân tộc Việt Nam xấu đi quá nhiều trong mắt bạn bè Quốc tế. Khi người Việt cầm visa, hay hộ chiếu của mình qua các nước du lịch, đi học cũng như định cư , họ thường bắt gặp những ánh mắt kì lạ nhìn về phía họ.

Phải chăng do nhiều yếu tố  khiến chúng ta thua kém bạn bè. Người Việt ta vốn dòng máu Lạc Hồng, truyền thống  ngàn năm văn hiến, tôi tin rằng chúng ta không bao giờ bằng lòng và chấp nhận điều đó.

Từ những thứ nhỏ bé nhất như gánh hàng rong ở Việt Nam cho đến những hãng hàng không  cũng có những chênh lệch với nước bạn.
Và tấm lòng của cô với những thân phận nghèo khó:

Không chỉ đọc, mà thực sự tôi còn chứng kiến nhiều lần những cảnh tượng nhức nhối xót thương.  Mỗi buổi chiều tôi thường cùng mẹ sang bên ngõ chợ mua đồ ăn, nhìn thấy hình ảnh những người phụ nữ gày gò, đen xạm , ôm chặt quang gánh chạy thật nhanh mỗi khi thấy chiếc xe đồn của phường đi đến dẹp chợ, đến mức rơi cả một chiêc dép bên chân lại. Cứ như thể họ đang đi chạy nạn, tránh bom đạn hay đang bị cướp giật. Những dân phòng, công an phường tay cầm dùi cui, vẻ mặt dữ dằn nhìn những người phụ nữ đang thi nhau chạy hàng. Có đôi khi có những sự giằng co, van xin kịch liệt diễn ra giữa đôi bên nếu những người phụ nữ đó không kịp chạy. Những giọt nước mắt tức tưởi, cay đắng, ngậm ngùi đôi gánh hàng rong nuôi lớn con từng ngày .
Và ước mơ của cô:
Không biết đến bao giờ đất nước tôi  có thể vươn lên tầm cỡ thế giới, nhưng tôi thực sự mong có một ngày, một ngày như thế. Một ngày trên khuôn mặt của những người dân tôi không phải là những nét măt u sầu, ủ rũ mà là những nụ cười hạnh phúc, yên vui. Con người được tôn trọng cùng với nghề nghiệp mà họ đã bỏ sức ra lao động chính đáng kiếm tiền lương thiện.
Hãy cho tôi, thế hệ của tôi còn được sống trong niềm hãnh diện về dân tộc và đất nước thân yêu của chúng tôi.

Người con gái thứ tư mà rất nhiều người biết đến và cảm phục là Huỳnh Thục Vy. Cô còn khá trẻ mà những bài viết của cô về đất nước, về hiến pháp, về dân chủ, về nhà nước pháp quyền…uyên bác, sắc sảo đến không ngờ. Không những chỉ viết, cô gái trẻ ấy đã sống rất kiên cường. Cô dũng mãnh nhìn thẳng vào bạo quyền và đối chọi lại không một chút nao núng.
Sau đây là một số đoạn trích trong bài “Tính chính danh của Hiến Pháp”mà cô vừa viết trên BBC:
Dù có xuất phát từ nhu cầu hay tình trạng nào, khi một thực thể chính trị mang vào mình cái vai trò của một Nhà nước thì bản thân nó phải có khả năng tự vận động để thực hiện những chức năng bắt buộc, nhằm có được lý do chính đáng cho sự tồn tại của mình.
Nếu thiếu đi những lý do này, Nhà nước sẽ chỉ tồn tại trong sự bất chính. Những lý do đó là: sự đồng thuận trao quyền của người dân, sự hoàn thành tốt các chức năng quản lý và phát triển xã hội của Nhà nước đó, và cuối cùng là sự đảm bảo trách nhiệm bảo vệ chủ quyền Quốc gia và thiết lập sự hiện hữu hài hoà của cộng đồng mà nó quản lý với cả cộng đồng nhân loại.
Dù được thành lập theo cách nào, một chính quyền chính danh phải có được những điều kiện trên, hoặc tiến hành càng sớm càng tốt những thay đổi để có được những điều kiện đó.
Các chế độ độc tài được kiến lập từ sự trao quyền của người dân thông qua một cuộc bầu cử mang tính mị dân, như trường hợp cuộc bầu cử năm 1998 đưa Hugo Chavez của Venezuela lên cầm quyền, thường không có được những nhận thức sâu sắc về sự kiện trao quyền quan trọng này.
« Một khế ước phải có hai bên tham gia, hai bên phải đặt bút ký kết »
Thậm chí những kẻ độc tài mới trỗi dậy nhờ một cuộc bầu cử mị dân như thế sẽ cảm thấy đắc ý với những chiêu thức lừa bịp dân chúng ngoạn mục của mình chứ không phải cảm thấy vinh hạnh vì được lên cầm quyền nhờ sự trao quyền nghiêm túc bằng cả ý thức và tinh thần trách nhiệm của người dân như trong chế độ dân chủ tự do thực sự. Vì thế, đối với những kẻ độc tài này, nhân dân và quyền lực xuất phát từ nhân dân chỉ là một trò cười, là một thứ để hắn ta lợi dụng.

Ở mức độ nghiêm trọng hơn, các chế độ hình thành từ « cướp chính quyền » như kiểu cách mà những người Cộng sản Việt Nam đã làm để lên nắm quyền, càng không nhìn nhận vai trò của sự trao quyền này bởi cái tâm thức rằng: chính quyền là do họ cướp được chứ không phải do người dân giao phó cho…Vì thế khi đã nắm được quyền lực trong tay, những kẻ chuyên quyền sẽ sử dụng quyền lực và các nguồn lực Quốc gia như thứ tài sản riêng, bất chấp lợi ích của đại đa số người dân và vận mệnh của cả dân tộc.
Ấy thế nhưng, bất cứ thực thể nào trong thế giới tồn tại được và có thể tồn tại lâu dài cũng chỉ vì nó có lý do để đảm bảo cho sự hiện hữu của mình. Thiếu đi tính chính đáng và sự chính danh thì sự tồn tại này chỉ là một chuỗi những nỗ lực bám víu khó khăn và tiềm ẩn nhiều nguy cơ.
Bởi vậy, ta không ngạc nhiên khi tất cả các chế độc độc đoán đều sợ bị lật đổ. Nỗi sợ hãi này xuất phát từ bản chất bất chính của nó. Ngai vàng đặt trên sự lừa bịp, các vấn nạn xã hội, sự không cân xứng và hài hoà của các thiết chế xã hội, sự nghèo khổ và mất tự do của người dân trở thành một thứ quyền lực đáng thèm khát nhưng đầy bất hạnh của những kẻ khát quyền lực và của cải bất chính.

Bốn cô gái trẻ yêu nước và rất đẹp ấy  đang đối mặt với những thách thức phi lý không cần có. Một cô đang ở trong tù, chịu sự đối xử khắc nghiệt và tàn nhẫn. Một cô đã ra khỏi tù nhưng bị quản thúc nghiêm ngặt. Một cô phải luôn luôn đương đầu với mọi rắc rối đang vây quanh, mỗi bước đi của cô đều có người theo dõi, mọi phương tiện viết lách và giao tiếp của cô đều bị tịch thu, cả gia đình cô đang đối đầu với hình phạt nặng nề về tài chính, sắp bị cưỡng chế đến nơi…
Những cô gái ấy đang rất khó khăn. Các cô không được tự do, thoải mái như các cô gái khoe mông để câu đại gia, như các cô gái ngất xỉu vì gặp được sao Hàn, như các cô gái suốt ngày chỉ biết ăn diện và đi shopping…Trong xã hội đầy nghịch cảnh như hiện nay, các cô gái trẻ có thể tự do làm mọi việc, kể cả những việc suy đồi bại hoại, ngoại trừ việc yêu nước theo kiểu cách của riêng mình.
Vì vậy bốn cô gái xinh đẹp, yêu nước theo cách thức của riêng mình nói trên đang bị bao vây, ngăn chận. Nhưng không vì thế mà những tia sáng chói lọi  phát ra từ tâm hồn thanh cao và  trí tuệ sáng rỡ của các cô không xuyên qua được bức màn u ám để mang lại sự lạc quan cho mọi người.
Tôi vẫn tin vào thế hệ trẻ Việt Nam.

http://huynhngocchenh.blogspot.fr/2012/03/bon-co-gai-viet-nam-xinh-ep.html

Nhớ Trịnh Công Sơn

Trần Mạnh Hảo (Danlambao) – Mười một năm qua, Trịnh Công Sơn đã đi vào cõi bất tử. Anh chọn ngày cá tháng tư- ngày nói dối toàn thế giới để ra đi. Hóa ra, tin anh đi khỏi cuộc đời này, về thực chất là một tin bịa đặt. Trịnh Công Sơn không bao giờ chết khi các ca khúc tuyệt vời của anh còn sống mãi với dân tộc.

Trịnh Công Sơn là bạn với cả nước. Hỏi có gia đình Việt nào không một lần mê mẩn vì các ca khúc “gây nghiện” của anh… Trong chừng mực ấy, kẻ viết bài này cũng là bạn của Trịnh.
Nhớ cuối năm 1992, ngồi uống café với Trịnh Công Sơn trước Hội Âm nhạc TP.HCM. Anh bảo: “Hảo có thơ gì mới đọc cho mình nghe với?”. Hầu như lần nào gặp nhau, có cơ hội yên lặng là anh hỏi tôi có làm được bài thơ nào mới, đọc cho “moi” nghe chơi! Thơ phú lênh láng một hồi xong, Trịnh Công Sơn bảo: “Mình sắp in một tập nhạc có tựa đề: “Bên đời hiu quạnh”, đã xin được giấy phép, do Hội Âm nhạc thành phố đứng ra in, đây là tập nhạc đầu tiên của mình được phép ra trong chế độ mới ( CS) nên phải cẩn thận. Từng bản nhạc đã được “cơ quan chức năng” duyệt, kể cả lời tựa do bạn mình là Bửu Ý viết. Mình muốn Hảo viết cho mình mấy dòng in trân trọng nơi bìa bốn, đồng ý chứ?”. Tôi hơi bất ngờ, bảo anh: “Anh Sơn này, theo Hảo, anh nên mời anh Nguyễn Quang Sáng hoặc anh Nguyễn Duy, hai bạn nhậu của anh viết cho có phải thú vị hơn không?”. Anh Sơn bảo: “Sáng và Duy có viết về mình mấy bài in báo, nhưng dài quá, không thể trích mấy dòng nơi bìa bốn của tập nhạc được; vậy “moi” mới nhờ Hảo, cũng muốn có một kỷ niệm với Hảo cho vui…”. Tôi đồng ý !

Hai ngày sau tôi chưa kịp viết thì anh Trịnh Xuân Tịnh, người em trai thứ hai của anh Sơn tìm tôi giục, rằng: “Bìa một đã làm, anh Sơn bảo chờ mấy dòng của anh Hảo mới làm tiếp bìa bốn của tập nhạc…”. Tôi ngồi viết ngẫu hứng mấy dòng sau đưa cho anh Tịnh :“Nghệ thuật hi vọng của Trịnh Công Sơn là nghệ thuật băng qua tuyệt vọng, có đi qua lò bát quái của phần số, nhân tính mới còn cơ phát lộ. Trong lò lửa luyện ngục của anh, chúng ta được gặp cái mát lành của tuyết đầu mùa. Anh chỉ ra rằng băng tuyết cũng có thể dùng để sưởi ấm. Anh làm ta tin vào khả năng lặng im của loài quạ. Thực ra thiên chức của nghệ thuật là thức tỉnh nỗi cô đơn cùng tận của con người. Chính cô đơn là hình ảnh tư duy của chàng Hamlet. Chừng như sự chết và hư vô là hai tên gọi khác của nỗi cô đơn? Thức tỉnh nỗi cô đơn, nghệ thuật đồng thời cũng thức tỉnh cả cái chết và niềm hư vô. Âm nhạc của Sơn làm ta có cảm giác vừa rơi lên đỉnh vực nỗi cô đơn. Chỉ có thể đi hết cái tôi, chúng ta mới có cơ gặp cả loài người”– Trần Mạnh Hảo 10-1992 (Bìa bốn, tập nhạc BÊN ĐỜI HIU QUẠNH –TRỊNH CÔNG SƠN -Tình khúc -Nhân Bản 1973-Hội Âm Nhạc TP-Giấy phép xuất bản số 345 ngày 9 tháng 01 năm 1993- In và nộp lưu chiểu tháng 06 năm 1993).

Bằng thiên tài của mình, quả thực Trịnh Công Sơn đã đi hết nỗi cô đơn kiếp người, đi hết niềm hư vô và đi băng qua cái chết để đến với sự bất tử của anh trong lòng dân tộc Việt Nam và thế giới. Trịnh Công Sơn không chỉ là một hiện tượng âm nhạc hậu bán thế kỷ thứ XX của Việt Nam; anh còn là một hiện tượng văn hóa của dân tộc đau thương và bất hạnh vào bậc nhất của thế giới này. Tuồng như không phải anh cô độc ôm đàn hát lên nỗi niềm day dứt mê ly của mình mà chính là những vết thương của lịch sử đang cất tiếng hát, vết thương của nỗi cô đơn, vết thương của tình yêu, vết thương của bất hạnh và hạnh phúc, vết thương của vô thường, vô ngã, vô vi, vô ưu, vô vọng, vô biên, vô lượng… cùng cất tiếng hát.
Trịnh Công Sơn, chính anh mới là cây đàn của mẹ Việt Nam. Mẹ Việt Nam đã ôm anh vào lòng như bức tranh người đàn ông ôm cây Tây Ban Cầm của Pablo Picasso để hát lên tình yêu và nỗi buồn vô tận của kiếp người. Hay nỗi buồn mượn anh mà hát lên những giai điệu có thể làm “đá ngây ngô” cũng ứa nước mắt ? Hay cỏ cây, mây trời, núi sông, ruộng đồng… đã mượn anh mà hát lên nỗi niềm vạn thưở của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…?
Âm nhạc của Trịnh Công Sơn không chỉ là ma thuật giai điệu hài hòa với phần lời rất thi ca sâu thẳm mà còn là thiền học, triết học cất lời, rót vào tâm hồn người cả nỗi ưu tư của đất trời, những thắc thỏm, u hoài trần thế, những băn khoăn, day dứt, sầu thương, hoài vọng, hoài nghi, hụt hẫng, ngơ ngác nhân sinh. Tôi cho rằng một số nhạc sĩ chê phần nhạc của Trịnh Công Sơn là đều đều, đơn điệu… là vô căn cứ nếu không phải là do đố kị tài năng. Nhạc Trịnh bỏ lời đi, vẫn vô cùng quyến rũ, vẫn làm mê mẩn hàng triệu người. Phần lời của nhạc Trịnh quả tình siêu việt, là thi ca được hát lên. Bằng chứng là rất nhiều bài hát Trịnh Công Sơn được hòa tấu không lời vẫn cứ tuyệt vời, làm thổn thức hàng triệu triệu trái tim người nghe.
Đánh tên Trịnh Công Sơn lên công cụ tìm kiếm Google, sẽ thấy rất nhiều bài báo vu cho Trịnh là Việt Cộng nằm vùng, là tên văn công hạng bét, là phản bội Việt Nam cộng hòa, nơi đã sản sinh ra thiên tài Trịnh… Ngay cả một người bạn thân của anh Sơn là họa sĩ T.C. cũng cho Trịnh có ý đồ chính trị…Không, Trịnh Công Sơn trước hết là một con người phi chính trị, một văn nghệ sĩ thuần túy. Âm nhạc của anh vượt lên mọi đối kháng chính trị trong suốt cuộc chiến Việt Nam. Nếu Trịnh từng là Việt Cộng nằm vùng, không đời nào năm Mậu Thân 1968, anh lại viết bài hát “Tôi đã thấy”: “Chiều đi lên Bãi Dâu hát trên những xác người…” than khóc cho hàng nghìn người bị quân đỏ tàn sát? Nếu Trịnh là Việt Cộng nằm vùng, không bao giờ anh viết về cuộc chiến Việt Nam là: “hai mươi năm nội chiến từng ngày”? Nếu Trịnh là Việt Cộng, không bao giờ anh dám viết bài hát (Requiem – Kinh cầu hồn) “Cho một người nằm xuống” là đại tá Lưu Kim Cương bị quân đỏ bắn chết năm Mậu Thân 1968 tại sân bay Tân Sơn Nhất? Nếu Trịnh là Việt Cộng nằm vùng, sau năm 1975, sinh viên Huế sao lại dám mang nhạc anh ra đấu tố, anh phải đi lao động cải tạo trồng sắn trên núi; và quan trọng hơn là nhạc của anh mấy năm liền vẫn bị cấm hát? Anh phải bỏ Huế vào Sài Gòn sống với mẹ và các em.
Sau năm 1975, tôi có dịp sinh hoạt chi bộ với nhà văn Nguyễn Quang Sáng lúc anh Sáng bắt đầu cặp kè với Trịnh Cộng Sơn như bóng với hình. Chi bộ hỏi anh Sáng về chuyện đó, anh Sáng khai: “Thành ủy và anh Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) chỉ thị cho tôi bám sát Trịnh Công Sơn để lôi kéo anh ta về phía cách mạng. Trên bảo: nhạc sĩ này là thành phần đáng ngờ, có thể anh ta từng làm việc cho CIA, cần phải theo dõi anh ta trong mọi nơi mọi lúc”. Có thể vì chưa hiểu được nhiệm vụ cách mạng này của nhà văn Nguyễn Quang Sáng mà nhà văn Đặng Tiến (bên Pháp) mới viết rất không đúng rằng: “Nguyễn Quang Sáng và Nguyễn Duy điếu đóm cho Trịnh Công Sơn” chăng? Có thể vài bài hát của Trịnh Công Sơn như: “Huyền thoại mẹ”,” Em ở nông trường em ra biên giới”, “Ngọn lửa Matxcơva”… anh làm trong lúc bị “phê” rượu Tây với sự tranh thủ hết sức thân tình của Nguyễn Quang Sáng chăng? Nếu anh Sơn là Việt Cộng, anh đã để cho nhà nước tổ chức đám tang mình ở Hội văn nghệ hay tại nhà tang lễ Lê Qúy Đôn giành cho những cán bộ công khai và cán bộ ngầm có công với hai cuộc kháng chiến. Anh Sơn trối lại cho các em là tang lễ anh sẽ chỉ tổ chức tại nhà mình 37D Phạm Ngọc Thạch mà thôi! Nếu anh Sơn là Việt Cộng nằm vùng, ít nhất anh đã được giải thưởng quốc gia về văn học nghệ thuật?
Trịnh Công Sơn không phải người của quân đỏ hay quân xanh. Anh là con của mẹ Việt Nam, đến đất mưa bom bão đạn này để hát lên niềm hi vọng về nỗi tuyệt vọng con người, hát lên tình yêu bi thảm kiếp người, hát lên nỗi buồn mang mang thiên cổ nhân sinh của một gã du tử đến từ khu vườn các thiên sứ.
Chừng như từ khi sinh ra Trịnh Công Sơn đã bị thần thi ca, thần âm nhạc Apollon cướp mất cả hồn xác, biến anh thành âm nhạc, thành thi ca thuần túy. Bao nhiêu người đàn bà đẹp mê anh, yêu anh chừng như đã không giành được thân xác anh và linh hồn anh mãi mãi? Tình yêu anh đã hiến tế cho âm nhạc, thi ca, cho triết học, thiền học, không còn chỗ cho phái đẹp cư trú. Những người đàn bà ghé qua âm nhạc anh trú ngụ ít ngày rồi cũng “bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”. Nói cho cùng, tình yêu của Trịnh Công Sơn dành cho các người đẹp là một tình yêu thiên sứ. Mà thiên sứ thì chỉ yêu bằng tâm hồn thôi! Còn thể xác anh đã tận hiến cho đất trời, cho cát bụi, cho Phật, cho Chúa… cho âm nhạc của mình muôn thưở trường tồn cùng dân tộc Việt Nam. Mười một năm trước, Trịnh Công Sơn đã mang nguyên vẹn niềm trinh nguyên thiên sứ của mình về với cát bụi để mãi mãi thủy chung cùng cõi hư vô, thủy chung cùng thần Apollon mà bất tử với cây đàn Lia vĩnh cửu trên Niết Bàn ẩn cư trong trái tim mỗi người Việt yêu nhạc Trịnh…
Sài Gòn ngày 30-03-2012

Nghe Trịnh Công Sơn, nghe Việt Khang

Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) – Cứ mỗi lần nghe hai bài hát của Việt Khang “Anh Là Ai” và “Việt Nam Tôi Đâu”, người viết lại liên tưởng đến nhạc Trịnh Công Sơn ngày nào. Cả hai người nghệ sĩ đều mượn nốt nhạc để dàn trải tâm sự, cất lên nỗi niềm trăn trở về Dân tộc và Đất nước. Chỉ khác nhau ở chỗ mỗi người mỗi vẻ. Một người thì tìm chốn an thân (trốn quân dịch= trốn nghĩa vụ quân sự) ngồi đó mà thở than; người kia thì, “tôi không thể ngồi yên”, xuống đường tranh đấu.
“Ngày nào” là trước Tháng Tư 1975. Thời đó, tuy chưa có internet, chưa có Ipod, nhưng nhạc Trịnh Công Sơn hay bất cứ nhạc sĩ nào khác, muốn hay không muốn ai cũng có thể được/bị nghe, nhờ Miền Nam có nền truyền thông và văn nghệ tự do. Bọn lính chiến chúng tôi, khi những cuộc hành quân dài ngày chấm dứt, những người sống sót trở về thành phố dưỡng quân. Sau vài ba ngày đầu sống vội vã “trả bữa”cho thời gian đã mất và nhận “ứng trước” cho cả ngày mai “rồi anh lại đi” biết có còn trở về, thường tìm đến quán cà phê để nghe nhạc, thư giản lại đầu óc căng thẳng bên ly cà phê, khói thuốc lá, và những chàng độc thân thứ thiệt hay độc thân tại chỗ “vui tính” nhâm nhi thêm mái tóc, ánh mắt, nụ cười, bờ vai, lồng ngực… của cô « em gái hậu phương » ngồi nơi quầy thu tiền chập chờn dưới ánh đèn mờ…
Những bản nhạc bọn chúng tôi muốn nghe nhất lúc đó phần lớn là của Trịnh Công Sơn, vì nó diễn đạt đúng với tâm trạng khắc khoải của chính mình. Chẳng hạn như:
« …Mẹ ngồi ru con đong đưa võng buồn năm qua tuổi mòn
Mẹ nhìn quê hương nghe con mình buồn giọt lệ ăn năn
Giọt lệ ăn năn đưa con về trần tủi nhục chung thân
Một dòng sông trôi cuốn mãi về trời bấp bênh phận người » (Ca Dao Mẹ)
“…Một trăm năm đô hộ giặc tây
hai mươi năm nội chiến từng ngày
gia tài của mẹ, để lại cho con
gia tài của mẹ, là nước Việt buồn” (Gia tài của Mẹ)
“Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng 
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng 
Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn. 
Hàng vạn chuyến xe, claymore lựu đạn 
Hàng vạn chuyến xe mang vô thị thành 
từng vùng thịt xương có mẹ có em” (Đại bác ru đêm).
……
Nghe và thấy rõ ràng, như là chính bản thân mình đang “bấp bênh phận người”; là anh em Nam Bắc “hai mươi năm nội chiến từng ngày”; là “cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn”. Nhưng chúng tôi không thể buông nòng súng tự vệ, vì biết trước hậu qủa của một Miền Nam thất trận: “Đất nước tôi” sẽ không “thanh bình” như lời nhạc của Sơn mong đợi, nhưng ngược lại, đất nước Miền Nam tôi sẽ bị “thanh toán” triệt để. Như chính bản thân Sơn đã “sáng mắt sáng lòng” trong những năm người nhạc sĩ có thân mình gầy gò yếu đuối “được giải phóng” cho đi nông trường để học trồng sắn, trồng mía, nuôi heo, suýt mất mạng vì mìn nếu không nhờ vào con trâu của người nông dân tốt bụng(1). Như người chị của người viết bài này ở giữa thủ đô Sài Gòn trước 1975 đã phải sợ hãi tiếng “đại bác đêm đêm vọng về thành phố”, một hôm thấy đứa em chồng vừa xuất khỏi quân y viện ghé thăm với một phân nửa mặt xám xịt và một cánh tay quấn băng trắng treo trước ngực, đã khuyên nó “đào ngũ đi chú, thôi kệ, để Cộng Sản nó vô cũng được”, để sau này lại trách, “tại vì các chú đánh giặc dở, nên chúng mới vô được đây làm khổ đồng bào”.
Hết những ngày phép ngắn ngủi, chúng tôi lại ra mặt trận chiến đấu bảo vệ cho một Miền Nam Tư Do, nơi đó có Trịnh Công Sơn được tự do tỏ bày tâm sự, kể cả kêu gọi những người cầm AK “từ Bắc vô Nam nối vòng tay lớn” dắt hàng ngàn đồng bào Huế của Sơn đi chôn sống trong dịp Tết Mậu Thân, 1968.
Nhiều người cho rằng những lời hát do ông viết ra có tính cách phản chiến, chỉ nhằm làm suy giảm tinh thần chiến đấu của người lính VNCH trước thảm họa… “giải phóng”. Nếu quả thật ý nghĩa và mục đích những bài hát của họ Trịnh là như vậy thì đối với người viết và những đồng đội chung quanh, vốn là chiến binh trong Quân đội Miền Nam trước kia, việc làm mà không ít người kết án “nối giáo cho giặc” hay “ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng sản” kia đã chẳng gây được chút tác dụng nào; tất cả anh em chúng tôi đã can trường chiến đấu bất khuất cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiến vệ quốc.
Trịnh Công Sơn đã về lại với “hạt bụi nào hóa kiếp thân” ông. Hãy để cho ông được tìm được “thanh bình” ở bên kia thê giới. Sở dĩ người viết nhắc đến ông hôm nay là vì liên tưởng đến ông khi nghe hai bài hát của một người Việt khác, cũng từ Miền Nam. Đó là nhạc sĩ Việt Khang.
Khác với Trịnh Công Sơn mù tịt với XHCN chỉ nghe nói thiên đường ở phía bên kia Bến Hải để tưởng tượng “mừng như bão cát quay cuồng” khi được “nối vòng tay lớn…”, người bạn trẻ Việt Khang nhìn thấy tận mắt và sống ở đó với thịt xương mình:
“Việt Nam ơi… thời gian quá nửa đời người
và ta đã tỏ tường rồi, ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói
Mẹ việt nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời
người lầm than đói khổ nghèo nàn
kẻ quyền uy giàu sang dối gian.” 
Còn tệ hại hơn thời Trịnh Công Sơn trong “hai mươi năm nội chiến từng ngày”; ngày đó đất nước có bị chia cắt nhưng nhân dân hai miền vẫn tự hào là nước Việt Nam của người Việt Nam, Sơn đã không đến nỗi phải khóc thét lên như Việt Khang hôm nay khi nước Việt Nam hầu như không còn là của người Việt Nam nữa:
“Giờ đây… Việt Nam còn hay đã mất?
mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta
Hoàng Trường Sa đã bao người dân vô tội
chết ngậm ngùi vì tay súng giặc Tàu” 
Trong khi đó những kẻ mệnh danh “bác cháu ta ra công giữ nước” lại… thật sự không biết “là ai, dân tộc nào, từ đâu đến” để đánh đập, sỉ nhục, bắt bớ, tù đày đồng bào mình khiến Việt Khang phải thốt lên:
“Xin hỏi anh là ai?
không cho tôi xuống đường để tỏ bày
tình yêu quê hương này
dân tộc này đã quá nhiều đắng cay. 

Xin hỏi anh ở đâu?
ngăn bước tôi, chống giặc tàu ngoại xâm
Xin hỏi anh ở đâu?
sao mắng tôi, bằng giọng nói dân tôi 
dân tộc anh ở đâu?
sao đang tâm, làm tay sai cho tàu” 
Việt Khang nỉ non tr ước vận nước ngả nghiêng rồi không ngồi đó, mà đứng dậy:
Tôi không thể ngồi yên
khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng
dân tộc tôi, sắp phải đắm chìm
một ngàn năm hay triền miên tăm tối 

Tôi không thể ngồi yên
để đời sau cháu con tôi làm người
cội nguồn ở đâu?
khi thế giới này đã không còn Việt Nam. 
Anh đứng lên không chỉ một mình mà còn kêu gọi mọi người:
“Là một người con dân Việt Nam
lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm
người người cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi
từng đoàn người đi chẳng nề chi
già trẻ gái trai giơ cao tay
chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam” 
Một thời tuổi trẻ, nghe Trịnh Công Sơn ủ dột níu kéo, nhưng phải hăng hái lên đường. Một thời còn lại tuổi già, nghe Việt Khang khắc khoải thôi thúc, mong làm sao được xông pha vào nơi gió cát… Để tiếp tay dành lại quê hương này. Ôi yêu quá, tiếng hát Việt Khang.

Vụ Đoàn Văn Vươn: Quan chức bất nhân, bất nhất, chính quyền bất minh, luật pháp bất ổn, nhà nước bất lực nên người dân bất an

30 Jan

Vụ Đoàn Văn Vươn: Quan chức bất nhân, bất nhất, chính quyền bất minh, luật pháp bất ổn, nhà nước bất lực nên người dân bất an

5/02/12 11:48 AM

Không người dân nào (trừ các quan chức có thế lực) có thể chắc chắn rằng ngôi nhà mình đang ở, mảnh đất mình đã chắt chiu bao đời nay mà có, ngôi nhà thờ, đình chùa miếu mạo đang thờ tự có thể ổn định và yên chí làm ăn. Khi mà sẵn sàng có một dự án nào đó của những kẻ lắm tiền nhằm vào chỗ của họ đang sống, thì có thể sau đó là công an, là chó, là súng đạn đến “cưỡng chế” họ ra khỏi nhà để giao đất cho người khác. Nếu họ không đồng ý, thì sau đó là nhà tù hoặc cùng quẫn lắm thì là súng đạn, hoặc tự thiêu.

Sự kiện Đoàn Văn Vươn đã tròn một tháng kể từ sáng 5/1/2012 khi chùm đạn hoa cải nổ thẳng vào đám công an và quân đội bao vây chiếm đất tại Tiên Lãng. Đến nay đã có hàng trăm bài báo, hàng chục quan chức lên tiếng, người dân trong và ngoài nước xôn xao về một hiện tương mới: Hiện tượng Đoàn Văn Vươn.

 

Vụ việc trở thành đề tài thời sự nóng bỏng trong cái tết vừa qua, khi rượu sớm, khi trà trưa, sau những lời chúc mừng năm mới là câu chuyện Đoàn Văn Vươn nổ thay pháo tết từ Nam đến Bắc.

 

Thế nhưng, một tháng trôi qua, ta thấy gì?

Phá nhà ông Vươn

Cho đến nay, hầu như chỉ là việc bắt giam các bị can Đoàn Văn Vươn và anh em, ngoài ra chỉ là lời qua tiếng lại giữa quan chức Tiên Lãng, sự biện hộ thô thiển của quan chức Hải Phòng, sự lên án mạnh mẽ của công luận và sự phản ứng ngược chiều lỳ lợm và lẻ loi của tờ báo Hải Phòng, vài bài viết làm trò hề trên tờ Công an Nhân dân và mỉa mai thay lại cả tờ báo mang tên “Công Lý”… Ngoài ra, chưa có tiến triển gì hơn.

 

Thậm chí đến nay, cơ quan chức năng vẫn chưa xác định được ai đã phá nhà ông Vươn?

 

Vì sao có trình trạng này?

 

Quan chức bất nhân, bất nhất

 

Trước hết là sự bất nhân. Những người đã theo dõi vụ án hoặc đã đối diện với biển với nước không ai không biết rõ công sức mồ hôi xương máu của anh em nhà Đoàn Văn Vươn cũng như những người dân nuôi trồng hải sản ở đây đã đổ ra biết bao nhiêu để làm nên cơ nghiệp này. Họ đã không chỉ hi sinh công sức, tiền của mà cả máu, cả tính mạng con cháu mấy chục năm trời… Bỗng dưng bằng một mảnh giấy, tất cả mọi công sức bị cướp trắng trái pháp luật. Thậm chí trước đó, các cơ quan công quyền đã cùng hùa nhau để đưa những nạn nhân này vào vòng vây mê hồn trận của mớ pháp lý, tòa án và những lời hứa hẹn.

 

Không rõ ông Chủ tịch huyện Lên Văn Hiền có luôn em trai làm chủ tịch xã cũng như các quan chức Hải Phòng và những kẻ manh tâm đi bao che cho những hành động đó có thấy việc làm của mình là bất nhân?

 

Ngay sau khi những phát đạn hoa cải hạ gục mấy chiến sĩ công an và bộ đội, báo chí nhanh chóng đưa tin thì ông Lê Văn Hiền – Chủ tịch UBND Huyện Tiên Lãng lên tiếng khẳng định rằng đã phá nhà ông Vươn vì đó là nơi trú ẩn của những người chống lại lực lượng cưỡng chế.

 

Câu nói này ngay lập tức bị công luận lên án mạnh mẽ vì vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Khi đó một quan chức đàn anh khác là Phó Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng Đỗ Trung Thoại lại nói việc phá ngôi nhà của ông Quý là do “nhân dân bất bình”?.

Đại tá Đỗ Hữu Ca, Giám đốc Công an Hải Phòng

 

Câu nói này cũng lập tức nhận được sự phản ứng dữ dội của công luận và nhân dân Tiên Lãng, người ta nói rõ rằng chẳng có nhân dân nào bất bình, người dân chỉ bất bình với chính nhà cầm quyền Tiên Lãng vô đạo đức khi muốn cướp không công sức người dân mấy chục năm bỏ ra khai hoang, lấn biển và việc quan chức Hải Phòng cố tình vu vạ cho dân là điều không thể chấp nhận được.

Ngay sau khi bị dư luận chỉ rõ sự bất nhân và vô luật pháp trong các phát biểu này, cả UBND Huyện Tiên Lãng và Đỗ Trung Thoại đều leo lẻo nói ngược lại là không phá, không ra lệnh, không ai tham gia phá nhà ông Vươn và cuối cùng là “Chưa rõ ai phá nhà ông Vươn”(Sic).

Ai cầm loa tay chỉ đạo bên cạnh ngôi nhà này?

Đại tá Đỗ Hữu Ca, Giám đốc Công an Hải Phòng người đeo kính đứng phía ngoài

 

Quả thật cha ông ta đã có quá nhiều kinh nghiệm khi đúc kết câu nói “Miệng quan, trôn trẻ”. Nếu như trôn một đứa trẻ nhiều khi làm nhọc lòng, xấu hổ đến bố mẹ và người thân, thì miệng quan chức này đã làm chán nản và nhận lấy sự khinh bỉ từ chính người dân.

 

Người nắm sức mạnh bạo lực lớn nhất Hải Phòng lúc bấy giờ là ông Đại tá Đỗ Hữu Ca, Giám đốc Công an Hải Phòng – người mà cư dân mạng gọi là “Đại Ca” – có mặt tại chỗ chỉ đạo lực lượng Công an Hải Phòng vây bắt. Khi Công an, Quân đội nã súng với “phương án tiêu diệt” không thể thiếu vai trò ông Đỗ Hữu Ca. Để rồi sau đó ông chém gió rằng: “Phải nói rằng việc hiệp đồng tác chiến cực kỳ hay. Tôi bảo, không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này”.

Thế nhưng, khi được hỏi ai đã phá nhà ông Vươn, “Đại Ca” này cũng khẳng định không biết ai.

 

Chính từ sự bất nhân, không hợp lòng người, trái đạo lý đã đẩy đưa chính họ vào chỗ bất nhất theo đúng nguyên lý “Đường đi hay tối, nói dối hay cùng”.

 

Và họ đã thi nhau dẫm đạp lên vết trượt này không cách nào khác.

 

Khi đã có những lời bất nhất như vậy, liệu ai có thể tin được những lời nói tốt đẹp khác của các quan chức này như “Bản chất của chế độ ta không cho phép nhục hình bức cung. Nếu ai vi phạm điều này sẽ bị cách chức, ai không thực hiện đúng chính sách với phạm nhân thì chúng tôi xử lý nghiêm minh”?.

 

Chính quyền bất minh, luật pháp bất ổn

Nhà nước mượn Tu viện Dòng CCT Hà Nội và không muốn trả

 

Nói đến chuyện luật lệ liên quan đến đất đai, chuyện nhà nước quản lý, sử dụng, chuyển đổi, bán chác, thu hồi… là một mê hồn trận đã từng gây nên bao nhức nhối giai đoạn vừa qua. Luật pháp bất ổn, bất nhất đã đặt người dân không phải một nơi mà cả nước, không chỉ thành thị mà khắp thôn quê, không chỉ miền xuôi mà cả miền ngược đảo lộn cuộc sống, đảo lộn mọi giá trị truyền thống về đạo đức, về nhân cách qua những luật lệ này.

Từ khi thành lập nước VNDCCH đến nay, quyền hạn về đất đai cứ như một trò mèo vờn chuột. Đầu tiên là người cày có ruộng, cướp đoạt của chủ đất chia cho dân cày, rồi nhóm lại vào một lò chung là Hợp tác xã, rồi chia ruộng đất khoán sản, khoán nông. Rồi các đại gia lập dự án, rồi nhà nước dùng súng đạn cưỡng chế cướp của dân với giá rẻ mạt bán với giá trên trời bỏ túi chia nhau… đủ cả mọi cách cứ tít mù vòng quanh. Mấy chục năm qua, chuyện đất đai vẫn như mớ bòng bong càng gỡ càng rối. Khắp nơi người dân khiếu kiện, từng đoàn, từng lượt đổ về đầu não chính trị để kêu oan. Và như thế công an lại có việc để làm, để bắt bớ, để đàn áp… cứ như những cuộc chiến không hứa hẹn ngày ký kết thỏa ước ngừng bắn chừng nào còn đất.

 

Tựu trung lại cái luật lệ không giống ai cố tình không công nhận quyền tư hữu về ruộng đất với định nghĩa rất khác người là “Đất đai sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý…” đã tạo ra mớ bòng bong đó. Điều này đi ngược lại với nguyên lý cơ bản, quyền tư hữu về đất đai của người dân đã ngang nhiên bị tước bỏ, và có như vậy thì nhà nước mới dễ dàng thu hồi cái không phải của mình, lấy đi cái trong tay người khác.

 

Việc dùng công an, quân đội cưỡng chế đất đai, tài sản của nhà ông Vươn không có bồi thường là việc làm bất nhân. Như trên đã phân tích, để làm được những việc đó thì điều cần thiết là sự bất minh. Ngay sau khi xảy ra sự việc, báo chí đã trực tiếp hỏi quan chức chính quyền địa phương việc thu hồi nhằm mục đích gì? Câu trả lời là “không thể trả lời”,rồi sau đó là “để cho ông Vươn thuê lại” sau khi đã bị báo chí và dư luận vạch rõ việc làm không minh bạch của chính quyền Tiên Lãng. Cũng trước đó, báo chí đã đưa tin rằng UBND Tiên Lãng thu hồi nhằm phục vụ “dự án sân bay Quốc tế Hải Phòng”. Nhưng khi người ta vạch rõ việc thu hồi này có quyết định trước cả dự án, thì cái dự án đó không cánh mà bay trong lời nói quan chức Hải Phòng mà không được ai nhắc đến nữa.

 

Không chỉ là việc thu hồi để làm gì, mà ngay cả Tòa án Nhân dân TP Hải Phòng đã có những động tác mà qua đó, người dân thừa lòng tin đã tưởng rằng được luật pháp bảo hộ nên gia đình Đoàn Văn Vươn mới nên cơ sự này. Cuộc dàn xếp giữa UBND Huyện và gia đình người có đất được Tòa án ND Tỉnh tổ chức, đâu có ai nghĩ là sự lừa bịp hoặc đưa người ta vào một âm mưu. Nhưng điều đó đã xảy ra, chứng tỏ sự bất minh càng rõ ràng để phục vụ những mưu đồ đã có sẵn.

 

Không chỉ việc dùng công an, quân đội, chó, súng đạn… cưỡng chế phá nhà ông Vươn, bắt bớ đánh đập phụ nữ, con trẻ trước công chúng đã thể hiện bản chất sự việc, mà ngay cả việc để toàn bộ tài sản của gia đình ông Vươn trong Đầm bị cướp sạch, lấy sạch sau đó cũng đã nói lên sự bất minh của việc làm này.

 

Nhà nước bất lực

 

Đã một tháng tròn, từ Hà Nội xuống Hải Phòng chỉ hơn 100 km, nếu đi xe bình thườnghết 2 giờ ô tô, nếu đi xe có còi hụ dẫn đường như quan chức Việt Nam vẫn dùng hàng ngày ở Hà Nội thì chắc không đến chừng đó thời gian. Nhà nước Việt Nam “của dân, do dân, vì dân” có đội ngũ công an “vững mạnh, trong sạch và bách chiến bách thắng”. Vụ việc Đoàn Văn Vươn chỉ là một việc nhỏ trong muôn vàn vụ việc khác nhau, chỉ là một vụ “cưỡng chế” trong trăm ngàn vụ cưỡng chế đã và đang xảy ra trên đất nước này. Việc huy động một lực lượng mấy trung đội cảnh sát, các cơ quan đoàn thể, quân đội để tiến hành vụ việc, đập phá hai ngôi nhà giữa thanh thiên bạch nhật, trước hàng ngàn người dân… rõ ràng đến mức hỏi một nông dân mù chữ cũng có thể thuật lại được.

 

Vậy mà đến nay ba chục ngày trôi qua, vẫn cứ lùng nhùng trong những cuộc cãi vã, phân tích của báo chí về việc làm vô luân, vô pháp của nhà cầm quyền Tiên Lãng và Hải Phòng, vẫn lằng nhằng trong những phát biểu ngược dòng của các quan chức Hải Phòng và Tiên Lãng như cố tình thách thức và trêu ngươi dư luận.

Lực lượng cưỡng chế hùng hậu với phương án tiêu diệt, nhưng anh em nhà Đoàn Văn Quý vẫn bình thản ra khỏi nhà

Trước hết, dù cho ông Đỗ Hữu Ca có “chém gió” rằng: “Phải nói rằng việc hiệp đồng tác chiến cực kỳ hay. Tôi bảo, không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này” thì khách quan mà nói, vẫn phải công nhận sự bất lực của hệ thống công an và quân đội hiện nay. Lý do để kết luận điều này là với lực lượng mà ông Ca đã tiết lộ bao gồm: “Trong sự vụ này, 2 trung đội cảnh sát đặc nhiệm đã được điều động xuống hiện trường phối kết hợp với lực lượng ở đồn biên phòng phục ngoài bờ sông. Ngoài ra còn lực lượng cảnh sát bảo vệ…” lại còn “có sự kết hợp giữa địa phương, giữa công an, quân đội, biên phòng…” nhưng chỉ có vài người trong căn nhà bị cô lập và thậm chí còn sử dụng cả “phương án tiêu diệt” mà không bắt được ai, đối tượng vẫn ra khỏi đó như chỗ không người thì quả là sự bất lực rõ ràng của lực lượng vũ trang không thể nói gì hơn.

 

Nếu đây không phải là anh em Đoàn Văn Quý chỉ là mấy nông dân, mà là một lực lượng vũ trang nào đó chính quy chẳng hạn, thì thử hỏi sự “bách chiến bách thắng” được bao nhiêu phần trăm?

 

Thứ hai, là dù ở đó có cả Giám đốc Công an TP, có cả các sĩ quan, chiến sĩ biên phòng, chính quyền cấp xã, huyện, Thành phố… nhưng đến nay vẫn chưa biết ai đã phá nhà ông Vươn, không biết việc mất mát tài sản trong đầm ông Vươn ra sao? vẫn loanh quanh lấp lửng thì rõ ràng đây là sự yếu kém, bất lực của chính quyền và lực lượng chức năng ở Hải Phòng mà trước hết là đám công an của ông Đỗ Hữu Ca.

 

Thứ ba, cơ quan Thành ủy Hải Phòng là cơ quan quyền lực nhất ở Hải Phòng theo thể chế chính trị hiện nay, lẽ ra là nơi người dân có thể đặt lòng tin vì đảng đã tự cho mình là cha mẹ của dân, “Dân tin đảng, đảng thương dân, tình đảng tình dân như tình mẫu tử” – Lời bài hát – nhưng qua cơ quan ngôn luận mình là báo Hải Phòng, cũng như bài phát biểu của Trưởng ban Tuyên giáo Huyện Tiên Lãng với 300 đảng viên, họ đang cố tình thể hiện rằng “ý đảng” ở đây đang đi ngược lòng dân Tiên Lãng và khắp nơi.

 

Thứ tư, các cơ quan Quốc hội, Chính phủ mà ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng chính phủ cũng là Đại biểu Quốc hội tại Hải Phòng, ngay sau vụ việc đã có công điện số 57 yêu cầu “Xử lý nghiêm trường hợp chống đối người thi hành công vụ”. Nhưng liên quan đến vụ việc quyền lợi công dân này, thì đến nay vẫn chỉ là chỉ thị và lời hứa làm rõ vụ việc sau tròn một tháng với tư cách Thủ tướng, còn lại các cơ quan khác của Hải Phòng chỉ nhằm bao che, giải thích loanh quanh hoặc lẩn tránh.

 

Giải thích việc chậm trễ này, ông Vũ Đức Đam cho là “Tất cả cơ quan Nhà nước cấp tỉnh hay, bộ, ngành đều làm việc theo quy định và trình tự”.

 

Điều này càng khẳng định sự cồng kềnh, của một bộ máy đồ sộ khổng lồ của nhà nước hiện nay nhưng kém hiệu quả.

 

Rõ ràng, trong khi các quan chức và cựu quan chức cũng đã phải thốt lên rằng việc này không giải quyết rõ ràng, nhanh chóng thì có hại lớn cho hệ thống chính trị hiện nay. Nhưng cách xử sự đến nay đã chứng tỏ sự bất lực của nhà nước. Đó là sự bất lực trong khả năng giải quyết nhanh chóng các vấn đề liên quan đến đời sống chính trị xã hội và tính mạng người dân.

 

Người dân bất an

 

Chính một thứ luật pháp bất ổn kết hợp với chính quyền bất minh gồm những quan chức bất nhân và bất nhất thì việcngười dân sống luôn thấy bất an là điều không có gì phải lạ.

 

Không người dân nào (trừ các quan chức có thế lực) có thể chắc chắn rằng ngôi nhà mình đang ở, mảnh đất mình đã chắt chiu bao đời nay mà có, ngôi nhà thờ, đình chùa miếu mạo đang thờ tự có  thể ổn định và yên chí làm ăn. Khi mà sẵn sàng có một dự án nào đó của những kẻ lắm tiền nhằm vào chỗ của họ đang sống, thì có thể sau đó là công an, là chó, là súng đạn đến “cưỡng chế” họ ra khỏi nhà để giao đất cho người khác. Nếu họ không đồng ý, thì sau đó là nhà tù hoặc cùng quẫn lắm thì là súng đạn, hoặc tự thiêu.

 

Trong một xã hội công bằng, văn minh và luật pháp rõ ràng, thì người dân Cồn Dầu không bao giờ nghĩ là họ sẽ phải vất vưởng ngay trên mảnh đất tổ tiên của họ xây dựng lên bao đời. Giáo dân Thái Hà không bao giờ nghĩ rằng Tu viện của họ sẽ bị biến thành nơi chứa bệnh tật truyền nhiễm và nhục mạ nơi linh thánh. Những người như Đoàn Văn Vươn sẽ yên tâm mà khai hoang lấn biển nhằm đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho gia đình.

Linh mục, tu sĩ và giáo dân Thái Hà xuống đường yêu cầu « Mượn thì phải trả » tu viện cho họ Nhưng, khi tất cả những điều nói trên không đảm bảo, thì điều

Nhưng, khi tất cả những điều nói trên không đảm bảo, thì điều gì cũng có thể xảy ra, số phận những người dân và tài sản của họ luôn trong tư thế cá nằm trên thớt, vì các dự án bất thần đổ xuống, các quyết định bất thần tung ra, cảnh sát, quân đội bất thần kéo đến… hỏi tìm đâu ra sự “an cư” để mà “lạc nghiệp”?

 

Phải chăng, đó chính là đặc điểm của một nền kinh tế thị trường có kèm cái đuôi “Định hướng XHCN”?

 

Sự việc Đoàn Văn Vươn là một điểm mốc, là một tiếng bom cảnh báo một giai đoạn, một tình trạng xã hội mà nếu không có những điều chỉnh cần thiết, không có những thay đổi kịp thời thì sự bình yên giả tạo trong xã hội chỉ là sự bình lặng tạm thời của mặt biển trong mùa bão tố.

 

Bởi lòng dân là sóng biển.

 

Hà Nội, ngày 5/2/2012

 

  • J.B Nguyễn Hữu Vinh

Lẳng lặng mà nghe cướp nói nè…

Bản chất sự việc cũng khá đơn giản, nhưng lợi dụng việc này, một số kẻ xấu đã thông tin sai lệch, gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, nhà nước, truyền thống đoàn kết của nhân dân Tiên Lãng. Qua bài viết này, chúng tôi xin khẳng định lại rằng, việc cưỡng chế với ông Đoàn Văn Vươn hoàn toàn thấu tình đạt lý, việc chống lại cơ quan chức năng bằng các hành vi manh động sẽ chịu sự trừng phạt thích đáng của PL. Cũng mong rằng, qua sự việc này, những trường hợp tương tự cần rút kinh nghiệm cho bản thân, cần nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối mang đậm tính chất nhân văn của Đảng, sự nghiêm minh của pháp luật XHCN.
Vụ cưỡng chế đầm vùng tại xã Vinh Quang: Chính quyền đầy đủ cơ sở pháp lý
Gần một tháng trôi qua, vụ án Đoàn Văn Vươn cùng người nhà xả súng vào lực lượng cưỡng chế vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Dư luận cực lực lên án hành động coi thường vi phạm pháp luật, tuy nhiên về vấn đề tại sao lại tổ chức cưỡng chế và cơ sở pháp lý trong vụ việc này, đa số nhân dân vẫn chưa nắm bắt tường tận. Nhằm giúp nhân dân trên địa bàn có những thông tin chính xác hơn về vụ việc này, sau một thời gian làm việc, chúng tôi đã tiếp cận với một số cơ quan chức năng và những người có liên quan để tìm hiểu, điều tra về nguồn gốc đất đai, quá trình hình thành vùng đầm NTTS ven biển. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ trả lời về các vấn đề cơ bản là: tại sao lại phải thu hồi để chuyển đổi hình thức giao đất sang thuê đất? Tại sao thu hồi không cần đền bù? Công lao trong việc làm đê và trồng rừng cây chắn sóng thuộc về ai? Trước hết cần khẳng định lại rằng, việc UBND huyện Tiên Lãng thực hiện cưỡng chế mà không cần đền bù là hoàn toàn thấu tình và đạt lý.
Ông Lưu Quang Yên, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa VII (1981 – 1987), nguyên Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng (1992 – 2000), nguyênBí thư Huyện ủy Tiên Lãng (2000 – 2003), cho biết: Những thập niên 70 – 80 thếkỷ 20, sau quá trình lấn biển lần thứ nhất, huyện Tiên Lãng hình thành được một số xã mới là Đông Hưng, Tiên Hưng và Tây Hưng, cùng một khu đất bãi bồi rộng vài trăm ha.
Thời kỳ mới thành lập, kinh tế các xã vùng ven biển còn nhiều khó khăn, nhưng khu bãi bồi Vinh Quang đã nổi lên là khu vực màu mỡ vớinguồn tài nguyên tự nhiên ven biển phong phú. Nhiều gia đình hộ dân sinh sống gần đây đã tự ý ngăn chia các khu vực lấn chiếm đất, bán nhượng đầm vùng để kiếm sống và đã nảy sinh mâu thuẫn tranh chấp giữa các hộ dân. Đặc biệt nghiêm trọng hơn, còn có cả hiện tượng chặt phá rừng phòng hộ bừa bãi, ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ đê điều, môi trường sinh thái biển và nguồn lợi thủy sản. Từ đó, huyện quyết định sẽ giao đất cho một số hộ dân để quản lý được tốt hơn.
Cũng chính ngay tại thời điểm đó, huyện đã xác định được khu vực đất bãi bồi ven sông ven biển xã Vinh Quang sẽ nằm trong chương trình quai đê lấn biển lần thứ hai, vùng đất đó sẽ phải quy hoạch lại toàn bộ, cho nên ngay khi giao đất cũng tính đến chuyện thu hồi. Xuất phát từ tình hình thực tiễn của địa phương như trên, với mục đích chính là “Giao đất chưa sử dụng trong khi chờ quy hoạch”, ông Yên, với cương vị là Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng đã quyết định giao cho ông Đoàn Văn Vươn 40,3 ha đất bãi bồi để nuôi trồng thủy sản, với thời hạn 14 năm. Huyện cũng xác định, với thời gian đó đủ để người nông dân hoàn vốn và có lãi, nên đã quy định sẽ không bồi thường khi thu hồi đất.
Ông Yên cho biết thêm: Tất cả những người xin được cấp đất để nuôi trồng thủy sản đều biết rõ quy định của huyện ngay tại thời điểm đó và đều nhất trí với quan điểm đó của huyện. Bản thân ông Vươn và gia đình cũng phải hiểu được chính quyền đã tạo nhiều điều kiện hỗ trợ cho ông trong quá trình làm ăn tại khu đất nuôi trồng thủy sản này như: đắp đê, trồng rừng chắn sóng, làm cống thoát nước, làm đường công vụ, tạo điều kiện cho vay vốn… như vậy rõ ràng ông Vươn và gia đình là những người được hưởng lợi trực tiếp do nhà nước hỗ trợ.
Song khi hết thời hạn giao đất, ông Vươn cố tình không thực hiện Quyết định thu hồi đất của UBND huyện, mặc dù đã được các cấp giải quyết theo trình tự, mà vẫn ngang nhiên sử dụng 40,3 ha đất nuôi trồng thủy sản và đồng thời không thực hiện nghĩa vụ tài chính, gây bức xúc trong nhân dân và tạo tiền lệ xấu cho các chủ đầm vùng khác không chấp hành các quyết định khi nhà nước thu hồi đất đã hết hạn sử dụng. Chỉ cách một con kênh, phía bên kia là Bắc Cống Rộc có đồng ruộng của người dân xã Vinh Quang hàng năm người nông dân phải nộp sản lượng về cho nhà nước, một bên là hàng chục ha nuôi trồng thủy sản với kinh phí hàng năm thu về hàng tỷ đồng nhưng từ năm 2007 ngay sau khi có Quyết định thu hồi đất, gia đình ông Vươn đã không có một động thái nào về nộp thuế cho nhà nước.
Là người trực tiếp ký các quyết định giao đất cho ông Vươn, nguyên Chủ tịch UBND huyện Lưu Quang Yên khẳng định, việc giao đất cho ông Vươn ở thời điểm đó, với tình hình thực tế như đã phân tích ở trên là hoàn toàn đúng pháp luật.
“Bản thân tôi và người dân ở đây đều hiểu rằng, căn nguyên khiến các đối tượng chống trả quyết liệt do diện tích đất nằm trong diện quy hoạch Sân bay quốc tế Tiên Lãng. Nếu như giao đất cho Vươn thì sau này Nhà nước phải đền bù với mức rất cao. Nhưng nếu là đất thuê thì hết thời hạn thuê phải trả và chỉ được nhận hỗ trợ về phần kiến trúc xây trên đất. Ông Vươn cố giữ lại đất với hy vọng sẽ được giao và đền bù khi dự án được triển khai” – ông Yên cho biết.
Qua tìm hiểu, được biết: đất giao ông Vươn là đất bãi bồi ven biển không phải là quỹ đất nông nghiệp giao cho nông dân. Quyết định số 220 của UBND huyện ghi rõ thời hạn giao đất là 14 năm kể từ ngày 14/10/1993, trước khi hết thời hạn 6 tháng ông Vươn không có đơn gia hạn, nên theo quy định tại Khoản 10 Điều 38 và Khoản 1 Điều 43 Luật Đất đai năm 2003, Khoản 5 Điều 36 và Điều 142, Nghị định 181 của Chính phủ thì việc UBND huyện thu hồi đất là theo đúng quy định pháp luật. Trong thời gian 14 năm được giao đất, ông Vươn đã được các cấp chính quyền quan tâm, tạo điều kiện hỗ trợ vay vốn, tham gia vào các dựán, đắp đê chắn sóng…
Mặc dù vậy, ông Vươn có nhiều sai phạm, như: tháng 4/2007 ông Vươn lấy danh nghĩa là Chủ tịch Liên chi hội nuôi trồng thủy sản đã sử dụng con dấu để ký báo cáo, trong bản báo cáo đó có nhiều nội dung mang tính chất xuyên tạc, bôi nhọ UBND huyện Tiên Lãng, chống lại việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đặc biệt đã nhấn mạnh nội dung vận động lực lượng để chống đối lại việc UBND huyện thu hồi khu đất. Như vậy có thể nhận thấy, hành vi của Đoàn Văn Vươn và một số đối tượng liên quan chống đối lại cơ quan thi hành công vụ là hết sức nguy hiểm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng, cần trừng trị nghiêm minh.
Về thông tin chính quyền huyện thu hồi đất để giao cho cá nhân khác, qua tìm hiểu được biết đây là thông tin không chính xác. Hiện khu đầm vùng 40,3 ha do xã Vinh Quang quản lý.
Về việc các chiến sĩ công an và quân đội tham gia bảo vệ đoàn cưỡng chế bị thương hôm 5/1 đã xuất viện nhưng có một số đồng chí chưa gắp được hết đạn ra khỏi người, có đồng chí bị thương vào mắt, sẽ ảnh hưởng lớn đến cuộc sống sau này.
Bản chất sự việc cũng khá đơn giản, nhưng lợi dụng việc này, một số kẻ xấu đã thông tin sai lệch, gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, nhà nước, truyền thống đoàn kết của nhân dân Tiên Lãng. Qua bài viết này, chúng tôi xin khẳng định lại rằng, việc cưỡng chế với ông Đoàn Văn Vươn hoàn toàn thấu tình đạt lý, việc chống lại cơ quan chức năng bằng các hành vi manh động sẽ chịu sự trừng phạt thích đáng của PL. Cũng mong rằng, qua sự việc này, những trường hợp tương tự cần rút kinh nghiệm cho bản thân, cần nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối mang đậm tính chất nhân văn của Đảng, sự nghiêm minh của pháp luật XHCN.
Ghi chú của Dân Làm Báo: bài viết này không có… tác giả.

41 Ý kiến:

Lưu Ý :

– Những phản hồi sử dụng « Nặc danh/Ẩn danh »sẽ không được xuất hiện. Các bạn có thể chọn một nickname cho mình khi phản hồi bằng cách sử dụng các chức năng : « Tên/Url », hoặc bằng tài khoản Google

– Nếu nội dung phản hồi quá dài sẽ bị máy chủ BlogSpot hiểu lầm là Spam (không cho hiện lên), xin bạn vui lòng chia nội dung thành nhiều phần, hoặc chờ Dân Làm Báo cho xuất hiện lại phản hồi

– Những phản hồi chữ Việt không dấu cũng sẽ bị xóa.

  1. Người Nam-ĐịnhJan 29, 2012 03:45 PM

    « Một số kẻ xấu đã thông tin xuyên tạc ».Như vậy Lê-Đức-Anh cũng là kẻ xấu ? Đề nghị Đồng Chí Lê Đức Anh lên tiếng.

    Trả lời

  2. MyJan 29, 2012 09:59 PM

    Đề nghị khai trừ Đảng, bắt bỏ tù Lê Đức Anh vì nói xấu chế độ.

  3. Biển mặnJan 29, 2012 03:57 PM

    Đã nói rồi, đừng trông chờ vào tính trung thực của việt cộng. Bọn cướp của đôi khi còn một chút nhân tính nhưng việt cộng thì không !

    Trả lời

  4. Thằng BờmJan 29, 2012 04:07 PM

    hò dzô ta ! nào hãy nhanh tay  » cóp – pi  » cái trang này và tuyên truyền cho thế giới biết kẻo các vị Tiên « lãng » gỡ xuống.

    Trả lời

  5. viet123Jan 29, 2012 04:09 PM

    Quả là ghê sợ cho bọn độc tài CS, tóm gọn thông tin truyền thông trong tay, bẻ cong sự thật, nếu trong thế kỷ này không có internet, người dân không hề biết đâu là sự thật, gia đình anh Vươn có bị thủ tiêu bịt miệng cũng không biết đâu mà lần, bọn CS này tàn ác không còn chổ nói nữa. Vậy mà đến khi chúng bị hạ bệ lại khóc lóc van xin như một lũ súc vật, đừng quên những việc như thế này để khi có cuộc chuyển tiếp chớ mũi lòng nhẹ tay cho bè lũ chúng nó thoát tội.

    Trả lời

  6. nghèo hèn lạc hậuJan 29, 2012 04:20 PM

    đồng chí lê đức anh lú lẫn rồi « mở to mắt ra đi »xuyên tạc bôi xấu chế độ bôi xấu đảng

    Trả lời

  7. Cầu KiệuJan 29, 2012 04:21 PM

    Chúng để yên sự việc 1 tháng mà không thấy động tĩnh gì thêm là chúng lại thò tay bóp cổ tiếp.

    Phải bùm, bùm nhiều nơi thì đảng cướp mới thấy hoảng, nước đã tràn ly, sức mạnh của toàn dân dâng lên là không một gông xiềng của bất kỳ chế độ nào có thể giam hãm được, thế là tiêu đời lũ hại dân bán nước.

    Trả lời

  8. khốn hơn thằng khốnJan 29, 2012 04:28 PM

    Lê Đức Anh giờ thì khác gì NBC đâu. Nói ai nghe.

    Trả lời

  9. Luy ThepJan 29, 2012 04:58 PM

    Ca ngợi Anh Hùng, cộng sản cay cú. Anh hùng nhận tội và xin đảng khoan hồng. Chính Anh hùng làm bị đau 6 con cưng của đảng nhận tội và xin đảng khoan hồng. Đó chính là cơ sở và tiền đề cho bài báo này và hơn 700 côngg cụ tuyên truyền của đảng răn đe, giáo dục sự nông cạn, ngây thơ, bồng bột, bộc phát của những anh hùng « rơm » muốn chống lại sự « nhân văn » của đảng. Nhận tội thì phải đền tội. « Đừng nghe những gì cộng sản nói…. »

    Trả lời

  10. Lê dủ ChânJan 29, 2012 06:57 PM

    Cáo thị đầu xuân

    Việt Nam không có chính quyền
    Chỉ có ĐẢNG CƯỚP lộng quyền lâu nay
    Nhà tù súng ống trong tay
    Ép dân phải nhận chúng thay chính quyền
    Đảng này ba triệu đảng viên
    Tên là cọng sản từ Liên Sô về
    Mục đích tôn chỉ lời thề
    Cướp sạch tài sản thuộc về nhân dân
    Làm giàu cho chính bản thân
    Cai trị đất nước chẳng cần chính danh
    Tội chúng nay đã rành rành
    Toàn dân nước Việt ĐỒNG THANH CÁO rằng:
    NƯỚC TÔI KHÔNG CÓ CHÍNH QUYỀN
    CHỈ CÓ ĐẢNG CƯỚP NẮM QUYỀN TRỊ DÂN
    Bà con cô bác xa gần
    Năm châu bốn biển nhân dân tỏ tường.

    Trả lời

  11. Em Là LúJan 29, 2012 07:09 PM

    Đấy!. Nhờ có đọc được những tờ báo như thế này chúng ta mới thấy được  » sự anh minh, cao quý, tính nhân đạo , lòng vị tha, tâm hồn cao thượng cũng như sự hòa hoản, đi cùng với những quyết định vô cúng chính xác, cao minh của Đảng Ta », khi thực hành  » Công Vụ » để mang quyền lợi tối đa về cho Đảng mà bản thân của Đảng thì chả tốn chút công sức gì cả!. Đấy cái hay và hơn người của Đảng Ta là thế!.

    Thậm chí, ngay cả « nhân cách » , điều quý nhất của con người, cái dùng để phân biệt giữa Người và Vật, mà các « Đồng Chí Đảng Ta », vì công vụ cũng phải đành hy sinh nốt. Vì Cách Mạng, vì quyền lợi của Đảng, vì sự trường tồn và vĩnh cửu của Đảng, mà các vị Lãnh Đạo ở Huyện Tiên Lãng, cũng như vị Phó Chủ Tich TP HP, đã hy sinh để tự « Biến Người Thành Thú »!. Vì sự nghiệp Đảng mà dám hy sinh lớn như thế. Các vị còn la nổi gì!.

    Thử hói trong các vị có ai dám hy sinh lớn như những vị này không nhỉ?.
     » Đỉnh Cao Của Trí Tuệ, Lương Tri Của Thời Đại », nên dành riêng cho những vị này là xứng đáng quá rồi . Lú rất phục Đảng CSVN, vì Đảng đã đào tạo ra những vị Lãnh Đạo không giống ai như thế này, đúng là Đảng Quang Vinh, đúng hiệu Búa Liềm ở quê ta thôi!.

    Trả lời

  12. Dân BÁN BÁO.Jan 29, 2012 07:22 PM

    Vậy mà cái thằng Ju Mong nó nói.ĐẢNG TA QUYẾT TÂM XÂY DỰNG CHỈNH ĐỐN.Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Đã Vào Cuộc.DÂN BÂY GIỜ HẾT KHỔ RỒI.Nó Còn Kêu Gọi Đừng Thèm Đọc Dân Làm Báo.
    ĐÃ ĐẢO THẰNG JU MONG-ĐỒ CHẾT TIỆT-ĐỐI LẬP TRUNG THÀNH

    Trả lời

  13. Hồ MiJan 29, 2012 07:43 PM

    « Ai tin CS là người không có cái đầu »

    Trả lời

  14. Bịp bợmJan 29, 2012 08:01 PM

    Đ.M (xin lỗi vì quá phẫn nộ), sự việc đã rành rành ra đó mà bọn chúng còn cho rằng là do bọn xấu lợi dụng. Bọn xấu ở đây đích thị là chính quyền huyện Tiên Lãng và tỉnh Hải Phòng chứ chẳng còn ai vào đây nữa !

    Trả lời

  15. Thích Tự DoJan 29, 2012 08:19 PM

    Hành động nào, sự việc nào xảy ra cuối cùng thì câu nói của TT Nguyễn Văn Thiệu cũng đúng, đó là Đừng nghe những gì Việt Cộng nói mà hãy nhìn kỹ những gì Việt Cộng làm »

    Trả lời

  16. Du LongJan 29, 2012 08:31 PM

    « …nhưng lợi dụng việc này, một số kẻ xấu đã thông tin sai lệch, gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, nhà nước… »
    Căn cứ « nguồn tin chính thức này » thì các vị Lê Đức Anh, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Trọng Vĩnh… là những kẻ xấu vì đã nói lên những thông tin sai lệch về vấn đề này.

    Trả lời

  17. Súng Hoa cảiJan 29, 2012 08:41 PM

    việc cưỡng chế với ông Đoàn Văn Vươn hoàn toàn thấu tình đạt lý.Có phải vậy
    không hở cổng thông tin điện tử Huyện Tiên Lãng ? Đồ xảo quyệt !

    Trả lời

  18. Súng Hoa cảiJan 29, 2012 08:48 PM

    Bản chất sự việc cũng khá đơn giản, nhưng lợi dụng việc này, một số kẻ xấu đã thông tin sai lệch, gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, nhà nước, truyền thống đoàn kết của nhân dân Tiên Lãng. Qua bài viết này, chúng tôi xin khẳng định lại rằng, việc cưỡng chế với ông Đoàn Văn Vươn hoàn toàn thấu tình đạt lý, việc chống lại cơ quan chức năng bằng các hành vi manh động sẽ chịu sự trừng phạt thích đáng của PL. Cũng mong rằng, qua sự việc này, những trường hợp tương tự cần rút kinh nghiệm cho bản thân, cần nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối mang đậm tính chất nhân văn của Đảng, sự nghiêm minh của pháp luật XHCN.Đúng là giọng điệu của kẻ cướp.

    Trả lời

  19. Thu NgaJan 29, 2012 08:51 PM

    Luật pháp đã quy định ,sau khi có luật đất đai 1993 tất cả luật cũ phải bỏ đi ,người nông dân được giao đất 20 năm (tính từ năm 1993 )và sau đó hết hạn người ND tiếp tục giao tiếp…Thế mà mấy ô Tiên lãng này cứ cãi chày cãi cố …Và thử hỏi tất cả đất đai đã thu hồi trước đây mấy ổng đã giao lại cho ai hay lại giao cho mấy ô khác có quyền ,có tiền…Mấy ô còn nói thu hồi về mai kia nhà nước lấy làm sân bay nhà nước o phải đền bù nhiều ..Nếu trong XH ta có những người vì dân vì nước kiểu này thì tôi xin cúi đầu lạy vạn lạy .Mong mấy ô Tiên lãng đừng xạo mồm nữa !

    Trả lời

  20. lehongphongJan 29, 2012 09:07 PM

    đúng là vừa ăn cướp vừa la làng. tụi nó đổi trắng thay đen nhanh thiệt

    Trả lời

  21. GADAFI .Jan 29, 2012 09:23 PM

    phen này dân TIÊN LÃNG chúng em quyết đi buôn ống cống .
    Vừa bán vừa la cũng đắt hàng .

    Trả lời

  22. lehongphongJan 29, 2012 09:35 PM

    coi chừng ế đó. tụi nó nhìn gương gadafi chắc sắm sẵn cho mỗi đứa 1 cái trước rồi. không khéo lỗ vốn hahaha

  23. hoaidungJan 29, 2012 09:33 PM

    đề nghị đảng nên xem lại hết tất cả các khu vực đất đai lấy của dân hiện đang làm cái gì. tổng kết hết lại coi cái đám ăn hại nhân dân đã qui hoạch làm sao và kinh doanh đất đai lại cho những ai… là biết chính quyền kiếm tiền thu lợi nhuận trên xương máu đồng bào ra sao và hiện đồng bào bị mất đất sống thế nào, đồng thời các lãnh đạo từ xã , huyện, tỉnh, tp.. giàu có thế nào..cho nhân dân biết. Nên thu thập tin chính xác về các lãnh đạo lại đóng thành tập để mọi người và con cháu mai sau chiêm ngưỡng lãnh đạo vì dân hay vì đảng và bản thân họ. Cs hay thật! đem lý tưởng vô sản để đòi giải phóng thế giới, cướp đượ rồi thì vô sản thế nào được(?)nên cho đảng viên làm kinh tế là huề cả làng, vô sản thành có sản hơp pháp…. vậy có phải là ăn cướp không hè?

    Trả lời

  24. Bần DânJan 29, 2012 10:05 PM

    « Khi nào bánh đúc có xương, khi nào cộng sản biết thương dân lành! »

    Bọn cướp cộng sản là đảng super cướp hay siêu cướp. Bọn này đã chia chác với bè lũ chóp bu bán nước rồi, nên cho cò mồi xoa xoa vuốt vuốt gia đình anh Vươn để chờ làn sóng phản đồi rồi bọn siêu cướp này bắt đầu tấn công vào các nạn nhân những người bênh vực các dận oan như gia đình anh Vươn, rồi sẻ giàn dựng màn đấu tố có bài bàn và các chóp bu cứ đi nước ngoài, để yên cho bọn côn đồ lột xác các nạn nhân rồi đám chóp bu trở về từ nước ngoài thì bọn công an/côn đồ/siêu cướp Tiên Lảng đã xẻo thịt các nạn nhân và nướng xong đem dọn sãn cho mà xơi.

    Trả lời

  25. Cánh Én NhỏJan 29, 2012 10:16 PM

    Không có tên tác giả nên tin được không nhỉ? Thất là từ nguần thông tin tuyên truyền thật thì ít giả thì nhiều.

    Trả lời

  26. quangha35Jan 30, 2012 01:40 AM

    Gưởi cánh én nhỏ
    Không có tên Tác giả thì BBT phải chụi trách nhiệm khi đưa tin chứ bạn , chẳng nhẽ lại tự nhiên được xuất hiện như thế này à
    Bọn chúng bây giờ đang chen chúc nhau chui váo cái rọ ấy vì tin tưởng rằng: chun vào may ra còn được sống để chờ kẻ nào đó ra tay cứ gúp … hehe

  27. Hoa cải HPJan 29, 2012 10:52 PM

    Đầu năm mới ỉa vào mồm lũ quan lại Hải phòng.

    Trả lời

  28. KakaJan 29, 2012 10:53 PM

    Mấy thằng quan huyện Tiên Lãng hút thuốc lào bị thối mồm nói năng linh tinh! Tiên sư chúng mày!

    Trả lời

  29. Tiên Lãng TríJan 29, 2012 11:16 PM

    Chính quyền huyện Tiên Lãng nói đúng, nếu việc làm của Huyện là có cơ sở pháp lý, thì Lê Đức Anh, Thứ trưởng Bộ TNMT Đặng Hùng Võ, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện, tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, …. và cả luật đất đai do chính Quốc Hội ban hành đều sai, và toàn là kẻ xấu đã thông tin sai lệch. Nhưng vấn đề là tại sao Huyện Tiên Lãng còn dám khua môi múa mép trước dư luận xã hội? Chắc chắn phải có sự chỉ đạo từ cấp Phó Chủ Tịch Hải Phòng để viết bài nhằm hy vọng giảm nhẹ tội bao che, đồng phạm thôi, có gì lạ.

    Trả lời

  30. hJan 29, 2012 11:21 PM

    tôi cũng chán với cái bọn xuey6n tạc cống phá dảng ta này lắm rồi nhưng tôi mà là ông vươn thì chỉ ak và tnt chứ không có hoa cải hay hoa hòe gì ráo trọi

    Trả lời

  31. Cháu Bà Lê Thị HiềnJan 29, 2012 11:25 PM

    Đây là một case study cho những nghiên cứu sinh, đang nghiên cứu về cộng sản. Đặc biệt một bài viết điển hình cho thấy thế nào là văn nô, thế nào là bồi bút.
    Đến lúc này, sự thật đã sáng tỏ. Đảng cộng sản không dại gì để ngọn lửa căm hờn Tiên Lãng bùng lên trên cả nước. Bọn Tham quan cường hào ác bá Hải Phòng, Tiên Lãng Quang Vinh có dù che nên vẫn nói cứng.
    Cái dù nào mà đếch ngán cả cựu chủ tịch nước Lê Đức Anh
    Có phải cưu Tổng Bí Thư Đỗ Mười?
    Hay Thù tướng Nguyễn Tấn Dũng?
    Chờ xem!

    Trả lời

  32. DangJan 29, 2012 11:26 PM

    Đúng là miệng lưỡi của các chú Việt Cộng.Nói ngược nói xuôi,cuối cùng chỉ có chúng tao là đúng,người dân sai.

    Trả lời

  33. yeu vnJan 29, 2012 11:57 PM

    ca’c Ban dung nen Bu’c Xu’c qua’,bai`Bao’ khong ghi ten Ta’c Gia~,nhu~ng nguoi noi’ duoc ma`khong da’m nhan,mot ke~vo liem si~,mot ke~chi~biet chui duoi ha’ng Quan`Phu Nu~,mot ke~Made In China!!!!!NGU DOT va`luon cui’!!!!!!!!!

  34. Tiên SĩJan 29, 2012 11:47 PM

    Nói gì thì nói …Việt Cộng vẫn là Việt Cộng ! Chúng nó bao che cho nhau …cùng gọi nhau là đồng chí , cùng Đảng CSVN . Không tha 1 thằng nào cả …mặc cho nó nay đã là  » nguyên  » hay  » lão thành  » .

    Trả lời

  35. Nặc danhJan 29, 2012 11:52 PM

    cái trò nầy xưa rồi mấy ông nhà nước ơi! lợi dụng mình làm chủ 700 tờ báo rồi xuyên tạc sự thật, vậy là cái đám cs nầy thằng nói ngược thằng nói xuôi, trơ trẻn bôi sự thật, cái lưởi của cs chỉ có đem cắt bỏ nó đi , toàn là nói phét!… ai mà tin mấy ông nửa mấy ông cộng sản ơi!

    Trả lời

  36. ChimGõKiếnJan 30, 2012 12:07 AM

    Bọn xã hội đỏ này nó ghê tởm hơn xã hội đen là ở chỗ này đây. Chúng ngồi xổm trên pháp luật, chúng còn có cả một hệ thống truyền thông dối trá, xảo quyệt, chúng có cả bọn « công cụ chuyên chính »: cảnh sát, quân đội, nhà tù để đàn áp dân đen. Tất cả là để chiếm đoạt tài nguyên đất nước chia cho nhau, để thao túng toàn xã hội của đất nước.
    Bọn xã hội đỏ này thực sự còn kinh tởm hơn xã hội đen hàng trăm lần!

    Trả lời

  37. Vu Hong PhongJan 30, 2012 12:15 AM

    Thối thật. Thối đến thế là cùng!
    Tiên sư bọn lãnh đạo huyện Tiên Lãng

    Trả lời

  38. Nặc danhJan 30, 2012 12:32 AM

    Đ mẹ thằng nào viết bài này và tiên sư thằng biên tập cổng thông tin điện tử Tiên Lãng!!!

    Trả lời

  39. emgaJan 30, 2012 12:33 AM

    Bản chất của kẻ cầm quyền Cs bất cứ ở nơi đâu,bất cứ cấp độ và quyền lực nào đều cướp và lừa,bao che nhau khi bị dân phát giác.

    Trả lời

  40. THANGKHOSAIGONJan 30, 2012 01:10 AM

    chúng nó LŨ CƯỜNG QUYỀN CỘNG SẢN VN và bầy VĂN NÔ NHÀ SẢN ,đã biết sợ tiếng nỗ,nên một bài báo viết ngược lại 180 độ,ngược lại với nhân định của nhiều quan lớn cường quyền hưu trí,lẩn công luận 2 lề ĐÃ NÓI TRƯỚC DƯ LUẬN,vì vậy mà cái thằng văn nô,hay tập thẻ văn nô CÒN ĐẢNG CÒN TIỀN,của tờ báo đảng chó hải phòng,dám viết mà không dám đề danh,tại sao vậy?nếu chúng nó ghi danh tánh rỏ ràng,tôi tin rằng nhà chúng nó sẽ ăn đám ma tập thể vì mìn nổ./.

    Trả lời

  41. tommyJan 30, 2012 01:31 AM

    « SẼ XỬ LÝ NGHIÊM CÁC CÁN BỘ CÓ LIÊN QUAN TRONG VỤ ÁN ĐOÀN VĂN VƯƠN ĐỂ GIỮ KỶ CƯƠNG PHÉP NƯỚC » Đọc đến vậy thì cũng đã thấy « đảng và nhà nước ta » rất bảo vệ người dân – công lý đã có trên quê hương Việt Nam này rồi ? chúng (cán bộ liên quan )SẼ bị bắt -SẼ bị đem ra xét xử nhưng lại chưa đủ chứng cứ phải thu thập thêm đã rồi xử ;sau 10 hay 15 năm gì đó đủ chứng cứ rồi TÒA xử ? TÒA sẽ PHÁN : XÉT THẤY NHÂN THÂN TỐT CHƯA TỪNG PHẠM TỘI -GIA ĐÌNH CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG ! THÔI HUỀ CẢ LÀNG ? Vụ án « chìm xuồng  » dân lại bị lừa, hết nổi loạn dù vẫn đang ấm ức ? huyện rút kinh nghiệm CHỈ ĐẠO …đi cướp mãnh đất khác ? Hì hì ! cái trò trẻ con quá rồi vẫn diễn đi diễn lại ,lần cướp sau nhiều công an ,lính tráng và súng ống cũng nhiều hơn vậy thôi

    Trả lời

Những lời bộc bạch của một đảng viên : Bộ chính trị ĐCSVN nên nghiêm túc cân nhắc xử lý trường hợp chị Bùi Thị Minh Hằng

23 Jan

Bộ chính trị ĐCSVN nên nghiêm túc cân nhắc xử lý trường hợp chị Bùi Thị Minh Hằng

Nguyễn Chí Đức – « …Thậm chí họ cũng chẳng nguy hiểm cho chế độ, cho sự tồn vong của ĐCSVN bằng sự suy thoái, tha hóa, tham nhũng của những đảng viên cao cấp trên hầu hết tỉnh thành, mọi mặt trận, các lĩnh vực ở Việt Nam. Nói một cách dân gian và hơi bậy đó là “tự tay bóp dá…i” chứ chẳng có thế lực thù địch nào phá hoại nhanh chóng bằng chính trong nội bộ tự đạp đổ, đi ngược lại lợi ích và nguyện vọng của nhân dân… »

*
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

THƯ NGỎ YÊU CẦU LƯU TÂM ĐẾN UY TÍN CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUẦN CHÚNG
Kính thưa các đồng chí trong Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) trừ Nguyễn Tấn Dũng!
Tên tôi là: Nguyễn Chí Đức
Năm sinh: 1976
Ngày vào ĐCSVN: 28-12-2000
Ngày chính thức: 28-12-2001
Hiện đang sinh hoạt tại: Chi bộ Phòng Điều Hành thuộc Trung Tâm Dịch Vụ Khách Hàng – Viễn Thông Hà Nội.
Thông thường và cũng là qui định của ĐẢNG TA (*) chỉ có đảng viên cấp trên mới có thẩm quyền giáo huấn, chỉ đạo, chỉ tay năm ngón đối với đảng viên cấp dưới mặc dù chưa chắc trình độ, đạo đức, cống hiến của cấp trên đã bằng cấp dưới. Nay tôi xin phép phá lệ, không dám thay mặt ai ngoài cá nhân tôi có đôi lời với các đ/c cấp cao nhất của Đảng ta. Vì việc này có liên quan đến 1 người anh-em, 1 người “đồng chí” của tôi đó là chị Bùi Thị Minh Hằng, ít nhiều vấn đề này cũng liên quan góp phần nâng cao hoặc hạ thấp uy tín của Đảng ta. Tôi cũng xin nói rõ khái niệm “đồng chí” trong ngoặc kép mà tôi đề cập đến chị Hằng có khi tôi còn trân trọng hơn ý nghĩ đồng chí trong Đảng ta, vì thực tế tôi từng nghe/biết trong nội bộ của Đảng ta có lúc, có khi chỉ lợi dụng là “bem” nhau chết thôi. Bem theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng!
Mới đây, tôi vừa nhận được cuốn sách nhỏ-mỏng « Qui định về những điều đảng viên không được làm » mới được in trong tháng 3/2012 một cách rất nghiêm túc. Đây là một chủ trương có tính hệ trọng, kết quả của việc chỉnh đốn trong nội bộ còn phải hậu xét nhưng trước mắt nó sẽ siết chặt dây thòng lọng nhằm quản lý các đảng viên là các cựu chiến binh, lão thành cách mạng, trí thức, những người tốt còn lương tâm muốn gióng lên tiếng nói về sự bất công của xã hội, về sự tha hóa trong nội bộ ĐCSVN đã đến mức trầm trọng có khả năng « ung thư di căn giai đoạn cuối ».
Tôi nghĩ là các đ/c nói riêng và nhiều người trong Đảng ta nói chung và hầu hết nhân dân đều nhận thấy sự sụp đổ, mất quyền lãnh đạo đất nước của ĐCSVN là hiện thực khách quan nếu cứ đà xuống cấp để mất lòng tin của nhân dân cũng như sự chán nản, mất tinh thần chiến đấu của phần lớn đảng viên khi nhìn và so sánh vào sự xa hoa, khệnh khạng, ăn tục nói phét của những cán bộ cấp trên (dĩ nhiên cũng là đảng viên) không xứng với tài năng, sự cống hiến và đức độ đối lập với hoàn cảnh của đại bộ phận quần chúng nhân dân. Hôm nay, xem bản tin thời sự của đài truyền hình Hà Nội đưa tin về trường hợp chị Bùi Thị Minh Hằng đang bị cưỡng bức giáo dục ở cơ sở giáo dục Thanh Hà tỉnh Vĩnh Phúc, trong lòng tôi không khỏi dấy lên sự ngán ngẩm và xin mạnh dạn, thẳng thắn trình bày với các đồng chí như sau:
Thiết tưởng về trường hợp chị Bùi Thị Minh Hằng, tôi nghĩ các đồng chí đã biết. Còn nếu thực sự các đ/c không biết xin các đồng chí nhờ trợ lý, thư ký lên Internet vào các trang web như youtube.com, google.com hay tham khảo ở các blog, website không do sự quản lý của chế độ để tìm hiểu tâm tư, tình cảm của các blogger đối với cái tên “Bùi Thị Minh Hằng” xem như thế nào?
Tôi nhớ không nhầm đã từng xem một phóng sự truyền hình nói về những người tù, tội phạm hình sự trong thời chiến (trước 1975) ở miền Bắc đã từng được kết nạp ĐCSVN, có người ra chiến trường lập công trạng cho chế độ, có người đã anh dũng hy sinh, có người làm những việc tốt hơn cả đảng viên. Còn trong ĐCSVN thì thế nào? Trong “triều đình” của ĐCSVN có những chuyện thâm cung bí sử được đồn đại còn khốn nạn hơn cả dân gian. Có những câu chuyện nhân dân đã lan truyền từ lâu rồi (do bản tính thích đàm tiếu của người Việt Nam) trước khi xuất hiện Internet ở Việt Nam những năm 1998-1999.
Các đ/c nghĩ sao về việc dùng cả hệ thống chính trị, các phương tiện truyền thông như truyền hình, báo đảng, báo an ninh để bêu rếu, moi móc đời tư của một người phụ nữ bình thường có xứng đáng không? Trong giang hồ, xã hội đen cũng khó chấp nhận chứ đừng nói chuyện người lương thiện. Không biết các đồng chí nghĩ thế nào chứ từ khi tôi đi học, đi làm những ông/anh nào hay tỉa đểu, bêu rếu phụ nữ vì chuyện A, B, C nào đó khi người ta ngã ngựa bản chất cũng chẳng ra cái gì, anh em nhất là những người có cá tính đều coi thường và khinh bỉ ngầm loại này.
Chuyện tham nhũng, mua quan bán chức, Boxit Tây Nguyên, vấn nạn trong ngành giáo dục… thì không đi bêu rếu nhằm ngăn chặn những con sâu mọt làm hại dân tộc, làm hại uy tín của ĐCSVN, làm hại đến sự tồn vong/phát triển của đất nước đằng này đi làm việc cỏn con, tiểu tiết quả thực tôi nghi ngờ về tấm lòng rộng lượng, quang minh chính đại của một số người trong Đảng ta có thẩm quyền thao túng truyền thông. Nói thẳng tưng một cách bình dân là: Quá phọt phẹt!
Một cách thành thật và thẳng thắn, tôi biết cái chuyện bêu rếu chị Hằng không chỉ đơn thuần nhằm “đánh” chị Hằng mà sâu xa là có kẻ/nhóm muốn triệt tiêu mầm mống tụ tập của những người đã từng biểu tình yêu nước trong mùa hè 2011 đã gắn kết, đùm bọc lẫn nhau. Nhưng xin thưa với các đ/c, những người này ban đầu chẳng ai có suy nghĩ liên kết, liên lạc với nhau làm gì. Chỉ đến khi có sự bắt bớ, thẩm vấn, đánh-đạp, xô đẩy người biểu tình khiến dần dần họ đồng cảm mà xích lại gần nhau từ đó phát sinh ra những câu chuyện khác.
Nguyên nhân trực tiếp để xảy ra cơ sự này, không ai khác chính là tác động của lực lượng công an thành phố Hà Nội khi phải thực hiện công vụ, làm theo mệnh lệnh của Đảng ta. Nhưng nguyên nhân sâu xa và âm ỉ chính là thái độ úp úp – mở mở về cách đưa tin của Đảng ta về tình hình biển đảo Hoàng Sa – Trường Sa không những quần chúng nhân dân không được biết mà đến 99,99% đảng viên đều không được phổ biến cụ thể thực hư như thế nào. Việc dồn nén, nghi ngờ từ năm này qua năm khác đến một thời điểm đã bùng nổ. Nếu điều này không diễn ra vào năm 2011 thì cũng sẽ diễn ra ở một thời điểm nào đó trong tương lai và chắc chắn còn xảy ra nếu như nhân dân tỏ sự nghi ngờ vào việc quyết tâm bảo vệ tổ quốc đến hơi thở cuối cùng của lãnh đạo ĐCSVN cùng các tổ chức khác như QĐNDVN, CAND, ĐTNCSHCM…
Câu chuyện về chị Hằng tôi nghĩ nhiều người trong lực lượng an ninh, lãnh đạo ĐCSVN phải mệt mỏi, trên Internet các blogger, truyền thông không do chế độ cũng bàn ra tán vào. Bản thân những người như tôi đã từng gắn bó với chị Hằng trong một giai đoạn trong công cuộc xuống đường, không khỏi lo lắng và bất an không những về trường hợp của chị Hằng mà còn những trường hợp khác bị rắc rối không hiểu lý do tại sao?
Về ngắn hạn và cụ thể, tôi nghĩ các đ/c nên tìm cách chỉ đạo, dàn xếp và hợp lý hóa để chị Bùi Thị Minh Hằng nhanh chóng ra khỏi trại giáo dục Thanh Hà càng sớm càng tốt. Vì tôi tin rằng tất cả mọi người đều hiểu việc giam giữ chị Hằng đến 2 năm là bất hợp lý, quá nặng tay. Cái này chỉ khiến những người muốn tìm hiểu bản chất sự việc càng ngày càng thêm sợ Công An, gián tiếp là sợ ĐCSVN mà thôi. Không lẽ ĐCSVN muốn làm nhân dân sợ hãi?
Nhưng đó chỉ là ngắn hạn, còn về dài hạn khi người ta vượt qua nỗi sợ hãi, vượt qua sự đau thương, vượt qua sự u mê-ngu tối thì người ta không còn sợ nữa khi đó một cuộc cách mạng về tư tưởng sẽ diễn ra. Ban đầu, tự thân mỗi người dân tự giác ngộ, trong ĐCSVN thì các đảng viên tự diễn biến đến một lúc chín muồi, đủ lượng thì cái gì đến nó sẽ phải đến.
Về lâu về dài, biện pháp an dân hiệu quả nhất là các đ/c tăng cường tuyên truyền và xác quyết mạnh mẽ cụ thể về chủ quyền quốc gia của Việt Nam đối với giặc Tàu (tương lai) cho nhân dân và cộng đồng quốc tế. Cần thiết phải có sự tuyên thệ trước quốc dân đồng bào của lãnh đạo ĐCSVN và thậm chí toàn bộ đảng viên phải xin thề khi có chiến tranh phải ra mặt trận, lên tuyến đầu, trừ trường hợp già cả/người tàn tật, phụ nữ và những trí thức lớn (để dành vào việc giáo dục). Nói gì thì nói Đảng ta hiện nay là đảng cầm quyền, gần như hầu hết các chức vụ từ xã tới trung ương đều có vị trí của Đảng ta.
Bên cạnh đó, với cương vị là cán bộ của các Bộ-Ban-Nghành trong chính phủ, các đ/c nên điều chỉnh lại chính sách, luật lệ/nghị định nhằm giảm thiểu bất công, nhũng nhiễu dân lành của các cơ quan công quyền. Các đ/c cố gắng tự chấn chỉnh nhằm ngăn chặn tham nhũng, thất thoát tài nguyên, tiền bạc mà đầu tư vào giáo dục, y tế và các hoạt động công cộng, đặc biệt dành cho người nghèo, nông dân-công nhân. Những điều này chẳng có gì cao siêu và xa xôi, cứ suy luận ngay từ chính những dòng đầu tiên trong điều lệ của ĐCSVN!
Thay vào việc chúng ta tăng cường tuyển dụng quân số, đầu tư vào lực lượng an ninh nội địa, mục đích chăm chăm rình bắt những người tụ tập, ngăn chặn những người cất lên tiếng nói phản kháng chính quyền, bắt bỏ tù những người có tư tưởng khai phóng-tự do muốn tìm một đường lối thích hợp nhằm phát triển đất nước dù không cùng quan điểm với ĐCSVN. Tôi nghĩ đại đa số những người này là người tốt trong xã hội, chí ít cũng chẳng ăn trên ngồi trốc, đè đầu/cưỡi cổ nhân dân như đảng viên. Thậm chí họ cũng chẳng nguy hiểm cho chế độ, cho sự tồn vong của ĐCSVN bằng sự suy thoái, tha hóa, tham nhũng của những đảng viên cao cấp trên hầu hết tỉnh thành, mọi mặt trận, các lĩnh vực ở Việt Nam. Nói một cách dân gian và hơi bậy đó là “tự tay bóp dá…i” chứ chẳng có thế lực thù địch nào phá hoại nhanh chóng bằng chính trong nội bộ tự đạp đổ, đi ngược lại lợi ích và nguyện vọng của nhân dân..
Rất mong các đ/c đại xá cho sự lộng ngôn của tôi vì quả thực tôi quá chán với báo đài chính thống là công cụ của Đảng ta, ai lại đi moi móc đời tư của một người phụ nữ làm gì. Nếu muốn tỏ rõ sự nghiêm minh của pháp luật thì cứ theo đúng qui định của pháp luật mà làm, cũng như chấp nhận những khiếu kiện (nếu có) của chị Hằng. Còn bằng không nếu đã xác định chơi “luật rừng” thì chúng ta cứ âm thầm mà làm thôi. Mong các đ/c rút kinh nghiệm cho những lần biểu tình yêu nước về sau của nhân dân nếu bất đắc dĩ xảy ra.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí trừ Nguyễn Tấn Dũng!
Hà Nội, ngày 13/4/2012
Người viết bài (không ký tên)
NGUYỄN CHÍ ĐỨC


Blog Đông Hải Long Vương
(*) ĐẢNG TA : Lưu ý đối với người đọc ngoài ĐCSVN, ở đây tôi đề cập với các đ/c của tôi chứ không bao đồng Đảng ta tức là đảng của tất cả mọi người. Và đây là đảng đang cầm quyền và cũng là đảng duy nhất chính thức đang tồn tại ở Việt Nam.
Ghi chú : về nguyên tắc trong nội bộ của ĐCSVN đơn thư, phản ánh phải trình lên từ cấp cơ sở dần dần tới cấp cao hơn, nhưng với kiểu viết tùy hứng và chẳng ăn nhập gì đến chuyện cơ sở nên tôi nghĩ không bao giờ đến tay các đồng chí trong Bộ Chính Trị, nên tôi viết thư ngỏ này để hi vọng ai đó copy & paste chuyển đến tay các đ/c này chăng?

55 Ý kiến:

Lưu Ý :

– Những phản hồi sử dụng « Nặc danh/Ẩn danh »sẽ không được xuất hiện. Các bạn có thể chọn một nickname cho mình khi phản hồi bằng cách sử dụng các chức năng : « Tên/Url », hoặc bằng tài khoản Google

– Nếu nội dung phản hồi quá dài sẽ bị máy chủ BlogSpot hiểu lầm là Spam (không cho hiện lên), xin bạn vui lòng chia nội dung thành nhiều phần, hoặc chờ Dân Làm Báo cho xuất hiện lại phản hồi

– Phản hồi sẽ bị xóa nếu : viết chữ Việt không dấu, hoặc sử dụng quá nhiều chữ IN HOA 

  1. Quần chúng bất mản .Apr 12, 2012 03:31 PM

    Hãy thả ngay Bùi thị Minh Hằng và những người biễu tình chống Trung Quốc xâm lược . Bắt nhốt và truy tố ngay những tên mở ngõ cho Tàu vào Tây Nguyên khai thác bauxit , bán Trường Sa Hoàng Sa bằng văn bản , cũng như bắt nhốt và truy tố ngay những tên lảnh đạo và những người liên quan đến các tập đoàn Quốc doanh đang làm cho ngân sách nhà nước bị thâm thủng . Bắt nhốt và truy tố ngay tên Trần Đại Quang bộ trưởng bộ công an nhân dân . Lảnh đạo ngành công an mà để thuộc cấp hống hách , lạm quyền đánh , giết nhân dân mỗi khi bị bắt vào đồn công an . Làm mất lòng tin với đại bộ phận quần chúng tức nhiên là phản động hay tiếp tay cho phản động .

    Trả lời

  2. Đồng chí Boris Yelsin kính mến đã nói : » Đàng CS không thể THAY ĐỔI mà phải bị THAY THẾ « .Và đồng chí Tổng Bí Trọng Lú đã phát động phong trào CHỈNH ĐỐN DẢNG.Theo Dân Ngụy tôi đảng Cướp Sạch VN không cần CHỈNH mà cần phải cần phải ĐỐN ĐỐN ĐỐN bỏooooooo

    Trả lời

  3. Ông em Nguyễn Chí Đức,

    Em đã hiểu rõ về DCSVN, thì tại sao công chức phải gia nhập? Họ đã lưà bịp toàn dân VN đề giúp ḥo chiến thắng VNCH. hiện nay, toàn thế giới thấy rõ bộ mặt thỏ đế của ĐCSVN khi đối đầu với Trung Cộng (TC)…mà để bọn TC ngang nhiên đàn áp ngư dân trong v̀ung lãnh hải của VN.

    Trả lời

  4. Đồ Nhà KhóApr 12, 2012 04:43 PM

    Nguyễn Trí Đức hãy bảo trọng. Năm nay không phải là một năm tốt của Đức đâu.

    Trả lời

  5. Ông dọa người ta hả? Nghe giọng như An ninh nhỉ!

  6. Ngưỡng mộ anh Nguyễn Chí ĐứcApr 12, 2012 09:56 PM

    Không tốt cho lũ Việt Cộng thì có.

    Lòng dân đang căm thù Việt Cộng tột cùng, dân chúng bất mãn khắp nơi.

    Định dọa những người yêu nước như anh Chí Đức đấy à? Quên đi nhé con.

    Tôi ngưỡng mộ cá tính mạnh mẽ, cương trực của anh Đức.

    Chúc anh Đức vững bước trên con đường chống bạo quyền cộng sản.

  7. Người xe ômApr 12, 2012 10:17 PM

    Não bộ cảu bạn có vấn đề rồi đó.Bạn nên đi khám xem bị bệnh gì mà hèn và tệ hại quá về tinh thần của một ngừơi viết trên mạng.

  8. Tôi tin là 92% khả năng a. Đức sẽ bị bọn CA nhũng nhiễu, đê hèn ở nhà riêng cũng như trong cty … A nên sớm làm ăn kinh tế cá nhân thật vững mới đối chọi dc với bọn quái thai đó. Thật lo cho a. Chúc a và tất cả những người yêu nước bình an.

  9. đúng là–đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm–.nhưng dù sao cũng cảm ơn 2 từ BẢO TRỌNG.

  10. Bạn nào nói Chí Đức nên bảo trong là có lý đấy : Chí Đức sinh năm 1976 ( bính Thìn) thuộc hành thổ, năm nay Nhâm thìn thuộc thủy, thổ khắc thủy là khắc nhập nên sẽ có biến cho bản mệnh. Bạn phải chú ý Tháng 3, tháng 9, tháng 12 âm lịch nhé, nhất là tháng 9 sẽ có nhiều chuyện đấy , nên cẩn trọng, khg dọa bạn đâu.

  11. « Chữa bệnh chọn thầy già, cất nhà chọn thợ trẻ » vì chúng ta không cần CHỈNH nên không thấy các ĐV lão thành lên tiếng!? Chúng ta đang cần ĐỐN để xây lại ngôi nhà đã bị mục nát nên cần những người thợ trẻ .và bây giờ đã có người « THỢ » trẻ rồi. Mong sao có nhiều thợ trẻ góp thêm bàn tay cho ngôi nhà mới Việt Nam khang trang hơn.
    Mẹ Việt Nam ơi ! thôi buồn vì đàn « con » của Mẹ ,chúng bất hiếu bán sạch gia tài của Mẹ. « Cháu » của Mẹ sẽ xây dựng lại gia tài cho Mẹ để khỏi thẹn với các Mẹ Asean

    Trả lời

  12. dúng nhu dồ nha khó

    Trả lời

  13. Đả đảo bè lũ cọng sản bán nước giết dânApr 12, 2012 05:22 PM

    Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lời

  14. Đồ Nhà KhóApr 12, 2012 05:37 PM

    To Mat
    Đồ Nhà Khó tôi rất cảm động và mến mộ những người trẻ tuổi có tâm, có đức như Trí Đức. Tôi cũng không lạ gì bản chất, tâm địa tiểu nhân và đê tiện của chính quyền CS. Tôi biết chút về tử vi, sao hạn và cũng coi Trí Đức như con em mình nên dặn dò bạn ấy vậy. Điều đó được xem là « nhọ » quá hay « thâm » quá?

    Trả lời

  15. Chỉ tại chúng tôi những người miền Nam thích làm cách mạng mà dân tôi phải chịu nhiều đau khổ.Apr 12, 2012 05:49 PM

    Ủng hộ quan diểm và lập trường của đ/c đảng viên Nguyễn chí Đức.
    Tôi cũng là một người đang mang thẻ đảng, tôi chân thành cám ơn đ/c Nguyễn chí Đức đã lên tiếng bênh vực cho BH cũng là đảng viên và là người bạn tốt của nhân dân VN yêu nước.
    Không phải ai mang thẻ đảng cũng xấu xa, đê tiện sẵn sàng bán nước cầu vinh, làm hại cho dân tộc hơn làm giàu mạnh cho tổ quốc.
    Tôi ước được nhìn thấy các phương án « cứu uy tín đảng » của NCĐ sớm trở thành hiện thực, nhất là đoạn:
    « Về lâu về dài, biện pháp an dân hiệu quả nhất là các đ/c tăng cường tuyên truyền và xác quyết mạnh mẽ cụ thể về chủ quyền quốc gia của Việt Nam đối với giặc Tàu (tương lai) cho nhân dân và cộng đồng quốc tế. Cần thiết phải có sự tuyên thệ trước quốc dân đồng bào của lãnh đạo ĐCSVN và thâm chí toàn bộ đảng viên phải xin thề khi có chiến tranh phải ra mặt trận, lên tuyến đầu, trừ trường hợp già cả/người tàn tật, phụ nữ và những trí thức lớn (để dành vào việc giáo dục) ».
    Tôi chán ngán những cặp mắt « e dè » của người dân dành cho những người mang thẻ đảng lắm rồi.

    Trả lời

  16. Tôi cũng gốc CS đây. Nhưng vì đó lài sai lầm ngay từ nguyên lý, học thuyết (cứ nhìn vào thực tế đủ rõ, đã ai, nước nào thành công với CNCS chưa) nên không thể trông mong gì ở sự thay đổi tiến bộ cả
    Tôi ý thức rõ VN chỉ có thể tiến bộ, phát triển nếu quăng đảng CS vào sọt rác. Và đảng không bao giờ tự ý thức giác ngộ điều này. đảng nó có thể bán lợi ích quốc gia, bán rẻ nhân dân để bảo vệ cho sự độc tài cai trị của nó (sâu xa đó chính là những quyền lợi cá nhân của những kẻ nhân danh đảng)
    Tôi bỏ sinh hoạt đảng từ lâu rồi

  17. Chí Đức ơi! Đừng nên xoa dầu xức thuốc cho một con bệnh mà ngay bản thân họ cũng xác định là đã ung thư giai đoạn 3…Tất cả các giải pháp nhằm hà hơi tiếp sức cho con bệnh chỉ kéo dài sự xuống cấp của một dân tộc, sự hủy hoại của một đất nước, kéo dài sự đau khổ của nhân dân!

    Cách tốt nhất là phải đưa con bệnh về với ông ba nhanh nhất đó là nhân đạo nhất! Những tế bào còn sót lại như Chí Đức đừng mơ hồ nữa!

    Tất cả các chính thể độc tài đều phải sụp đổ! Bất hạnh cho dân tộc nào nếu nó còn dây mơ rể má với cái CNXH mơ hồ!

    Không nên hà hới tiếp sức cho cái cơ thể đã chết lâm sàng với căn bênh ung thư giai đoạn cuối! Tốt nhất là lo hậu sự :Xử lí cái cuối cùng để khỏi lây lan di truyền cho thế hệ sau!

    Chí Đức chưa LÚ mà sao?????

    Trả lời

  18. CS thì không thể sửa đổi. Nó sai lầm ngay từ tà thuyết của cố nội nó. Chúng cố bám víu vào để trục lợi cá nhân mà thôi. Cả thế kỷ nay, từ khi có Tà thuyết CS đã có thằng nào thí nghiệm thành công đâu. VN không sớm vứt bỏ nó đi thì còn tụt xuống hố như BTT
    Đã sai lầm thì ngày càng lụn bại, đi vào chỗ chết. Chỉ khổ cho dân tộc ta bị mấy thằng ngu rước nó vào nên mới ra nông nỗi này

  19. VẤT THẺ ĐÒANApr 12, 2012 10:46 PM

    « Một vài tế bào khỏe mạnh không thể cứu nổi một cơ thể ung thư tòan diện ». Cảm ơn Chí Đức.

  20. Nhà tôi vào đảng ba đời
    Chẳng ai có được một lời như em
    Cầu cho em biết nhiều thêm
    Để quê hương được đêm đêm yên bình
    hànvi

    Trả lời

  21. Dân đen thuiApr 12, 2012 06:55 PM

    Chí Đức..cám ơn bạn …xin gửi bạn lòng khâm phục ..nếu ai theo đảng nhìn ra những điều như Đức …thì nước ta không phải như vậy ..Bảo trọng nhé bạn

    Trả lời

  22. Dân ngu cu đenApr 12, 2012 07:13 PM

    Chí Đức khi viết bài này cho chúng ta hiểu là chú ấy đã thấy chuyện gì đang đợi chú ấy và chú ấy không sợ.
    Bọn chúng bắt chị Hằng bằng lý do mờ ám là đã bị 2. 3 lần bị phạt hành chính vì tội gây rối « trật tự công cộng ». Gây rối ư ? Biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn là gây rối ư ? Bọng chúng nó mồm thối hết rồi.
    Hộ khẩu, tạm trú một nơi mà lại đi lung tung nhiều nơi là vi phạm sao ? Hiến pháp nào quy định như vậy?
    Tại sao chỉ trừ Nguyễn tấn Dũng ? Chí Đức nghĩ rằng những Lê Hồng Anh, Tòng thị Phóng, Đinh Thế Huynh, Nguyễn phú Trọng, Tô Huy Rứa là tốt hơn Nguyễn tấn Dũng à? Nhiều khi họ còn thối hơn cơ đấy.

    Trả lời

  23. Có phải là Chí Đức không? Hay ai mạo danh?
    Nếu đúng thì quả không hổ danh là dân Nghệ An. Ngay thẳng, cương trực.

    Tất nhiên là cũng có những cụ Nghệ An khác là những đại kịch gia.

    Bravo Đức – đồng hương ngả mũ chào.

    Trả lời

  24. Bác Nông DânApr 12, 2012 07:55 PM

    Rất hay, hay nhất câu « tự tay bót dá…i »

    Nếu Đảng Viên nào cũng biết nghĩa lý và sáng suốt như anh này thì Việt Nam giàu biết mấy… nhưng mà nếu sáng suốt và thông minh thì Đảng CS đâu còn tồn tại làm gì nữa, những quốc gia phồn thịnh giàu có, có nước nào có Đảng CS nắm quyền đâu?

    Cảm ơn bác Đức đã lên tiếng cho một người dân yêu nước.

    Trả lời

  25. Tôi vẫn nghe thấy lời ông Thiệu văng vẳng bên tai.

    Trả lời

  26. vứt thẻ đảng đi ông Đức ơi.Bao nhiêu người không đảng người ta vẫn sống.Dù rằng số đông bị bọn cai trị đày dọa nhưng lương tâm trong sáng .Cực khổ rồi có một lúc sẽ qua cái hèn nhục thì đeo đẳng suốt đời,Rồi con cái trong gia đình nữa chúng phải sống làm người có tư cách để xưng đáng làm người chư.Cứ ôm khư khư cái thẻ đảng làm gì cho nhục nhã tổ tông,làm sao giáo dục chúng thành người hửu dụng.Hay là ông giận đảng ta vì chưa cho ông quyền chức gì để……

    Trả lời

  27. Rất cảm ơn Nguyễn Chí Đức, 1 đảng viên xuống đường bị công an đạp vào mặt- đạp vào nhân dân, đạp vào lịch sử !
    Nay, chú viết thư ngõ, rất hào hùng, cương trực, khẳng khái và tâm huyết với nhân dân !
    Thưa chú Đức và các chư vị !
    Họ nhà tôi vô d9cs vn từ 4 đời, từ thời tiền khởi nghĩa (8/1945) cơ. Nhưng bây giờ thì khiếp sợ, ghê tởm đcs Vn. Vì: khi 1 đảng độc quyền đã lộ tẩy ra vô vàn mục đích bẩn thỉu: tham nhũng, cướp bóc, bóc lột,tha hóa…Để đạt được, chúng (tổ chức đcs VN) đề ra nhiều giải pháp, phương pháp: đê tiện, đê hèn, mưu mô, thủ đoạn, lưu manh, tha hóa, tranh giành, cướp cắp, đê tiện, nịnh nọt, luồn cúi, hèn hạ, độc ác…và quay lưng lại với lợi ích của nhân dân; chà đạp lên mọi phẩm giá của dân tộc, nhân dân!
    Không 1 quốc gia, dân tộc nào trong số hơn 200 quốc gia, dân tộc trên thế giới lại có 1 thực thể chính trị như VN: khoảng 3 triệu người, bao gồm: đảng viên giữ các chức quyền trong mọi cơ quan, đơn vị lại quyết định, điều hành, độc quyền mọi hoạt động, mọi công việc của 87 triệu người còn lại ??!!! Chúng (tổ chức đcs VN) đã hủy hoại cả dân tộc, làm mục ruỗng cả dân tộc.
    Không có 1 công trình khoa học nào chứng minh được hơn 3 triệu quyết định 87 triệu như hiện tình ơ VN.Tại sao là 3 triệu ? Chúng (tổ chức đcs) bao gồm những đảng viên đang giữ chức quyền ở tất cả các cơ quan, đơn vị từ dân chính đến cấp ủy, từ dân sự đến quân sự cộng thêm những cán bộ có chức quyền đã nghĩ hưu.Nạn nhân của chúng là quần chúng nhân dân+đảng viên là nhân viên+đảng viên hưu trí không có chức quyền khi đương chức+1 số ít đảng viên hưu trí liêm khiết cả đời=gần 87 triệu người.
    Làm thế nào ? Chỉ có 1 cách duy nhất là thay đổi, đạp đổ sự cầm quyền độc đoán của đcs Vn để xây dựng 1 chế độ đa đảng, đa tổ chức chính trị. Mấy ngày này, báo chí đưa tin nước này, nước kia bầu cử, từ chức…tôi cứ mơ, bao giờ Vn cũng thực sự như họ: đa đảng thì lành mạnh, có đối trọng thì sẽ lành mạnh. Có cạnh tranh thì mới tìm được minh chủ lãnh đạo. Chúng ta (những con dân Việt) đang phải chịu sự khốn nạn vì phải sống trong 1 quốc gia bệnh hoạn, lũng đoạn vì độc đcs Vn! Chúng rêu rao « diễn biến hòa bình » nhưng chính chúng đang « diễn biến » để ức hiếp, hiếp đáp, chà đạp, đày đọa, bóc lột những người dân đen VN!

    Trả lời

  28. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lời

  29. Cái chế độ cộng sản thối nát Việt Nam chỉ giỏi đi ăn hiếp đàn bà và con nít nhưng đối với bọn bành trướng Bắc kinh thì công an và cán bộ cộng sản không dám đụng tới!

    Trả lời

  30. kính thưa các anh chị trong dân làm báo
    Nhà tôi vốn có truyền thống cách mạng , Cha theo Việt Minh ,về sau dẫn đắt tất cả các con theo ĐCSVN ,tôi có 4 đứa em nữa , tất cả đều là Đảng viên , đủ ban ngành từ công an đến quân đội , những năm gần đây chúng tôi tiếp cận được thông tin trên internet , và tìm hiểu , mới thấy sự xảo trá thối tha của chế độ , nên tất cả đều trả thẽ đảng viên và xin nghĩ việc .
    đây là sự thật 100% , giờ đây tôi cảm thấy nhẹ nhàng , không còn bức rức lương tâm như khi xưa nữa , ( trước đây tôi là CA ) Tôi mong rằng những người như tôi hãy sớm tỉnh ngộ mà quay về với quê hương dân tộc .

    Trả lời

  31. Đọc những chia sẽ ngắn gọn của bạn thật súc động. Cảm ơn bạn. Tôi làm nghề giáo, khi có dịp tôi luôn nói với các em về truyền thống yêu nước và những đức tính tốt đẹp của dân tộc: Chăm chỉ, trung thực, thẳng thắn cương trực đối diện, đấu tranh với cái xấu không sợ hãi, yêu thương đùm bọc nhau, hãy sống quang minh chính đại, ko sợ cường quyền ác bá, đừng nhiễm lối sống chai lạnh, làm ngơ trước những bất công, ức hiếp người khác, lối sống bạo lực và hưởng thụ đang diễn ra hàng ngày trong xã hội ta, phá hoại nền đạo giáo của dân tộc.
    Xin cảm ơn bạn Tỉnh Ngộ.

  32. Cám ơn bạn Chí Đức. Dân Việt cần những người con không sợ cái ác như bạn. Biết bạn sẽ bị bắt và bị giết vào một ngày gần đây, nhưng tôi không biết làm sao để cứu bạn được. Chỉ xin cầu mong bạn được bình an.

    Trả lời

  33. Thằng Mõ Úc ChâuApr 12, 2012 09:05 PM

    Nhân dân Việt Nam cũng biết rằng. Không phải tất cả người nào gia nhập vào đảng cộng sản đều xấu, đều tham nhũng … !!! Chúng ta ước mong sẽ có càng nhiều « đảng viên » thức tỉnh và dám nói lên sự thật như Nguyễn Chí Đức. Chúc bạn sức khỏe để tiếp tục làm những việc ích nưóc lợi dân.

    Trả lời

  34. Càng ngày càng thấy lãnh đạo nói xa rời với thực tiễn. Tại sao không giải thích cho nhân dân  » nước lạ »  » tàu lạ  » cụ thể là gì và tại sao phải gọi như vậy. Các vị lãnh đạo chỉ có sức mạnh thực sự khi lời nói phải đi đôi với việc làm.

    Trả lời

  35. Em Đức đừng vất thẻ đảng nha! để đó sau này bán cho Mỹ lấy đola. vất đi phí lắm!!!

    Trả lời

  36. Đọc những bài viết gần đây của Chí Đức, tôi nhận thấy tâm lý « tự diễn biến » của bạn đã chín. Bạn đã vượt qua nỗi sợ hãi và thậm chí đã phải trải qua những hành vi đe dọa, áp lực của Đảng ta mà đứng lên công khai vạch mặt chế độ. Chúc mừng bạn và mong nhiều đảng viên khác hãy xem

    Khi đã dồn người ta vào đường cùng, lúc đó mạng sống cũng không còn ý nghĩa gì chứ đừng nói là cơm áo, gạo tiền. Tôi cũng ở hoàn cảnh giống bạn và chắc sẽ có ngày anh em mình được gặp nhau trên chiến tuyến.

    Trả lời

  37. Thúi không chịu nỗiApr 12, 2012 09:40 PM

    XEm cái clip nhục mạ chị Hằng , tôi thấy nó bốc mùi xú uế thối không chịu nỗi ! đúng là một lũ vô liêm sỉ !

    Trả lời

  38. Đảng ta không muốn có ác ý với chị Hằng .Thực sự lá đảng muốn chặn đứng sự tụ tập của quần chúng ,có thể gây nên cái gọi là cách mạng hoa lài .Đảng đã suy yếu từ nội bộ tham quan ,nên rất sợ sự phản ứng của dân chúng ,chỉ làm thêm đỗ vỡ ? Như thế có đúng không ? Hay là thế lực xấu ,tham quan trong đảng đang nắm giữ quyền lực ,còn đảng viên tốt khác bó tay ,muốn đè bẹp phong trào tức nước vỡ bờ của dân chúng ?Đằng nào đảng CS VN cũng SAI với lịch sử nước nhà !!Vẫn cứ giữ phương pháp ăn tham vơ vét đồng thời đàn áp dân thì ….cứ làm tiếp đi ,sau sẽ thấy !!

    Trả lời

  39. Người điểm tinApr 12, 2012 10:11 PM

    Nguyễn Chí Đức lẽ ra cần khuyên bộ chính trị cộng sản nên bắt đảng viên, bắt người yêu nước càng nhiều càng tốt…để cho mười bốn tên côn đồ, cả trai lẫn gái của cái bộ vô chính trị này chết càng sớm càng tốt! Chết càng thê thảm càng tốt!
    Đã quá muộn rồi! Đường của chúng chạy ra ngoài không còn nữa… Chạy loanh quanh trong nước chổ nào cũng có nhân dân, mà nhân dân đang mong chờ cảnh này của những tên ác ôn côn đồ cộng phỉ như nông dân trong cơn đại hạn đang trông đợi mưa mùa.
    « Chúng nó có chui lỗ nẽ nào, ta cũng phải đào lên cho bằng hết. » đó là lời của những người nông dân tuy quê mùa, chất phác, nhưng lời của họ là lời của dao chém đá, cả già lẫn trẻ, khắp nơi, khắp nước! Thế đường cùng của bọn chó ghẻ bán nước sẽ chạy đi đâu? chạy vào đâu? Ga Đa Phi còn có ống cống để chui vào vì Gadahphi chỉ có một mình, còn bọn ác ôn Ba Đình liệu có đủ ống cống?
    Ba mươi tháng tư, « có triệu người vui, cũng có triệu người buồn… » nhưng nay tình thế đã đão ngược: « Cả nước mừng vui, kể cả vợ con của những tên cộng phỉ ác ôn côn đồ cũng mừng vui, vì chính họ đã có thể thoát ra khỏi cuộc đời địa ngục khi những tên « chồng » là bọn đầu trộm, đuôi cướp, rường cột của đảng cộng sản…phải đền tội trước nhân dân!
    Sống với những kẻ mà nhân cách không có, thì dù có tiền rừng bạc biển, hơn nữa lại là những đồng tiền do trộm cắp, cướp bóc, bán nước… mang lại, cuộc sống chung với những con quái vật này cũng chỉ là địa ngục trần gian! Cảnh này những ai từng trải đều cũng hiểu được nổi khổ tâm của biết bao người trong cảnh ngộ.
    Nguyễn Chí Đức là người tốt, hãy tự cứu mình, cộng sản nòng cốt của chế độ bán nước là loài rắn độc , cứu rắn độc có khi mang hại vì chúng đó thôi! Giờ lịch sử đã điểm, hãy chờ xem số phận của những con rắn độc trong bàn tay Thuợng Đế.

    Trả lời

  40. Đề nghị mọi người đến đài phát thanh truyền hình Hà Nội yêu cầu họ trả lời xem Bùi Thị Minh Hằng gây dối trật tự công cộng là gây dối việc gì? Chẳng lẽ chị ấy ra đường gào thét không thôi!

    Trả lời

  41. Phu quét rácApr 12, 2012 10:28 PM

    Bộ Chính Trị của tòan đảng CSVN .
    SAO LẠI SỢ MỘT NGỪƠI PHỤ NHỮ CÓ TÊN LÀ BÙI THỊ MINH HẰNG QUÁ VẬY ?????????????
    Hèn với TRUNG QUỐC và Tàn ác với nhân dân như vậy ?
    Nhất là đối với NGỪƠI PHỤ NỮ MANG TÊN BÙI THỊ MINH HẰNG .
    Yêu cầu ai đó trong Bộ Chính Trị trả lời em trên mạng , xin cám ơn nhé.

    Trả lời

  42. Bộ Chánh Trị = BCT = Bộ Chia Tiền = Bán Nước Theo Tàu.

    Cho nên muốn cứu nước thì phải dẹp bỏ đảng CSVN chớ không phải là đề nghị xin cho với đảng CSVN!

  43. Đảng csvn là đảng bán nước nên không thể chỉnh sửa gì hết.chỉ có một con đường duy nhất là lật đổ.Tuy nhiên những đảng viên yêu nước muốn có một vị trí của mình trong chế độ tự do sắp đến thì ngay bây giờ hãy mạnh dạn lên tiếng cho nhân dân VIỆT NAM biết sự thật về HCM và ai đã ra lệnh cho ông PHAM VĂN ĐỒNG ký công hàm công nhận HOÀNG SA là của TÀU và hãy thể hiện một hành động ăn năng sám hối với dân tộc VIỆT NAM bằng cách giao tàu ngầm sắp mua của NGA cho các sĩ quan QLVNCH đang ở nước ngoài sử dụng đánh chiếm lại HOÀNG SA(vì quân đội vn hiện tại không dám chống lại TÀU)

    Trả lời

  44. dân đen phố núi Pleiku, Gia LaiApr 12, 2012 10:57 PM

    Rất cảm ơn Nguyễn Chí Đức. Bạn thật dũng cảm dám công khai đấu tranh với đám quan chức cộng sản. Tôi hay độc dân làm báo nhưng tôi thấy ít ai công khai như bạn, nếu các bạn đảng viên đều công khai đấu tranh thì các quan chức cộng sản cũng khong xây đủ nhà tù để nhốt được. Tôi là dân đen chỉ chờ có cơ hội là tôi tiến thẳng lên quật ngay những tên cộng sản vô lại để đất nước con cháu ngày mai mới hy vọng ngốc đầu lên được.

    Trả lời

  45. Trời ạ!

    Mấy năm 1989/1991, thế giới đã chứng kiến chế độ cộng sản LX/Đông âu sụp đổ, đảng và cờ cộng sản bị vứt vào sọt rác, thay vào đó là lá cờ cũ mang tính quốc gia, dân tộc của họ. Thế mà năm 2000 Nguyễn chí Đức vào đảng làm gì để hôm nay phải mệt óc viết đơn xin xỏ.

    Riêng một số bạn trong diễn đàn này thú nhận đã hoặc đang theo cộng sản thì nên rủ Nguyễn chí Đức và đồng đội xuống đường vứt thẻ đảng, vứt cờ, vứt hình HCM để trở về với nhân dân, bỡi chủ nghĩa cộng sản đã bị nghị hội Âu châu liệt vào hạng khủng bố, chống nhân loại mà ai cũng biết. Những người cộng sản kỳ cựu như Dương quỳnh Hoa, Nguyễn Hộ, Nguyễn văn Trấn, Dương thu Hương, Trần anh Kim, Bùi Tín, v.v đã bỏ đảng lâu rồi. Sao các bạn trẻ chưa bỏ đảng vậy? Có phải vì quyền lợi, vì miếng ăn nên bám đảng để giúp cho Hà nội tiếp tục bán nước và đè đầu cỡi cổ toàn dân. Thế thì các bạn nói rằng các bạn yêu nước, yêu dân là yêu chỗ nào?

    Hãy tưởng tượng năm 2012 này một triệu đảng viên trẻ xuống đường xé thẻ đảng, hô hào đồng bào cùng nhau vứt 4 biểu tượng ác ôn là Hồ, cờ máu, đảng và nhà nước cộng sản thì Bùi Hằng, Cù huy Hà Vũ và bao nhiêu người tù lương tâm khác sẽ được rời khỏi nhà tù nhỏ ngay. Cá nhân các bạn (những đảng viên cộng sản sái mùa) cũng sẽ không bị giam hãm trong nhà tù lớn. Lúc đó các bạn đem tài năng, trí tuệ và tuổi trẻ ra phục vụ cho Việt nam tự do, dân chủ, đa đảng, đa nguyên với tam quyền phân lập. Không lẽ các bạn có học, có tuổi trẻ mà không phân biệt được ý nghĩa của hai từ Quốc – cộng, để tự vứt đảng, phá gông xiềng, đập nát cái vòng kim cô, tự giải phóng để sớm trở về với quốc gia, dân tộc sao? Mượn một đoạn bà Dương thu Hương từng dẫn chứng:

    Tổng Thống Nga Vladimir Putin:
    Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói, là không có cái đầu.
    Kẻ nào làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim.

    Tổng Thống Nga Boris Yeltsin :
    Cộng Sản không thể nào sửa chửa, mà cần phải đào thải nó.
    Bí Thư Đảng Cộng Sản Nam Tư Milovan Djilas:
    20 tuổi mà không theo Cộng Sản, là không có trái tim,
    40 tuổi mà không từ bỏ Cộng Sản, là không có cái đầu.

    Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên xô Mr. Mikhail Gorbachev:
    Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản.
    Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá

    TT Thiệu nói:” Đừng nghe cộng sản nói mà hãy nhìn cộng sản làm “

    Hãy bỏ đảng ngay đi Chí Đức và các đảng viên trẻ ơi !

    Trả lời

  46. Đừng sợ những gì CS làm, hãy làm những gì CS sợApr 12, 2012 11:30 PM

    « Đảng ta » mà khôn thì phải nhìn MĐ mà dựa vào lòng dân, thế nước để tự gỡ cái vòng kim cô do mình tự chụp lên trước cho Tàu nó dộng chặt chứ ai lại hết đánh, đá dân đen, dân oan tới đánh đá luôn đồng chí, đồng rận cúc cung tận tuỵ tin đảng gần hết đời như Lê Hiền Đức, Phạm Đình Trọng, Tô Hải, Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng, Tống Văn Công, Đỗ Xuân Thọ, Nguyễn Hộ… (kể không hết) cho tới đảng viên tuổi đảng còn non như Nguyễn Chí Đức.

    Khi có thêm các bầy tôi đảng Nguyễn Chí Đức, Lê Hiền Đức đường đường chính chính bước ra khỏi lề đảng phản dân hại nước vốn « tự tay bóp dái » nhưng hèn nhát vu khống cho dân « phản động », « thù địch » để đứng hẳn bên lề dân thì « đồng chí » nào còn ở với đảng là còn tự bôi xấu và hạ thấp phẩm cách của mình.

    Trả lời

  47. Nhờ bị đảng sai thuộc cấp ‘đạp mặt’ lại còn lệnh cho Đứt Nhanh dùng đài báo đảng đổi trắng thay đen trấn nước mà Chí Đức mới có cơ hội đi đường ngay và trở thành công dân lương thiện. Hoan hô. Nào mời các đảng viên chưa ra mặt khác gia nhập đội ngũ công dân để cùng đưa ĐCSVN ung thư di căn giai đoạn cuối mau về chầu Diêm Vương trả lại quyền làm chủ đất nước cho hơn 80T dân. Nói như Chí Đức là « trừ Nguyễn Tấn Dũng » và trừ luôn hết thảy bọn « đồng chí  » cao, thấp, to, nhỏ của y.

    Trả lời

  48. Người Hà NộiApr 12, 2012 11:53 PM

    14 tên lưu manh cướp ngày càng có những hành động dơ bẩn , đê tiện .
    Thằng Lú Sang Dũng Hùng Huynh Quang không xứng đáng bú L. chị Hằng .

    Trả lời

  49. Mình thích Nguyễn Chí Đức lấy tên thật. Khoái bài này nhất.

    Trả lời

  50. Chia sẻ với những dòng trung thần của Chí Đức, nhưng mọi người nên hiểu cho Cộng đồng Châu âu đã ra nghị quyết 4181 rằng :’CS là thảm họa, là diệt chủng, là chống lại loài người’… có gì nghi ngờ tất cả những việc làm của chúng.

    Trả lời

  51. BinhLong75(USA)Apr 13, 2012 12:49 AM

    “Nếu những người cs chân chính và ưu tú, đã từng đưa đcsvn lên đến đỉnh cao của quyền lực, thì cũng chính họ, sẽ là những người “biết cách”, đưa cái đảng này đi vào lòng đất một cách nhanh chóng nhất…” …” – Trích lời của một Cựu Sĩ Quan Tình Báo Chiến Lược cao cấp Hoa Kỳ

    Trả lời

  52. Không nói chuyện với cọng sảnApr 13, 2012 12:52 AM

    Ối giời ơi! giờ nầy mà ông cò khuyên mấy thằng cọng sản đấy à?

    Nổi lửa lên để mà đốt hết cái đám ôn dịch đó đi.

    Trả lời

  53. Một thằng giữ xe đã đốt thẻ đảngApr 13, 2012 01:00 AM

    Đốt thẻ đảng đi đ/c Đức ạ, tất cả đã “muộn” lắm rồi!!!!!
    Anh em chúng ta, hãy cùng nhau hướng đến ít nhất, là một đảng khác…

    Trả lời

  54. ỐI GIỜI CAO ĐẤT DÀY ƠI!!!,BÀY TỎ LÒNG YÊU NƯỚC LÀ:CHÀ ĐẠP LÊN LUÂN THƯỜNG ĐẠO LÍ?!!!.cắt mẹ nó lưỡi mấy con vẹt này đi hay Ị lên đầu mấy thằng chỉ đạo đây nhỉ?!!!!.VÃI DOAN!!!!!.

    Trả lời

  55. ngư dân Việt nam lại bị bắtApr 13, 2012 02:03 AM

    Philippines bắt giữ 12 ngư dân Việt Nam
    TTO – Đại diện cơ quan ngoại giao của Việt Nam tại Philippines xác nhận với Tuổi Trẻ đã nhận được thông tin từ hải quân Philippines cho biết: 12 ngư dân Việt Nam trên tàu QNg 95997 vừa bị hải quân Philippines bắt lúc 10g sáng 12-4 ở vùng biển tỉnh Balabac, thuộc tỉnh Palawan phía tây nam Philippines.
    Thông tin ban đầu cho biết, những ngư dân bị bắt khai là người Việt Nam, có giấy chứng minh nhân dân của Việt Nam. Trên tàu của họ có 20 con rùa biển.

    Cũng theo thông tin từ Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines, dự kiến tối 13-4, hải quân Philippines mới dắt tàu này về đến Palawan để xử phạt.

    Trả lời

Jan 23, ’12 10:19 AM

Những lời bộc bạch của một đảng viên

Đọc những dòng dưới đây của Psonkhanh thực sự tôi rất xúc động, đây có lẽ là những lời chân thật hiếm thấy trong thời buổi đầy dối trá như bây giờ. Tôi cũng tin vào sự thay đổi như Psonkhanh nhận định. Trong bài này có nhắc đến tôi và vấn đề an ninh. Tôi xin nói để mọi người yên tâm, tôi đã được khẳng định (tất nhiên là từ người có trọng trách) rằng các hãng như Yahoo, Google, … sẽ không dám tiết lộ thông tin của người dùng như trường hợp Yahoo đã làm bên TQ nữa đâu. Tổng Thống Obama đã có một chỉ thị ngầm rằng nếu hãng nào làm chuyện đó sẽ bị truy tố vì vi phạm luật pháp Mỹ. Cứ yên tâm mà viết các blogger à.

LỜI BỘC BẠCH CỦA MỘT ĐẢNG VIÊN

Lâu nay tôi không viết blog, không comment vì tôi sợ. Tôi nghe được những thằng bạn làm bên an ninh nói rằng đang thực hiện những chỉ thị của cấp trên rất quyết liệt để tìm ra dấu vết tông tích của những blogger “có vấn đề” để có cách xử lý thích đáng. Tôi thực sự sợ, có lẽ là tôi hèn nhát. Nhưng hôm nay tôi muốn viết, tôi buộc phải viết, tôi không giải thích được tâm trạng của mình lúc này, nhưng tôi cảm nhận rõ ràng một sự thôi thúc phải nói ra những gì mình suy nghĩ cho nhiều người đọc. Sự thôi thúc đó đến từ đâu tôi cũng không chắc, nhưng thật tình là tôi vẫn rất run sợ khi post bài này, tôi không phải là người dũng cảm, nhưng tôi thấy mình cần làm điều đó. Và tôi cũng chỉ có nơi này để viết, để nói ra được sự thật, blog là nơi duy nhất ở xã hội này người ta có thể nói thật, còn lại đều là một cuộc sống dối trá với chính mình và mọi người.
Tôi đã gần 50 tuổi, đang làm cho một viện nghiên cứu của Nhà nước, đã được 15 năm tuổi Đảng. Thật lòng là tôi đã nghĩ đến việc ra khỏi Đảng nhưng lại không dám thực hiện, tôi không đủ can đảm và mạnh mẽ để chấp nhận một cách kiếm sống mới hoàn toàn mà tôi không tự tin với nó. Mà bỏ Đảng thì chỉ còn cách bỏ cơ quan. Đã suy nghĩ rất nhiều cách mưu sinh khác nhưng vẫn không thấy cái nào là được. Các con tôi phải còn vài năm nữa mới có thể tự lo được. Lương hai vợ chồng cộng lại mới hơn chục triệu. Riêng tôi mỗi năm được thêm vài công trình nghiên cứu, chia ra cũng được khoảng 30-40 triệu đồng. Cái này chính là bổng lộc mà cấp trên ban phát vì nghiên cứu cho có, xong cho vào tủ, chủ yếu là viết theo ý muốn cấp trên rồi lập hội đồng khen nhau mấy câu, thế là xong. Giàu thì chủ yếu là các sếp lớn vì đề tài nào các sếp cũng có tên để chia tiền dù chẳng làm gì, có khi cũng chẳng nhớ nổi cái tên đề tài. Còn chưa kể những thứ quyền lợi mua sắm khác. Nói chung là nếu lên được trưởng phòng thì không phải lo tiền bạc, người ta cúng cho mình. Do vậy mà trong nội bộ người ta đấu đá giành giật nhau ghê lắm, vào Đảng cũng chỉ hy vọng lên được chức cao hơn. Nói thật là ngày xưa tôi vào Đảng cũng với động cơ như thế, nhưng không nghĩ rằng như thế chỉ mới là cái bắt buộc sơ đẳng, muốn ngoi lên được đòi hỏi phải nhiều thủ thuật lắm, và phải biết luồn cuối thật giỏi, chà đạp người khác mà không bị cắn rứt. Mà cả 2 cái này tôi đều dở, có lúc thấy phải làm nhưng làm cũng không đạt yêu cầu. Chuyên viên như tôi (dù là được xếp vào ngạch cao câp) bây giờ toàn phải nói vẹt, nói dối đến mức mất tư cách mà chẳng biết phải làm sao. Giờ mới thấy mình hèn nhưng đã muộn. Tự an ủi trấn an mình “mưu sinh mà, thôi đành vậy…”
Những người Đảng viên như tôi mình bây giờ chiếm đa số tuyệt đối trong Đảng, đến 95%. Hồi tháng 4 năm ngoái, tôi được đọc một bản nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Dư luận Xã hội, đây là tài liệu chính thức nghiên cứu theo yêu cầu của Bộ Chính Trị . Qua đó nói rõ rằng Đảng viên bây giờ đều chán nãn và bi quan, không còn tin vào đường lối chủ nghĩa Cộng Sản và học thuyết Mác Lê-Nin nữa, Đảng viên chỉ hy vọng vào sự đổi mới của Đảng. Nhưng bây giờ Đảng đã không còn đổi mới nữa, đang đi vào ngõ cụt. Hầu hết những Đảng viên như tôi bây giờ đều mong muốn một sự thay đổi, nhưng họ lại sợ thay đổi. Lý do quan trọng nhất là họ sợ bị trả thù như lịch sử đã từng xảy ra, như Đảng đã từng làm, họ nghe thấy sự hung hăng và cực đoan của các Việt Kiều qua các lần biểu tình chống đối người trong nước qua làm họ sợ. Rồi kiểu tuyên truyền của Đảng cũng tăng thêm điều đó, nếu bạn là Đảng viên, đi họp sinh hoạt Đảng thì sẽ nghe thấy những lời lẽ cảnh báo rất nặng nề, nào là các thế lực thù địch, nào là sẽ không đội trời chung với Đảng viên, âm mưu diễn biến hòa mình có thể mất nước v.v..
Nhưng cái làm xói mòn niềm tin ở Đảng nhất là tham nhũng và đặc quyền thì Đảng chẳng có một biện pháp hiệu quả nào ngăn chặn, nếu không muốn nói là Đảng phải duy trì nó để sống và để cai trị quan chức. Cơ quan tôi và nhiều nơi khác suốt ngày bàn tán về việc ông Lê Thanh Hải đã chi ra cả trăm tỷ đồng để hối lộ cho những vị ủy viên Bộ Chính Trị vào TpHCM để xem xét việc cách chức ông ta vì dính đến vụ PCI. Giờ ông ta tuyên bố với đám đàn em kinh tài là vững như bàn thạch vì không những thế, Thủ Tướng còn nhận của ông ta mấy triệu đô la nữa. Giờ là lúc ông ta ra sức vơ vét và tạo điều kiện cho các đàn em kinh tài vơ vét để bù lại những gì đã phải chi ra để chạy cho ông ấy. Những chuyện này giờ đây tồn tại như một sự tất yếu, chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Tôi đang đứng trước một trạng thái chông chênh, giữa những lựa chọn không dễ dàng: theo hiện trạng và thói xấu của xã hội để sống dễ dàng hoặc thay đổi để ko theo nó, hay tham gia vào những sự thay đổi của người khác làm xã hội tốt hơn. Tôi muốn 2 cái sau nhưng nhiều lần đã không vượt qua được chính mình. Hàng này tôi bị buộc phải học và thực hành theo gương và đạo đức HCM nhưng toàn là những gì đạo đức giả và nụy quân tử. Tôi là người luôn kính trọng Chủ Tịch HCM ngay cả khi đã đọc được những mặt trái của Bác. Tôi giữ thái độ đó vì tôi cho rằng Bác là một con người. Nhưng cách mà Đảng đang tuyên truyền về hình ảnh và đạo đức của Bác, bắt mọi người học tấm gương của Bác là cách mà người ta thường làm để ca ngợi những vị giáo của các tôn giáo. Thật đáng buồn là những điều như vậy chẳng những không làm tôn lên hình ảnh của Bác mà ngược lại, vì Bác không có những điều cần thiết của một giáo chủ tôn giáo. Thời buổi bây giờ không còn là những thế kỷ trước, thông tin quá nhiều, nhanh và dễ kiểm chứng thì không thể tạo ra những myth để dẫn dắt lòng tin của mọi người được. Tôn giáo được tạo ra từ các myth vốn là những hiểu biết sai lầm, có thể là dối trá nhưng lại mang ý nghĩa huyền thoại, thần thoại. Người ta đang làm cho hình ảnh Bác ngày càng trở nên méo mó và dối trá.
Gần đây tôi bắt đầu tin dần vào những gì vô hình như là định mệnh, số phận, vận nước, … Không tìm thấy căn cứ khoa học nào, nhưng có lẽ niềm tin là tâm linh, không phải biện chứng khoa học. Do vậy, tôi cũng hy vọng như nhiều người dân đang hy vọng, hồn thiêng sông núi sẽ phù hộ cho vận mệnh của đất nước. Tôi muốn nói với những người muốn mưu sự lớn và thực sự vì đất nước nhân dân, hãy nhắm vào những gì thiết thực nhất vì cuộc sống của đa số người dân, đừng có giương ngọn cờ dân chủ nhân quyền làm mục đích chính, những điều đó với người dân còn xa vời lắm. Chính quyền hiện này dù làm ra vẻ chống đối và mạnh tay với những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền; giả bộ như là sợ những điều đó đe dọa sự cầm quyền của họ nhưng thực ra họ rất mong muốn những những người đấu tranh này lao vào những mục tiêu như vậy vì chúng chẳng thể nào thu hút quần chúng trong vài chục năm nữa. Họ ra vẻ cái này là gót chân Achile của Đảng nên phản ứng rất dữ dội, làm cho những người đấu tranh cứ tưởng thật là mình đã nhắm vào đúng tử huyệt của đối thủ và cứ thế hút đầu vào đá. Những gì thiết thực đối với quần chúng thì rất nhiều, nhiều vô kể, không thể nhắm đến hết tất cả một lúc được. Những con người sáng suốt sẽ nhận ra một vài điểm thật quan trọng từ những nhu cầu này, nhấn mạnh nó, giương nó lên làm ngọn cờ để tạo ra động lực cho đa số dân chúng thì mới có thể tạo ra lực lượng và thế lực thay đổi cái hiện nay được. Điều đáng mừng là một vài năm gần đây đã thấy xuất hiện vài người có tầm nhìn như vậy, không lao vào những khẩu hiệu dân chủ nhân quyền mà nhìn được những mấu chốt từ những gì rất thiết thực. Tôi có hân hạnh được trao đổi với những người như vậy trên blog và cảm nhận được sức mạnh tư duy của họ cho dù họ không nói gì về điều đó.
Nếu ai muốn copy bài này để phổ biến thì cứ tự nhiên làm đừng hỏi ý kiến tôi. Mà cũng mong các bạn hãy làm điều đó vì có thể một ngày nào đó, tôi không đủ sự can đảm, không vượt qua nổi sự hèn nhát nên sẽ xóa hẳn cái blog này. Tôi đã từng nghe cánh an ninh nói rằng sẽ dựa vào quan hệ của con rễ Thủ Tướng, là Việt Kiều trong giới tài phiệt, can thiệp với Yahoo để “lôi ra ánh sáng” kẻ nào là Change We Need để trị tội vì đã “vu khống” thanh danh của gia đình “phò mà”. Chuyện ấy cũng vài tháng nay rồi nhưng vẫn thấy Change tiếp tục viết bài, có thể là họ không làm được, và cũng có thể là chưa làm được. Nếu một ngày nào đó mọi người thấy blog này biến mắt hẳn thì xin hãy hiểu và thông cảm cho tôi. Tôi rất biết ơn ai đó copy bài này về blog của mình để những gì tôi viết còn lưu lại được.
Đa số Đảng viên và quan chức hiện nay đều hèn nhát như tôi vậy, những người dũng cảm có tư cách thì rất ít, những người này đều không lên cao được. Những kẻ chức vụ càng cao thì không những hèn mà còn nhát, thượng đội hạ đạp. Bản chất bọn chúng là những kẻ sợ sệt đủ thứ, chúng chỉ hung hăng khi nắm quyền lực trong tay và đối xử thô bạo với kẻ dưới hoặc những người không có chút quyền gì. Tôi đảm bảo rằng, khi có một sự thay đổi bọn người này là những kẻ trốn chạy đầu tiên hoặc quay ngoắc tức thì theo lực lượng mới. Bọn chúng đa số (tôi là thiểu số) đều là những kẻ giàu có, giờ thì lắm tiền nhiều của, sợ chết và sẵn sàng trở thành kẻ phản bội cho người khác sai bảo nếu được đảm bảo rằng không làm gì bọn chúng.
Sự sụp đổ và thay đổi là chắc chắc và không thể tránh khỏi, nhiều người bảo rằng sẽ rất nhanh, nhưng cũng có người bảo rằng sẽ chưa thể trong một hai năm nữa. Tôi thì nghĩ điều đó không tùy thuộc vào Đảng, vào Chính quyền nữa, cái này ngoài khả năng của họ rồi. Nó tuỳ thuộc vào lực lượng thay đổi có thể hành động lúc nào thì lúc đó sẽ có sự thay đổi. Còn thay đổi như thế nào thì lại tuỳ thuộc vào cái lực lượng này có muốn làm điều tốt cho người dân hay không. Thật là khủng khiếp nếu đất nước này tránh vỏ dư gặp vỏ dừa.
Hãy tha thứ cho tôi nêu ai đó vô tình bị xúc phạm từ những điều tôi viết, nhưng tôi vẫn tin những người đó rất ít, đếm trên đầu ngón tay. Tạm biệt mọi người, cũng có thể là vĩnh biệt…. Chúc mọi người vui khỏe và an toàn, chúc Việt Nam thay đổi tốt đẹp.
Tôi đã thực sự ân hận vì đã vào Đảng.

Mời xem lại để nhớ một thời xa xưa! Và nhớ giữ làm kỷ niệm…

10 Jan

Mời xem lại để nhớ một thời xa xưa!

Và nhớ giữ làm kỷ niệm…   

Tài liệu cũ nên lưu trữ, thích phần nào mở ra xem phần đó.

 

Chúng Ta đi Bầu VNCH .( Hình ảnh khi xưa đi bầu cử)
Posted on Feb 18, ’11 4:22 PM for everyone
« Bầu cử: – – – – – – – — — Ai đây??- – – – Nón nhựa một thời – « Cử tri » nhí??? – VT »

 

Nử Quân Nhân VNCH .
Posted on Feb 18, ’11 3:47 PM for everyone
« Nử Quân Nhân VNCH . »

 

Citroën La Dalat… Made in Vietnam Cộng Hòa
Posted on Feb 18, ’11 3:24 PM for everyone
« Citroën La Dalat… Made in Vietnam « Nam kỳ khởi nghĩa » tiêu « Công Lý » »Đồng khởi » vùng lên mất « Tự Do » Một chiếc xe La Dalat được trưng bầy ở Vương quốc Bỉ. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, đ… »

 

Không ảnh của Sài Gòn xưa và nay,…
Posted on Feb 17, ’11 6:07 PM for everyone
« Kênh Thị Nghè: Cầu Chà Và: Cầu Khánh Hội: Cầu Muối( Ông Lãnh): Bảo Tàng Việt Nam: Cầu Móng: Chợ Bình Tây: Sông Sài Gòn: Đường Đồng Khởi: Đường Nguyễn Huệ: Nhà thờ Đức Bà: Dinh Độc … »

 

Cầu Sài Gòn trước 75 ….Cầu Chà Và …Cầu Kiệu …Cầu Ông…
Posted on Feb 17, ’11 5:27 PM for everyone
« Saigon 1955Cầu Chà vàCầu KiệuCầu Ông LãnhCầu MốngĐường Monorail vẫn còn, cắt Công trường Mê Linh, trước khi có tượng Hai Bà TrưngCầu Quay Khánh Hội 1955 vẫn còn quay đượcChợ Bình t… »

 

Sài Gòn : các loại xe đò xưa !
Posted on Feb 17, ’11 12:02 PM for everyone
« *Có 1 chiếc xe tải cũng chở quá xá -ngó thấy ngộ nên cho vô ké luôn: »

 

Dung nhan 5 nử văn sĩ nổi tiếng thời chiến tranh .
Posted on Feb 16, ’11 11:27 AM for everyone
« Dưới ngoi bút vẽ của Choé »

 

Trường học và Nam Nử học sinh Sài Gòn xưa
Posted on Feb 16, ’11 11:23 AM for everyone
« Niên khóa 1968 – 1969 : Bà nội bà ngoại nào trong hình thì ra nhận nha : NS Trưng Vương nảy: Niên khóa 1970 : Cổng trường sửa soạn lễ Hai Bà Trưng … Làn môi em chưa hôn qua một l… »

 

Tượng Đài xưa ở Sài Gòn và biểu tượng cho binh chủng …
Posted on Feb 15, ’11 11:35 AM for everyone
« ( Hôm nay Ròm lụm được một mớ hình tượng biểu tượng cho binh chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa .Bạn nào có hình tương tợ cho Ròm xin thêm nha …Cám ơn nhiều .) Tượng Trần Hưng Đạo … »

 

Thiệp Chúc Tết của Quân Lực VNCH
Posted on Feb 14, ’11 11:35 AM for everyone
« *Thiệp chúc Tết Xuân Mậu Thân 1968 – Binh chủng Biệt động quân: *Thiệp chúc Tết mừng Xuân Quý Sửu 1973 – Tiểu đoàn 1 Nhảy dù: *Thiệp chúc Tết Xuân Nhâm Tý 1972 – Binh chủng Nhảy dù… »

 

Có ai còn nhớ?: Tiền Xu VNCH
Posted on Feb 14, ’11 5:15 AM for everyone

 

Ảnh xưa :Sài Gòn 1961 VNCH
Posted on Feb 9, ’11 4:02 AM for everyone
« Ròm ôm về một số hình ảnh xưa của thời VNCH để chia xẻ (chia sẻ ? chia sẽ? chia xẽ?) với anh chị em còn nhớ tới thời ấy . Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo….. Nền củ lâu đài bóng tịch… »

 

70 Năm Âm Nhạc Việt Nam
Posted on Jan 30, ’11 5:44 AM for everyone
« 70 Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam (1930 – 2000)Trích từ SBS radio (Úc Châu) do Hoài Nam biên soạn************ ************* Notes: Bạn cần có Windows Media để nghe chương trìn… »

 

Quân Sử VNCH Qua Tem Thư Bưu Chánh
Posted on Jan 27, ’11 9:04 AM for everyone
« Quân Sử VNCH Qua Tem Thư Bưu ChánhLễ Kỷ niệm Hai Bà Trưng và Ngày Phụ Nữ Việt Nam Giá tiền 0đ50-nhiều mầu; 2đ00- nhiều mầu; 3đ00- nhiều mầu; 6đ00-nhiều mầu. Họa sĩ Nguyễn-Gia-Trí v… »

 

Xuân và người lính Việt Nam Cộng Hòa trong nhạc Việt
Posted on Jan 2, ’11 2:04 AM for everyone
« Xuân và người lính Việt Nam Cộng Hòa trong nhạc Việt http://dvtnradio.com/audio/xuan_va_Nguoi_Linh_VNCH.wmaLê Hoàng Thanh (Để tưởng nhớ đến anh tôi, bạn bè và những chiến sĩ VNCH đ… »

 

Air Viet nam & VNAF Trước 75
Posted on Dec 22, ’10 10:16 AM for everyone
« air VN : *VNCH air force : Skyraider & F-5A *A-37: »

 

Xe gắn máy Sài Gòn trước năm 1975
Posted on Dec 21, ’10 2:56 PM for everyone
« Xe gắn máy Sài Gòn trước năm 1975 Một thời để nhớ . Có thể nói xe đạp và xe gắn máy là phương tiện di chuyển chiếm đa số tại miền Nam trước 1975 và cho đến nay, xe gắn máy vẫn là p… »

 

Xe thổ mộ
Posted on Nov 28, ’10 3:36 AM for everyone
« Nhìn lại những hình ảnh về Xe Thổ Mộ – còn gọi là Xe Ngựa trên Ban Mê Thuột – chợt nhớ cái nghịch ngợm của tuổi học trò ! Trước năm 75 trên Ban Mê Thuột, xe ngựa được xem như là mộ… »

 

Hình ảnh Huế xưa…YouTube Clip
Posted on Nov 26, ’10 1:05 PM for everyone
« Hình ảnh Huế xưa.- Old pictures of Hue, ancient capital of Vietnam ******+++++***** *****+++++***** »

 

Mời Nghe « Tiếu Vương Hội » -Hài Trước 75
Posted on Nov 18, ’10 3:02 PM for everyone
« TIEU VUONG HOI 1TONTON MY ********************* TIEU VUONG HOI 2 TONTON MY ********************* TIEU VUONG HOI 3 TONTON MY ********************* TIEU VUONG HOI 4 TONTON MY *******… »

 

Mời Pàcon vào xem phim Cine VN trước 75 .(ôm về từ nhà anh b…
Posted on Nov 11, ’10 2:30 AM for everyone
« ( Ròm rinh nguyên hầm phim của nhà anh bactu đem về đây cho Pàcon và Ròm cùng xem phim .Nhớ hồi nhỏ vào dịp tết Nguyên Đán mùng 1,2 và 3 ,Ròm xem phim VN tại rạp Duy Tân Vũng Tàu …. »

 

Quân Phục VNCH ( p. 2 )
Posted on Oct 27, ’10 7:37 AM for everyone
« chiếc trực thăng riêng của tổng thống Diệm trường võ bị quốc gia Việt Nam thời đệ nhị Cộng Hoà (63-75) hình bao thuốc lá quân tiếp vụ Gói xanh là hàng cho lính Bán cho dân là gói m… »

 

Quân Phục VNCH
Posted on Oct 27, ’10 6:34 AM for everyone
« Nguyễn Văn Thiệu với bộ đại lễ trung tướng lục quân (19/6/1966) Nguyễn Cao Kỳ với bộ đại lễ thiếu tướng không quân (19/6/1966) Lưu ý: Ảnh bị phóng ngược Trung tướng Nguyễn Hữu Có M… »

 

Nhạc Trẻ Việt Nam, thập niên 60-70. Part 1 – 5
Posted on Oct 26, ’10 10:23 PM for everyone
« Nhạc Trẻ Việt Nam, thập niên 60-70. Part 1 Ca sĩ và những ban nhạc trẻ : The Vibrations, Tung Giang, Hai Au, Duy Quang, The Starling, The Free Ones, My Hoa, Kim Anh, Uyen Ly, Minh … »

 

Ký ức chiến tranh ,Huế Mậu Thân 1968 (Vài hình ảnh sưu …
Posted on Oct 25, ’10 4:29 PM for everyone
« image hosted on flickr »

 

Huân Chương & Huy Chương VNCH
Posted on Oct 23, ’10 1:27 PM for everyone
« Bảo Quốc huân chương Đệ 1 đẳng Grand Officer First Class Chương Mỹ bội tinh Chuong My Merit Medal Xã hội bội tinh Social Service Medal Chỉ đạo bội tinh Leadership Medal Quân công b… »

 

Bộ Huy Hiệu QL Việt Nam Cộng Hòa
Posted on Oct 21, ’10 2:17 AM for everyone
« Phu Hieu QLVNCH Quan Huy VNCH Bo TTM Cuc Cong Binh Cuc Mai Dich Cuc Quan Cu Cuc Quan Nhu Cuc Quan Nhu 2 Cuc Quan Y Cuc Truyen Tin Nha Dong Vien Nha HCTC Nha Quan Phap Nha Dong Vien… »

 

Vài hình ảnh kiêu hùng của Hải Quân VNCH trong trận hải…
Posted on Oct 19, ’10 4:52 AM for everyone
« Vài hình ảnh kiêu hùng của Hải Quân VNCH trong trận hải chiến bảo vệ Quần đảo Hoàng Sa ngày 19 tháng Giêng năm 1974 lính Biệt Hải VNCH tại Hoàng Sa chiến hạm… »

 

Những hình ảnh xưa rất hiếm quí của Bác Sĩ Hocquard. Việt-N…
Posted on Oct 14, ’10 10:51 AM for everyone
« Những tấm hình của Bác Sĩ Hocquard hay là hình ảnh của Việt-Nam vào những năm 1884-1885 Năm 1884, Ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam… »

 

Vòng Quanh Các Rạp Ciné SàiGòn Ngày Xưa
Posted on Oct 14, ’10 12:53 AM for everyone
« Vòng Quanh Các Rạp Ciné SàiGòn Ngày Xưa Ngày Xuân Vòng Quanh Các Rạp Ciné SàiGòn Ngày Xưa Nhắc đến các thú vui của dân tộc ta trong 3 ngày Tết mà không có mục xem ciné thì quả là m… »

 

Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa Duyệt Binh (Youtube Videoclip)
Posted on Oct 13, ’10 10:01 AM for everyone
« 1.2. »

 

Mỹ Tho ngày xưa
Posted on Oct 12, ’10 2:16 AM for everyone
« Tho 1968 1969 1969 – đường Mỹ Tho – Chợ Gạo 1969 Mỹ Tho 1969 – sắp hàng lên phà Chợ Gạo 1969 – kinh Chợ Gạo 1969 – phà Chợ Gạo – -đường Hùng vương năm 69 -Rạp cine gần chợ củ -Thiế… »

 

Vài hình ảnh sinh hoạt của vua quan nhà Nguyễn những năm đ…
Posted on Oct 11, ’10 11:36 AM for everyone
« Vài hình ảnh sinh hoạt của vua quan nhà Nguyễn những năm đầu thế kỷ XX Rước kiệu vua. Các quan quỳ mừng thọ vua Khải Định. Kỳ Đài trong lễ mừng thọ vua Khải Định Cửa thành Ngọ Môn … »

 

Tìm dấu vết của Hà Nội xưa .bộ sưu tập của Nhà sử…
Posted on Oct 10, ’10 11:52 AM for everyone
« Tìm dấu vết của Hà Nội xưa 10/10/2010 20:07:32 – Những bức ảnh về các địa danh của Hà Nội trong bộ sưu tập của Nhà sử học Dương Trung Quốc. Tháp nước Hàng Đậu trong tương quan với … »

 

36 phố phường Hà Nội xưa .bộ sưu tập của Nhà sử h…
Posted on Oct 10, ’10 11:51 AM for everyone
« 36 phố phường Hà Nội xưa 10/10/2010 20:03:58 – 36 phố phường Hà Nội qua những tấm ảnh xưa có thể giúp chúng ta hiểu thêm về Hà Nội. Hãy cùng Bee.net.vn xem lại những bức ảnh về một.. »

 

Hình ảnh Hà Nội thời xa xưa và nay
Posted on Oct 3, ’10 8:21 AM for everyone
« Cột cờ Hà Nội xưa: ảnh chụp vào năm 1890 (theo nhật ký của ông Sadoul – tác giả bức ảnh). Trước cột cờ là hồ Voi, hồ này sau đó bị lấp vào khoảng năm 1897 Cột cờ Hà Nội hôm nay: cá.. »

 

Một số hình ảnh bầu cử tại Sài gòn trước 1975 & Sau …
Posted on Sep 29, ’10 1:33 AM for everyone
« Một số hình ảnh bầu cử tại Sài gòn trước 1975 & Sau Năm 1975 Cuộc bầu cử (tổng thống và bầu cử địa phương) đã được giám sát bởi các quan sát viên Liên Hợp Quốc kiểm soát. Bầu c… »

 

Chân dung người nữ Biệt Đội Trưởng Tình Báo Thiên Nga
Posted on Sep 27, ’10 12:33 PM for everyone
« Chân dung người nữ Biệt Đội Trưởng Tình Báo Thiên Nga NỮ THIẾU TÁ CSQG NGUYỄN-THANH-THỦY Lẫn trong đám đông ồn ào của ngày Hội Ngộ Tân Niên Mừng Xuân Giáp Thân 2004 của Hội Ái Hữu … »

 

Biệt đội tình báo Thiên Nga .
Posted on Sep 27, ’10 12:12 PM for everyone
« TỔ QUỐC DANH DỰ TRÁCH NHIỆM TỔ QUỐC lâm nguy nguyện dấn thân Phục hồi DANH DỰ trả toàn dân Mọi người TRÁCH NHIỆM chung vai gánh Dân Chủ, Tự Do quyết đoạt thành! BIỆT ĐỘI THIÊN NGA … »

Hậu Tuyên ngôn độc lập

15 Oct
14/10/11 11:29 AM
Hậu Tuyên ngôn độc lập

Kể từ khi bản Tuyên ngôn Độc lập được phát đi trên Quảng trường Ba Đình đến nay đã 66 năm, một khoảng thời gian bằng 3 thế hệ, đất nước Việt Nam đang ra sao? Người dân Việt Nam như thế nào? Đặc biệt lãnh thổ đất nước, sự độc lập của đất nước, dân tộc ra sao?

Tác giả Song Hà gửi đến bài viết “Hậu Tuyên ngôn Độc lập” dựa theo bản Tuyên Ngôn độc lập mà Hồ Chí Minh đã đọc tại Ba Đình ngày 2/9/1945. Với bản Tuyên Ngôn đó, chỉ cần thay tên và một vài sự kiện, thì nội dung vẫn không khác gì nhiều. Thế mới biết, 2/3 thế kỷ trôi qua, dân tộc này, đất nước này tiến được bước nào lên phía trước hay không.

Mời quý vị đọc bài viết như việc thư giãn sau một tuần làm việc căng thẳng.

(Họa theo Tuyên ngôn Độc lập)

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn độc lập của nhà nước Việt Nam năm 1945 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Công an CS đạp mặt người biểu tình yêu nước

Thế mà hơn sáu mươi năm nay, Đảng Cộng sản lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, để cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.

Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập nhiều loại Thông báo, công an, dân phòng, cảnh sát cơ động khác nhau ở khắp nơi để ngăn cản việc thể hiện tình yêu nước của nhân dân ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay bắt bớ, đạp vào mặt những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc biểu tình của ta trong đàn áp đẫm máu.

Đàn áp, cướp đất của dân

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng ma túy, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, nhà cửa, mồ mả của nhân dân, của Tôn giáo nhằm bán cho bọn tư bản vơ vét đầy túi.

Chúng cướp hầm mỏ, tài nguyên khoáng sản, bán nguyên liệu thô cho Trung cộng, thậm chí còn rước voi vào giày mả tổ ở Tây Nguyên .

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà yêu nước của ta ngóc đầu lên.

Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Công hàm bán nước 1958

Năm 1958, bọn Trung Cộng tuyên bố chủ quyền lãnh thổ trên vùng biển đảo Việt Nam, Việt Cộng đã xác nhận đồng ý với bản tuyên bố đó.

Mùa xuân năm 1974, bọn Trung Cộng đến xâm lược Hoàng Sa để mở thêm căn cứ đánh Việt Nam, thì bọn tay sai của chúng quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước chúng. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là từ nhiều năm qua đến năm nay, từ Nam Kỳ đến Bắc kỳ hàng trăm ngàn người bị bắt bớ, tù đầy và đánh chết.

Năm 1999 Việt Cộng âm thầm lén lút ký biên giới trên bộ với Trung Cộng, nhượng bán hàng ngàn cây số vuông đất liên biên cương lãnh thổ của đất nước ta.

Ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Cộng bắn chết 64 chiến sĩ của Việt Nam trên Quần Đảo Trường Sa của Việt Nam. Bọn tay sai Trung Cộng hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo vệ” được lãnh thổ đất nước ta, trái lại, trong 65 năm, chúng dã man bán nước ta bốn lần cho Trung Cộng.

Trước ngày mồng 5 tháng 6, biết bao lần nhân dân đã kêu gọi nhà nước có tiếng nói để chống Trung Cộng xâm lược. Nhưng nhà nước Cộng sản Việt Nam đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố nhân dân hơn nữa.

Thậm chí đến khi bị vạch mặt, chúng còn nhẫn tâm hèn hạ cướp nốt chiếc nón ghi Trường Sa – Hòa Sa là của Việt Nam của một biểu tình viên.

Tuy vậy, đối với Cộng sản Việt Nam, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biểu tình ngày mồng 5 tháng 6, người yêu nước đã giúp cho Việt Cộng có thế đứng để lên tiếng về chủ quyển biển đảo của Việt Nam, thế nhưng ngược lại, chúng đã chạy sang Trung Quốc hứa hẹn đàn áp những người yêu nước.

Sự thật là từ cuộc gặp ở Thành Đô 3-4/9/1990, nước ta đã thành thuộc địa của Trung Cộng, chứ không phải là quốc gia độc lập nữa. Khi Việt Cộng hàng Trung Cộng thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành quyền biểu tình bị Cộng sản Việt Nam cướp đoạt bấy lâu nay.

Sự thật là dân ta yêu nước chống Trung Cộng đã bị đàn áp từ tay Việt Cộng, theo lệnh quan thầy Trung Cộng.

Trung Cộng xâm lược, Việt Cộng đầu hàng, những người yêu nước bị đàn áp. Dân ta đã đứng dậy đòi các quyền lợi của mình và nói lên tiếng nói yêu nước và bị đàn áp khốc liệt.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, những người yêu nước, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ hết những hiệp ước mà CSVN đã ký với Trung Cộng về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của CSVN trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn CSVN.

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế quyết không thể không công nhận quyền làm người của nhân dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, đã chịu sự áp bức của Cộng sản Việt Nam là tay chân của Cộng sản Quốc tế hơn 65 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập !

Vì những lẽ trên, chúng tôi, những người yêu nước của nước Việt Nam, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và Đảng Cộng sản Việt Nam đã bán đứng quyền tự do, độc lập của nhân dân. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để đòi lại quyền tự do, độc lập ấy.

Song Hà

Tôi đi dự phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ – Kỳ 1,2,3,4,5,6

9 Août
9/08/11 3:38 PM  ( ky 6 )
Tôi đi dự phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ – Kỳ 6

Được sự đồng ý của tác giả J.B Nguyễn Hữu Vinh về các bài viết sau khi tác giả đã đăng tải trên blog. Chúng tôi đã đăng trọn 5 kỳ phóng sự của tác giả khi tham dự phiên tòa Phúc thẩm xét xử ông Cù Huy Hà Vũ, một nhân sĩ, trí thức yêu nước đã bị nhà nước CSCN kết án bằng một phiên tòa ô nhục như những phiên tòa của bóng tối và ma quỷ xét xử người công chính khác thời gian qua.

Trước những trận đòn vu vạ, bóp méo sự thật và xuyên tạc những người có nghĩa khí với đất nước, với dân tộc trong các vụ án tương tự, việc ông J.B Nguyễn Hữu Vinh bằng một sự tình cờ hiếm có, vào được trong phiên tòa để tường thuật lại chi tiết những gì đã xảy ra tại đó theo chúng tôi là như một sự quan phòng của Thiên Chúa đối với những người công chính.

Chúng tôi xin đăng kỳ cuối, của loạt bài phóng sự về phiên tòa này để bạn đọc theo dõi cách có hệ thống một phiên tòa rừng rú của CS trong thế kỷ 21 này.

Sau phần tranh tụng, bào chữa của các Ls, nhất là Ls Trần Đình Triển, không khí trong phòng xử án căng như dây đàn. Bởi chủ tọa phiên tòa, Viện Kiểm sát từ thế chủ động tố tụng kết án, chủ động điều khiển phiên tòa… đã bị các Ls đẩy vào trạng thái bị động bằng chính những luận cứ, chứng cớ và các điều luật cách rõ ràng. Ở đó họ chứng minh Chủ tọa phiên tòa đang vi phạm luật pháp, phiên tòa đang vi phạm các điều luật trong bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.Sự lúng túng thể hiện rõ nhất là khá nhiều lần, Chủ tọa phiên tòa cứ nhầm lẫn linh tinh như gọi Ls là bị cáo…

Dù phía dưới, thân nhân của bị cáo Cù Huy Hà Vũ là con số hết sức khiêm tốn, đa phần là “nhân dân” được chọn đi dự tòa và công an, nhưng cha ông ta đã nói là “nói phải thì củ cải cũng nghe” nhiều người ngán ngẩm lắc đầu mỗi khi Ls chỉ ra những điều sai phạm theo các điều luật.

Cù Huy Hà Vũ tự bào chữa

Sau khi các Ls xong phần tranh tụng của mình thì đến phần bị cáo Cù Huy Hà Vũ tự bào chữa. Ngay khi bắt đầu được nói, Cù Huy Hà Vũ (CHHV) đã yêu cầu:

CHHV: Đề nghị trả tôi văn bản tự bào chữa.

Chủ tọa: Đã có 4 luật sư rồi nên không cần cung cấp bản tự bào chữa nữa. (?)

Không biết bộ luật TTHS có ghi điều nào quy định là đã có luật sư thì bị cáo không cần văn bản tự bào chữa cho mình hay không, tôi chỉ biết mọi người nhìn nhau ngơ ngác khi Chủ tọa phiên tòa tuyên bố điều này.

CHHV: Tôi đã yêu cầu ngay từ đầu là đưa trả tôi văn bản tự bào chữa của tôi và các bộ luật, tài liệu để tôi nghiên cứu và tự bào chữa. Không đưa cho tôi văn bản và các bộ luật để tôi tự bào chữa tại phiên tòa, có vi phạm pháp luật không?

Chủ tọa: Tòa chỉ yêu cầu bị cáo bổ sung, vì đã có 4 Ls bào chữa rồi.

CHHV: Đây là vụ án hoàn toàn trái pháp luật, vì đã được khởi tố và thu thập chứng cứ trái pháp luật. Chứng cứ cho phiên tòa phải được thu thập đúng trình tự pháp luật mới có giá trị xét xử.

– Việc khống chế máy tính của tôi để lấy tài liệu rồi in ra là việc làm bất hợp pháp.

– Do việc bắt giữ đã dựa trên việc lấy chứng cứ bất hợp pháp nên đó là việc làm bất hợp pháp.

– Tôi thấy Tòa cũng mệt nên tôi thông cảm, nhưng tôi là người quan trọng nhất trong buổi tòa ngày hôm nay, tôi mà bị kết án, thì hội đồng xét xử cũng sẽ bị kết án như thế.

– Vì tôi không có hành vi tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN theo pháp luật quy định là nhà nước của dân, do dân và vì dân…

– Trong mọi bài viết, trả lời của tôi không có nội dung nào chống lại nhà nước của dân, do dân, vì dân như pháp luật quy định.

– Tòa và Viện Kiểm sát phải tìm ra được chỗ nào là chỗ chống nhà nước, nếu không thì không thể kết luận tôi có tội.

– Tôi khẳng định gia đình và tôi chiến đấu cho nhà nước Việt Nam từ bao đời nay.

– Tôi viết về Đảng, về cuộc chiến tranh thì không có nội dung nào chống lại nhà nước CHXHCNVN. Còn Chủ nghia xã hội, Chủ nghĩa Mác – Lenin không phải là nhà nước.

Chủ tọa: Thì các Ls đã nói rồi.

CHHV: Tôi là người đang dự bị đi tù nên tôi phải nói.

– Vấn đề đa đảng, đảng không phải là nhà nước.

– Chủ nghĩa Xã hội là phản quy luật xã hội.

Sau đó, Cù Huy Hà Vũ nói thêm một số vấn đề để tự bào chữa, dù ông không được có bản tự bào chữa mà ông viết sẵn, không có các bộ luật cần thiết để trích dẫn, dẫn chứng, không có giấy bút để chuẩn bị cho việc bào chữa của mình.

Nhưng việc tranh luận tự bào chữa của ông chứng tỏ trí nhớ siêu việt và chính xác của ông tại phiên tòa này.

Đến đây, Chủ tọa phiên tòa tuyên bố cắt đứt phần tranh tụng để chuyển sang phần đối đáp.

Đối đáp, VKS kết tội sai điều luật truy tố

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu, phần này không hề được Tòa nhắc nhở “dừng lại”, “nói đúng nội dung”, hay “không nằm trong vụ án” như khi các Ls hoặc bị cáo phát biểu. Nội dung của VKS đưa ra là:

– Sau khi đã nghe các Ls và bị cáo tranh luận, VKS thấy cần tranh luận một số nội dung như sau:

– Tất cả các vấn đề VKS kết luận đầu phiên tòa sẽ không tranh luận lại.

– Việc bị cáo phạm tội tuyên truyền chống Nhà njuowsc theo bản án như thế nào?

– Theo đề nghị của Ls và bị cáo, rút một số bài viết khỏi các đầu tài liệu được dùng khởi tố. Viện Kiểm sát khẳng định các tài liệu mà bị cáo và Ls đề nghị rút thì thấy rằng như quan điểm của VKS thì các tài liệu đó đều mang nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

Vì vậy 10 tài liệu dùng là có cơ sở.

– Bài “Hòa giải…” hồ sơ thể hiện và kiến nghị có nội dung khác, là 2 tài liệu khác nhau, nên yêu cầu của bị cáo rằng đây là bản kiến nghị là không chính xác…

– Về nội dung có phạm tội hay không, bị cáo và Ls đều cho rằng đó là việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, không chống nhà nước, đảng CS, không xuyên tạc chính sách… Nhưng trong thực tế, 10 bài viết và trả lời phỏng vấn đều có nội dung phỉ báng chính quyền nhân dân, đảng CSVN.

Theo từ điển Pháp luật, nhà nước chính là bộ máy của giai cấp công nhân và nhân dân lao động… Hiến pháp quy định quyền lực nhà nước là thống nhất, trong đó có việc phân công trong hành pháp và tư pháp, lập pháp.

Trong các bài viết của Cù Huy Hà Vũ đã có hành vi bội nhọ, phỉ báng cơ quan nhà nước rằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng là chế độ độc tài.

CHHV: Đúng là độc tài.

Chủ tọa đọc bản án

Viện kiểm sát: – Hành vi của bị cáo vi phạm công ước Quốc tế, điều 1: Mọi dân tộc có quyền tự quyết định…  vi phạm Hiến pháp, điều 2, 12…

– Bị cáo phỉ báng thể chế chính trị này là chống nhà nước.

– Đây rõ ràng có hành vi xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân.

– Điều 2 Luật báo chí: Không ai được dùng tự do ngôn luận để xâm hại lơi ích… (Điều này chắc VTV chưa đọc nên mới có chương trình Nhận diện về phiên tòa này chăng?)

– Điều 19, khoản 2: Mọi người đều có quyền… Bị cáo thực hiện quyền của mình, nhưng quyền phải đi đôi với nghĩa vụ…

– Bị cáo đã phạm điều 2, điều 12 của Hiến pháp: Nghĩa vụ công dân…

– Kích động hằn thù Bắc – Nam

– Án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội.

– Về một số sai sót trong vụ án sơ thẩm xét thấy bản án sơ thẩm và Cáo trạng có 1 vài sai sót về chính tả, từ ngữ… nhưng về cơ bản không làm thay đổi nội dung bản án. Do đó, không có cơ sở để tuyên hủy bản án.

Khi VKS đọc các ý kiến của mình, khỏi phải nói đến sự ngạc nhiên của các luật sư cũng như những người dự tòa về việc VKS đã nói sai nội dung đang truy tố.

Ngay sau khi VKS dứt lời, thì Ls Trần Đình Triển đề nghị được phát biểu. Ông nói:

– Đề nghị Viện kiểm sát xem xét lại. Vụ án truy tố theo điểm C, khoản 1 điều 88 của Bộ Luật Hình sự là Chống nhà nước CHXHCNVN. Nhưng trình bày của VKS tại Tòa hôm nay, đã chuyển sang điều khoản khác của Bộ luật hình sự (xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân… ở khoản a của điều luật này). Việc sai này là điều không thể chấp nhận được tại phiên tòa. (cả phòng xử xôn xao, VKS lúng túng).

– Đề nghị VKS theo điều 64 là thu thập chứng cứ phải theo đúng trình tự pháp luật quy định. Việc sai sót trong quá trình thu thập chứng cứ thì sao?

– Đây rõ ràng là sự thiếu hiểu biết về pháp luật của công tố viên. Như vậy mà dám đi tranh tụng?

– Cù Huy Hà Vũ có quyền lưu trữ những vấn đề liên quan đến mình, đó là quyền dân sự. Chẳng hạn một người hàng xóm chửi mình, nói xấu mình mình có quyền lưu lại những thứ đó mà không có tội gì.

Chủ tọa: Ls không được dùng lời lẽ xúc phạm đến VKS.

Ls Trần Đình Triển: Tôi không xúc phạm, tôi đang nói đúng ý đảng và lòng dân. Một công tố viên mà trình độ pháp luật thế này thì không có án oan mới là chuyện lạ…

Chủ tọa: Yêu cầu không nói lại.

Ls: Chủ tọa có theo dõi phiên tòa không? Yêu cầu Chủ tọa phiên tòa phải làm đúng quy định của pháp luật. Tôi sẽ đọc điều 218 của bộ luật TTHS.

Chủ tọa: Đề nghị Ls không đọc điều luật.

Ls: Việc kiến nghị trả tự do cho tù nhân chính trị đây là vấn đề nhân đạo và là kiến nghị, nên không thể đưa ra kết tội.

– Văn bản nào của nhà nước đã quy định người dân được nói gì? và cái gì không được nói?

– Nói chống nhà nước? Chống như thế nào?

Ls Trần Đình Triển giải thích một số khái niệm về việc chống, về cấu thành tội phạm phải như thế nào…

Chủ tọa: Đề nghị Ls không giải thích.

Ls: Tại sao lại đưa ra kết tội Chống nhà nước, trong khi đang nói về một khái niệm về Luật học?

– Câu nói “kích động phần tử tội phạm và một nhóm của chế độ CH miền Nam trước đây…”. Đề nghị VKS đưa ra là nhóm người nào, ở đâu? Ở California hay ở đâu?… Cần phải chỉ rõ, chứ không thể nói chung chung để đưa ra kết tội.

– Viện kiểm sát cho rằng: Không thay đổi nội dung phiên tòa. Nhưng thực tế là có thay đổi. Chẳng hạn Cù Huy Hà Vũ không hề nói: “Đại hội 11 là Đại hội cuối cùng”, nhưng Cáo trạng lại có câu đó?

Đến đây, có lẽ sự ngạc nhiên đến sửng sốt của tất cả mọi người đã đến tột đỉnh khi những câu nói được bịa đặt đến cỡ này nhưng đã đưa vào cáo trạng để truy tố một con người mà VKS vẫn tỉnh bơ là “không làm thay đổi nội dung”

Sự ngán ngẩm đến mức, một người ngồi bên tôi hỏi: “Anh có biết hai tay bên Viện Kiểm sát tên là gì không. Tôi cần phải ghi lại hai cái tên này?”

Sau Ls Trần Đình Triển là Ls Vương Thị Thanh, Ls Thanh có ý kiến như sau:

– Yêu cầu VKS giải thích cho từ “độc quyền” và “tiếp tục” có khác nhau không? Nếu nói hai từ này thay thế nhau là sai sót không ảnh hưởng nội dung, thì tôi không đồng tình, Viện Kiểm sát giải thích như thế nào?

– VKS cho rằng ông Vũ đã phỉ báng chính quyền nhân dân thì phỉ báng như thế nào? Ls Thanh nêu một số dẫn chứng và kết luận.

– Vậy tuyên truyền như thế nào và phỉ báng ở chỗ nào?

Tiếp theo Ls Vương Thị Thanh là Ls Trần Vũ Hải, ông đặt vấn đề:

– Đề nghị VKS đừng quên điều 69 Hiến pháp Việt Nam.

– Có luật nào ở VN nói về ngôn luận không?

– Có luật nào công dân không được đề xuất hủy bỏ Hiến pháp không?

– Tại sao các sai phạm của bản án sơ thẩm và cáo trạng giống hệt nhau? Điều này chứng tỏ HĐXX đã không độc lập.

– Vụ Trần Khải Thanh Thủy có đoạn đề nghị rằng: Đây là tin báo và yêu cầu VKSND Tối cao vào cuộc… Đã có ai giải quyết chưa? Chưa giải quyết thì tại sao lại kết luận là chống phá?

– Viện Kiểm sát có trách nhiệm công bố các tài liệu không?

Luật sư Trần Quốc Thuận thì phát biểu về việc ghép tội nhầm điều luật của Viện Kiểm sát:

– Viện kiểm sát dùng chữ “xuyên tạc, phỉ báng” là truy tố bị cáo theo điểm A, trong khi Tòa đang xử theo điểm C của điều 88 BLHS.

Luật sư Vương Thị Thanh ý kiến tiếp:

– Đề nghị VKS giải thích những sai sót trong cáo trạng?

Liên tiếp những vấn đề đặt ra, vấn đề nào cũng nghiêm trọng, nặng nề dồn vào Viện Kiểm sát với những sai sót không thể chấp nhận được và có nguy cơ làm vỡ những vấn đề VKS đã kết luận chắc như đinh đóng cột làm hai cán bộ VKS hết sức lúng túng.

Lúng túng đến độ cán bộ VKS gọi các Ls là “các bị cáo”, cả hội trường chăm chú nhìn vào hai cán bộ này xem họ tranh tụng lại như thế nào và hi vọng sẽ có những lập luận sắc bén của những người giữ vai trò công tố.

Nhưng, dường như sự trông đợi đó chỉ là sự mơ mộng hão huyền. Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu không tranh luận điều gì ngoài những một câu xanh rờn: “Những vấn đề tranh luận của Viện Kiểm sát đã khá đầy đủ”.

Chỉ có thế, còn đầy đủ ở đâu, khi nào thì… tự hiểu lấy.

Cả phòng xử ngạc nhiên nhìn cách tranh tụng của Viện Kiểm sát, người ngồi bên tôi, tóc cắt ngắn vuông vức vẫn chăm chú theo dõi phiên tòa nay ớ người quay lại: “Thôi được rồi, HĐXX sẽ phải hiểu rằng không thể chấp nhận được sự kết tội kiểu này đâu. Sinh ra HĐXX thì họ phải nghe và họ vừa bảo là HĐXX sẽ xem xét mà”.

Tôi mỉm cười, đây mới thật đúng là quần chúng tốt, anh ấy cố tình tin cho đến cùng điều anh ta nghĩ là đúng. Có lẽ chăm chú, nhưng anh ta không nhìn thấy cách điều hành và thái độ của Chủ tọa phiên tòa như thế nào từ sáng đến nay.

Và anh ta vẫn tin phiên tòa có một kết quả tốt đẹp dựa trên kết quả tranh tụng vừa qua.

Kết án, vọng lời của Cựu Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao: Xử kiểu gì cũng được

Cù Huy Hà Vũ tiếp tục ý kiến:

– Tôi đã không gây thiệt hại cho nhà nước CHXHCNVN, vì nếu có thì nhà nước đã thiệt hại như thế nào? Tôi đã đề nghị Chủ tịch nước tham dự phiên tòa với tư cách là người đại diện cho Nhà nước, nhưng đã không được trả lời. Vì thế không thể cấu thành tội phạm chống Nhà nước CHXHCNVN.

Rồi ông nói tiếp:

– Tôi không sợ bị ghép tội, tôi không sợ chết, nhưng cần phải tố tụng đúng để không có những người bị oan như tôi.Cho đến giờ, Viện Kiểm sát cũng không chứng minh được tôi có tội như thế nào.

Chủ tọa phiên tòa: Cho bị cáo nói lời sau cùng.

Cù Huy Hà Vũ: “Tôi, Cù Huy Hà Vũ, khẳng định trong những bài viết, trả lời của tôi đều nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm các thuộc tính: Pháp quyền, của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực Nhà nước là thống nhất “vì chỉ có một chủ nhân là nhân dân, thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp như Điều 2 Hiến pháp định nghĩa.

Tôi hoàn toàn vô tội.

Do đó, nếu Tòa án kết án tôi với lý do các bài viết, trả lời phỏng vấn của tôi có nội dung đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp quy định sự lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên đa Đảng, đòi từ bỏ chủ nghĩa xã hội gắn liền với chủ nghĩa Mác Lê Nin, về việc khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng… không gì khác hơn là sự trả thù, đàn áp của Ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước hết, đối với tôi.

Do đó, Ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước hết, phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính mạng của tôi trong thời gian tôi bị cầm tù và nếu tôi chết vì bất kỳ lý do nào trong thời gian bị cầm tù thì Ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước hết, phải bị nhân dân Việt Nam xét xử theo nguyên tắc “ Sát nhân giả tử – Giết người thì phải đền mạng”

Anh chỉ nói được đến đây, thì anh bị cảnh sát dẫn đi để tòa nghỉ nghị án. Khi đó là 17h50 phút.

Cả phòng xét xử tập trung ra ngoài, những câu chuyện khá râm ran tại mọi góc, mọi nơi, những ánh mắt nhìn nhau nhưng không dám nhìn thẳng, những chi tiết của phiên tòa được bàn tán.

Đứng với các Ls của Cù Huy Hà Vũ, tôi thấy chị Dương Hà rất bình tĩnh và kết quả phiên tòa hình như không làm họ quan tâm lắm. Tôi hỏi một Ls về chuyện bài viết của Cù Huy Hà Vũ khi chưa viết xong, được đưa ra kết tội thì có ý nghĩa gì? Ông nói:

– Việc đó là bậy bạ, làm gì có chuyện kết tội cái bào thai vì có thể sau này nó thành tướng cướp?

Tôi chợt nghĩ đến câu chuyện hồi xưa tôi được nghe thời bao cấp: Một đoàn cán bộ vào bắt và lập biên bản một bà già vì tội nấu rượu lậu, nguyên nhân là xét trong nhà bà có bộ nồi nấu rượu. Sau khi cán bộ lập biên bản tội nấu rượu lậu xong, thì bà già yêu cầu cán bộ và nhân dân lập thêm biên bản thứ hai về tội hiếp dâm. Cán bộ ngạc nhiên hỏi vì sao bà nói đến cái tội đó, ai hiếp dâm ở đây? Bà già thong thả trả lời: “Tôi chỉ có dụng cụ nấu rượu mà bị khép tội nấu rượu lậu. Vậy thì yêu cầu lập biên bản về tội cán bộ hiếp dâm tôi vì hiện nay, cán bộ đang mang dụng cụ hiếp dâm vào nhà tôi”.

Cuối cùng thì cán bộ phải hủy bỏ biên bản bà già nấu rượu lậu.

Có lẽ thời xưa, một bà già ít học và anh cán bộ dốt nát kia chỉ có những lý lẽ đơn giản vậy nhưng vẫn biết việc làm sai và phục thiện.

Vậy thì thời nay, các quan tòa, các công tố viên bằng cấp đầy mình, lý luận đầy mình mà chẳng lẽ không nhìn ra sự thật hay sao?

Nếu cứ kết tội kiểu này, thì điều chắc chắn là ai cũng có thể bị kết tội, ít nhất là tội ỉa bậy vì bất cứ lúc nào, tôi cũng sẵn sàng lôi được từ trong người anh ra một đống… phân người. Mà đã có phân, thì cũng có thể ỉa bậy chứ sao.

18h30 phút, Tòa tập trung tuyên án.

Trái với những chứng cứ hiển nhiên mà các Ls đã đưa ra, cụ thể và chi tiết theo các điều luật rõ ràng, Tòa vẫn kết luận:

– CQĐT không vi phạm thủ tục tố tụng hình sự.

– Tòa án Nhân dân Hà Nội không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.

– Các tài liệu không cần phải giám định.

– Tại tòa Cù Huy Hà Vũ đã thừa nhận có quan điểm trái với đường lối của Đảng và Nhà nước VN.

-…

– Giữ nguyên mức án sơ thẩm.

– Cù Huy Hà Vũ phải chịu án phí: 200.000 đồng.

Tôi giật mình nhớ câu nói của ông Trịnh Hồng Dương, cựu chánh án tòa tối cao trước Quốc Hội: “Ở nước ta xử đúng cũng được, xử sai cũng được, xử hòa cũng được, xử thắng cũng được”.

Cù Huy Hà Vũ giơ tay: Tổ quốc và Nhân dân phá án cho tôi, Người Việt Nam yêu nước Cù Huy Hà Vũ!

Cảnh sát ập tới lôi anh đi, cả phòng xử không ai bảo ai, lặng lẽ đi ra ngoài.

Chủ tọa, thẩm phán, đại diện Viện Kiểm sát… lục tục ra về. Tôi chợt nghĩ: họ đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng đêm nay và cả những đêm sau, họ có ngủ ngon hay không và có nhớ đến phiên tòa này?

Còn Cù Huy Hà Vũ, có thể anh sẽ đối mặt với những tháng năm tù tội kéo dài, vất vả gian nan. Nhưng tôi tin rằng anh đang rất thanh thản.

Tôi bước ra khỏi phiên tòa, khi lực lượng cảnh sát, dân phòng, xe cộ, công an chìm, nổi dày đặc khắp mọi ngả đường. Phía trong tòa, các lực lượng báo chí, bảo vệ, nhân viên rầm rập đi lại.

Tôi chợt nghĩ đến con số 200.000 đồng án phí. Hai trăm ngàn đồng của bị cáo Cù Huy Hà Vũ mà huy động được lực lượng, phương tiện khủng khiếp như thế này thì ai bảo là đồng tiền Việt Nam mất giá?

Hà Nội, ngày 9/8/2011

  • J.B Nguyễn Hữu Vinh
8/08/11 1:55 PM   (ky 5 )
Tôi đi dự phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ – Kỳ 5

Bản bào chữa của ls Trần Quốc Thuận mở đầu cho phần trang tụng khá dài và gay gắt, Chủ tọa phiên tòa đã cắt, bỏ và liên tục thúc giục, cảnh cáo Ls nên đã gây sự căng thẳng ngay từ đầu cuộc tranh tụng.

Sau khi Ls Trần Quốc Thuận ngồi xuống với đề nghị HĐXX ban hành một bản án đúng quy định pháp luật. Một đề nghị đơn giản nhưng là cả một ước mơ cho phiên tòa.

hần tranh tụng tiếp theo là của Ls Vương Thị Thanh, thuộc Đoàn Ls Hà Nội.

Rút kinh nghiệm phần tranh tụng của Ls Trần Quốc Thuận, ngay từ trước khi đọc bản bào chữa, Ls Vương Thị Thanh đã đề nghị mấy điểm như sau:

– Đề nghị Tòa tạo điều kiện để Ls trình bày đầy đủ bản bào chữa của mình.

– Trong đơn kháng cáo của ông Vũ ghi rõ: “Tôi kháng cáo toàn bộ bản án”.

Sở dĩ Ls Vương Thị Thanh nhắc lại điều này, là vì quá trình từ trước đến đó, Chủ tọa phiên tòa chỉ nhắm một số điểm để nhắc bị cáo và Ls rằng chỉ nói về những điểm kháng cáo còn những vấn đề khác chủ tọa không thích liền bị coi là không liên quan.

Chủ tọa phiên tòa lập tức yêu cầu Ls nói về những vấn đề chính, khi Ls trình bày lý do yêu cầu như trên, Chủ tọa phiên tòa yêu cầu: Nếu Ls không trình bày, thì Ls ngồi xuống.

Không tin được, dù đó là sự thật: Tòa vi phạm luật, kết tội không cần đưa bằng chứng

Ls Vương Thị Thanh bắt đầu bài bào chữa của mình.

Ls: Sau khi nghiên cứu tài liệu, Ls đưa ra quan điểm:

– Việc khám xét, bắt giữ ông Cù Huy Hà Vũ là một kịch bản đã được sắp xếp từ trước.

Chủ tọa: Những hành vi vi phạm hành chính đề nghị Ls không nói đến. (?)

Ngay lập tức, các luật sư đồng loạt đề nghị có ý kiến phản đối Chủ tọa. Một cuộc tranh cãi râm ran rằng nếu phiên tòa xét xử mà không được nói đến việc tố tụng sai pháp luật thì nên xử cái gì? Nhiều người ngồi bên dưới ngán ngẩm lắc đầu khi Chủ tọa điều hành phiên xử nhưng luôn trong tư thế cầm cái kéo đối với bị cáo và các Ls của bị cáo.

Điều này cũng khá dễ hiểu vì ngay sau khi Cù Huy Hà Vũ bị bắt, trong một thông tin thì Trung tướng Hoàng Công Tư đã khẳng định rằng việc bắt giữ tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ là đúng pháp luật, không có chuyện theo dõi trước mà chỉ tình cờ kiểm tra hành chính, thấy có dấu hiệu quan hệ nam nữ. Như vậy việc khẳng định của Ls rằng khám xét, bắt giữ Cù Huy Hà Vũ là một kịch bản đã được sắp xếp từ trước là một vấn đề để Chủ tọa phiên tòa phải đặt ra một cách nghiêm túc khi xét xử.

Thế nhưng dường như việc ngồi nghe các Ls tranh tụng, đưa ra các ý bảo vệ thân chủ của mình là điều Chủ tọa phiên tòa không mặn mà và nhiều ý kiến là không cần thiết.

Chủ tọa: Ls chỉ nêu ý chính thôi.

Ls tiếp tục phần bào chữa của mình:

– Các tài liệu của ông Vũ đã bị cắt xén, làm sai lệch để kết tội ông Vũ.

– Cáo trạng vụ án đã nêu không đúng sự thật.

– Đến nay, 10 tài liệu của Vũ vẫn không được đưa ra để chứng minh việc phạm tội hay không. Nhưng Viện Kiểm sát đã cắt xén, làm sai lệch hồ sơ vụ án, làm thay đổi nội dung các chứng cứ, thay đổi nội dung phần trả lời phỏng vấn của ông Vũ.

– Ls nêu một số nội dung bài trả lời phỏng vấn của Cù Huy Hà Vũ, bài viết… đã bị Viện kiểm sát cắt xén, sửa chữa, làm sai lệch bằng cách đọc trích dẫn cả hai bên, nguyên gốc và cáo trạng… Những điều Ls nêu ra làm cả phòng xử hết sức ngạc nhiên vì không ai nghĩ rằng lại có thể xảy ra những điều như vậy trong một vụ án quan trọng như thế này.

Những phản ứng thấy rõ trong những người được lựa chọn tham dự phiên tòa đã làm Chủ tọa phiên tòa có ý kiến.

Chủ tọa: Nội dung mà bị cáo nêu không liên quan đến nội dung phiên tòa.

Ở đây, có lẽ do lúng túng hoặc trạng thái tâm lý không ổn định hoặc đang suy nghĩ điều gì đó, nên Chủ tọa đã gọi nhầm Luật sư là bị cáo.

Ls Vương Thị Thanh tiếp tục nêu lên 12 điểm sai, sửa trong cáo trạng của VKSND làm sai lệch nội dung sự việc cũng như các chi tiết chứng minh việc vi phạm các thủ tục tố tụng hình sự ở phiên tòa sơ thẩm.

Chẳng hạn việc hỏi cung bị cáo có trước bản kết luận giám định là… 2 ngày.

Ls khẳng định: Ông Cù Huy Hà Vũ đã nói đúng các vấn đề về nhà nước và xã hội. Đồng thời, Ls đã nêu các dẫn chứng chứng minh điều ông Vũ đã nói. Dù ai có muốn bảo vệ Chủ nghĩa Mác – Lê Nin thì cũng không ai có thể giấu được các vấn đề thực tế đã xảy ra.

– Việc lấy các bài viết trong máy tính của ông Cù Huy Hà Vũ để làm căn cứ kết tội ông Cù Huy Hà Vũ là trái pháp luật hiện hành.

– Cù Huy Hà Vũ đã nói lên sự thật rằng chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là thối nát.

Chủ tọa: Những nội dung đó không liên quan đến vụ án (?)

Ls: Cù Huy Hà Vũ chỉ nói lên hiện trạng xã hội lấy đất của dân khắp nơi như trường hợp ở Sài Gòn, Cồn Dầu…

Đồng thời Ls đọc lại một số đoạn trong bài viết của Cù Huy Hà Vũ để chứng minh luận điểm của mình vừa nói.

Chủ tọa: Đề nghị Ls không đọc lại bài viết của bị cáo.

Ls: Tôi không đọc lại, tôi chỉ trích dẫn và phân tích các bài viết của Cù Huy Hà Vũ mà thôi.

Rồi Ls tiếp tục bài bào chữa với các nội dung:

– Ông Vũ đã thực hiện quyền công dân của mình.

– Tôi khẳng định ông Vũ đã viết đúng sự thật.

– Chúng tôi thấy những việc làm của ông Vũ là ích nước, lợi dân, không thể là có tội. Ông đã can đảm nói lên sự thật và nói lên những điều người khác đã không dám nói.

– Các lãnh đạo đã không tạo điều kiện cho công dân có thể tham gia điều hành đất nước.

– Nếu nói ông Vũ có tội, thì đó là tội yêu nước, thương dân và muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền.

– Đề nghị tuyên án: Cù Huy Hà Vũ không có tội và trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ.

Những điểm Ls nêu lên trước phiên tòa Cù Huy Hà Vũ làm nhấp nhổm nhiều người, làm xuýt xoa các “khán giả” đang ngồi xem phiên tòa dù các khán giả này đã được chọn lọc kỹ càng và luôn tỏ ra “kiên định ý thức” với bị cáo.

Luật sư Vương Thị Thanh kết thúc bản bào chữa của mình với nhiều đoạn bị cắt bớt, nhưng những điều đã trình bày nói lên một quan điểm rõ ràng: Cù Huy Hà Vũ không có tội và đề nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ. Đồng thời bản bào chữa cũng đã nêu lên nhiều khuất tất, nhiều vấn đề không hợp lý, việc vi phạm quy trình tố tụng của phiên tòa sơ thẩm.

Tiếp sau đó là phần bào chữa của Ls Trần Vũ Hải.

Cần nói rõ rằng, Ls Trần Vũ Hải đã từng bị chủ tọa phiên tòa sơ thẩm buộc ra khỏi tòa thì tưởng rằng tại phiên tòa này ông sẽ bớt gay gắt khi bảo vệ thân chủ của mình. Trái lại, ngay từ khi bắt đầu bản bào chữa, ông đã khẳng định: “Chúng tôi muốn làm rõ nhiều điều, để làm rõ sự thật của vụ án”.

Trước hết, Ls Trần Vũ Hải yêu cầu cung cấp chứng cứ vụ án. Chứng cứ vụ án ở đây bao gồm cả hai bao cao su đã qua sử dụng mà những ai theo dõi vụ án Cù Huy Hà Vũ ngay từ đầu đã biết, đã được báo chí nhà nước đồng thanh đăng tải, coi đó là nguyên nhân ông bị bắt. Vì như phát biểu của một quan chức ngành công an – ông Hoàng Công Tư sau khi bắt ông Vũ thì việc bắt giữ tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ là đúng pháp luật, không có chuyện theo dõi trước mà chỉ tình cờ kiểm tra hành chính, thấy có dấu hiệu quan hệ nam nữ. Chính vì việc “tình cờ” này mà dẫn đến việc bắt giữ, vậy đây là chứng cứ của vụ án.

Khi nói đến những vấn đề này, Ls gặp thái độ căng thẳng ngay từ đầu của Chủ tọa phiên tòa. Nhiều lần Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Ls chỉ nói vấn đề chính, nhưng Ls Hải đã vẫn tiếp tục nói về những vấn đề yêu cầu HĐXX phải thi hành, và đã bị Chủ tọa phiên tòa nhắc nhở.

Chủ tọa căng thẳng: Hội đồng xét xử sẽ yêu cầu cảnh sát đưa Ls ra ngoài tòa.

Ls: Tòa có cho trích dẫn Luật pháp hay không?

Chủ tọa: Không cho trích dẫn, yêu cầu đi vào nội dung.

Câu trả lời này làm nhiều người thắc mắc, tại Tòa mà không cho trích dẫn điều luật thì lấy gì làm căn cứ xét xử và bào chữa?

Ls: Chúng tôi muốn nói: Các cơ quan tố tụng đã vi phạm Luật Tố Tụng Hình sự.

Luật sư hỏi Viện Kiểm sát một số vấn đề trong cáo trạng, trong quá trình xét xử vụ án sơ thẩm, trong quy trình tố tụng mà theo ông thì đã bị vi phạm nghiêm trọng.

Những câu hỏi ông dành cho Viện Kiểm sát đã dồn mọi cặp mắt về hai vị đại diện VKS đang ngồi như phỗng ngay tại Tòa và vốn từ đầu đã bị các Ls, bị cáo tấn công dồn dập chỉ ra những sai phạm theo chiều hướng kết tội bị cáo khi làm sai lệch hồ sơ vụ án và quá trình theo dõi vụ án đã để ra nhiều sai phạm nghiêm trọng trong quá trình tố tụng.

Chủ tọa: Nếu Ls không đồng tình với Viện Kiểm sát, thì Ls trình bày, không có quyền hỏi Viện Kiểm sát.

Ls Trần Vũ Hải tiếp tục nêu quan điểm bào chữa của mình:

–  Kiến nghị, không thể là chống lại nhà nước.

– Nếu có những sai phạm mà được chỉ ra, thì có chấp nhận được không?

– Bài viết đang để trong USB chưa đưa vào sử dụng thì không thể gọi là tuyên truyền, mà ở đây chính cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát mới là nơi tuyên truyền các tài liệu này. Vì khi đưa ra để truy tố, chính họ đã tạo điều kiện để người khác biết đến tài liệu này.

– Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ hồ sơ và thấy rằng không có tài liệu nào có hành vi chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Ls công bố một số điều luật liên quan đến vấn đề mà mình đang bảo vệ thân chủ, làm căn cứ biện hộ trong vụ án.

Chủ tọa: Yêu cầu Luật sư không công bố điều luật và giải thích điều luật tại phiên tòa.

Ls: Yêu cầu Viện Kiểm sát cho biết: Tội chống nhà nước là chống như thế nào? Điều 88 quy định về tội chống nhà nước, quy định những điểm như thế nào là chống nhà nước?

Các kiến nghị, các bài viết của Cù Huy Hà Vũ liên quan đến đảng như bàn về Đảng cầm quyền, thì bên đảng có đầy đủ các bộ phận, ban ngành, nhưng chưa có bất cứ ai bác bỏ được quan điểm của Cù Huy Hà Vũ đưa ra.

Bản án sơ thẩm đã chứng tỏ Tòa sơ thẩm không độc lập trong xét xử, không đọc các tài liệu mà chỉ làm theo Viện Kiểm sát.

Phần tranh tụng của Ls Trần Vũ Hải mạnh mẽ và khá dài, nhiều khi gây nóng cả không khí trong phiên tòa dù ông ở vào thế luôn bị cắt ngang và nhiều lần bị Chủ tọa phiên tòa cảnh cáo, dọa đưa ra khỏi phòng xử án.

Có những lúc, lực lượng cảnh sát đã như được khởi động, sẵn sàng làm lại cú đúp việc đưa ông ra khỏi tòa. Nhưng ông đã không sợ hãi và vẫn mạnh mẽ bảo vệ thân chủ theo quan điểm của ông.

Quan điểm của Luật sư: Tòa Phúc thẩm cần tuyên hủy bản án, tuyên Cù Huy Hà Vũ là vô tội.

Với ba Ls đã đọc bản bào chữa, không khí căng thẳng trong phiên tòa có nhiều lúc đến tột độ qua cách điều hành của Chủ tọa phiên tòa, ông Chủ tọa luôn đặt mình vào tình thế căng thẳng và cảnh giác. Cảnh giác khi các Ls động đến các điều luật mà Phiên tòa sơ thẩm đã vi phạm cũng như những bài viết của Cù Huy Hà Vũ đã động thẳng đến những vấn đề nhạy cảm nhất như hủy bỏ điều 4 Hiến pháp, bài viết bàn về đảng cầm quyền, bài “Tam quyền nhất lập đồng lòng hại dân” mà các Ls đã lấy nhiều ví dụ để chứng minh sự đúng đắn, việc kiến nghị với QH bị đem ra làm căn cứ kết tội là trái pháp luật…

Đồng thời với việc chứng minh những vấn đề đã đề cập nói trên, họ đồng thanh nói rõ: Cù Huy Hà Vũ vô tội theo đúng luật pháp Việt Nam. Điều này quả là “không thể chấp nhận được” ở những phiên tòa kiểu này.

Có lẽ vì vậy mà phiên tòa công khai này được tiến hành theo phương thức chúng ta đã biết chăng?

Những phán đoán của ông Vũ sẽ được thực hiện trên thực tế?

Ls Trần Vũ Hải và Ls Trần Đình Triển tại phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ

Sau phần bào chữa, tranh tụng của Ls Trần Vũ Hải là phần bào chữa của Ls Trần Đình Triển.

Ông đứng dậy phát biểu rằng: “Mặc dù các Ls chưa được bày tỏ quan điểm hết, nhưng tôi hoàn toàn nhất trí với các Ls. Chúng tôi đã cố gắng bình tĩnh nhưng nhiều khi đã không chịu nổi nữa”.

Ls Trần Đình Triển nói đại ý rằng: Chúng tôi muốn tìm ra sự thật, muốn tìm hiểu một cách khách quan sự thật như thế nào và tại phiên tòa là nơi để tìm ra sự thật đó.

Ls: Ông Cù Huy Hà Vũ đã kháng cáo toàn bộ bản án.

Chủ tọa: Yêu cầu Ls không nói về vấn đề vi phạm hành chính.

Sau quá trình theo dõi phiên tòa này từ đầu, tôi mới hiểu rằng ông Chủ tọa kỵ nhất và hay yêu cầu “không nói về vấn đề vi phạm hành chính” tức là không được nói về việc bắt giữ với “hai bao bao su đã qua sử dụng” – điều mà Cù Huy Hà Vũ coi là vết nhơ lần đầu tiên có trong lịch sử hình sự thể giới.

Ls: Điều Chủ tọa vừa nói, chứng tỏ Tòa đã không đọc hồ sơ bản án.

Điều ông nói làm cả phòng xử án ngạc nhiên, khi ông giơ cao bản án và đọc rõ ràng: “Vào hồi 0 giờ 5 phút, tại khách sạn Mạch Lâm…”, như vậy những điều chúng tôi đang nói đến không phải không nằm trong vụ án kháng cáo hôm nay.

Chủ tọa đe dọa: Chúng tôi sẽ xử lý.

Ls: Xử lý như thế nào? Ông định đuổi tôi ra khỏi đây cho xong chứ gì? Ông đừng dọa tôi, kể cả chết.

Sau đó, Ls tiếp tục:

Ls: Phiên tòa này đã vi phạm Luật Tố tụng hình sự khi không cấp giấy chứng nhận bào chữa cho Ls Nguyễn Thị Dương Hà. Lý do được ông giải thích rõ ràng theo điều luật không được tiết lộ bí mật điều tra trong quá trình điều tra. Nhưng ở phiên tòa sơ thẩm, ông và Ls Nguyễn Thị Dương Hà chỉ được cấp giấy chứng nhận sau khi đã kết thúc quá trình điều tra chuyển sang Viện Kiểm sát. Như vậy không thể nói là tiết lộ bí mật điều tra và như vậy, việc thu hồi, không cấp giấy phép bào chữa cho Ls Nguyễn Thị Dương Hà sau khi kết thúc điều tra và tại phiên tòa là trái với pháp luật quy định và vi phạm Luật Tố tụng hình sự.

– Chủ tọa phiên tòa đã đọc sai điều luật ngay tại phiên tòa này.

– Chủ tọa phiên tòa đang vi phạm pháp luật tại phiên tòa này.

– Đến nay, việc khám xét nhà của ông Cù Huy Hà Vũ tại 24 Điện Biên phủ – Hà Nội vẫn chưa được Viện Kiểm sát nhân dân phê chuẩn. (Cả phòng xử án ồ lên ngạc nhiên).

– Hội đồng sơ thẩm đã vi phạm pháp luật Tố tụng hình sự khi đã không có một phiên tòa độc lập, khách quan theo yêu cầu luật pháp.

Ông chứng minh bằng việc đưa ra bản Cáo trạng và bản án sơ thẩm, những chỗ sai hoàn tòa giống hệt nhau. Chứng tỏ rằng Tòa chỉ viết lại theo những gì VKS đã viết mới có tình trạng đó.

– Cách lập luận về việc thu hồi giấy bào chữa của Ls Nguyễn Thị Dương Hà là trái pháp luật.

– Theo luật pháp Việt Nam và Quốc tế thì cơ quan báo chí là nơi chịu trách nhiệm về việc đưa các thông tin của mình, tại sao không nói đến các cơ quan báo chí đã đăng tải các bài viết của Cù Huy Hà Vũ?

– Để đánh giá các bài viết, thì bài viết phải đầy đủ. Việc cắt xén sẽ không phản ánh được nội dung của bài viết đó.

Ông lấy một số ví dụ về ngôn ngữ khi bị cắt xén sẽ làm sai lạc nội dung để chứng minh điều ông vừa nói.

Tóm lại: Ls bác bỏ toàn bộ hồ sơ vụ án này vì vi phạm pháp luật với những lý do sau đây:

– Bản Cáo trạng không nêu được là Cù Huy Hà Vũ đã nói đúng hay nói sai.

– Bài viết của Cù Huy Hà Vũ là ý kiến, là sáng kiến.

– Cáo trạng chưa phân tích được cái gì đúng, cái gì sai của ông Vũ.

– Ai cấm các đề xuất, đề nghị? Nếu xã hội không được đề nghị thì sẽ ra sao?

– Cáo trạng đã nhầm lẫn giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận.

– Công ước Quốc tế về quyền con người phải được tôn trọng.

– Cù Huy Hà Vũ đã nói về Biển Đông cách đây 4 năm, hiện đang diễn ra đúng như ông đã nói.

– Những phán đoán của ông Cù Huy Hà Vũ, tôi tin rằng sẽ được thực hiện trên thực tế.

– Đây là sự oan sai và đi ngược lại lợi ích của dân tộc và Nhân dân Việt Nam.

Trong quá trình bào chữa, biện luận của Ls Trần Đình Triển, mỗi lần ông đưa ra một luận cứ hoặc một chứng cứ, trong phòng xét xử càng căng lên để theo dõi. Người ngồi gần cạnh tôi luôn lắc đầu khi Ls đưa ra những tình tiết chứng minh việc vi phạm pháp luật tố tụng, miệng lẩm bẩm: “Thế này thì kết tội sao được”. Sau đó anh ta trấn an tôi: “Bình tĩnh, Tòa sẽ buộc phải ghi nhận và nghiên cứu kỹ những vi phạm này”.

Còn tôi, vốn bình tĩnh hơn khi biết rằng những lập luận, bào chữa của các Ls là chắc chắn, có cơ sở vững chắc trên cơ sở luật pháp Việt Nam. Nhưng tôi không hi vọng nhiều như anh cán bộ ngồi bên tôi.

Vì cuối cùng thi HĐXX mới là người có quyền quyết định vấn đề, việc tranh tụng, bào chữa có ý nghĩa gì hay không, chưa hẳn đã phụ thuộc vào nội dung như vừa diễn ra.

Hà Nội, ngày 8/8/2011

  • J.B Nguyễn Hữu Vinh

Nguồn: Blog J.B Nguyễn Hữu Vinh

7/08/11 6:59 PM  (ky 4)
Tôi đi dự phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ – Kỳ 4

Sau 3 kỳ viết về việc dự phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ tại Hà Nội ngày 2/8/2011 tôi chỉ mới nói được những điều mình thấy mình nghe tại phiên tòa ở phần đầu, sau đó một số việc bận rộn nên viết hơi muộn kỳ này. Xin mọi người thông cảm, nhất là những người sốt ruột, cũng như rất nhiều người đã gọi điện, gửi thư… thúc giục muốn biết được chi tiết trong phiên tòa Công khai này đã xảy ra những điều gì.

 Một ngày với một phiên tòa mà theo các Ls thì nếu ở phương Tây, phiên tòa này phải xử ít nhất là một tháng. Vì thế rất dài và nhiều nội dung, bài viết muộn và chia làm nhiều kỳ có thể làm người đọc hơi sốt ruột. Nhưng một bài viết thì không thể quá dài làm mất sức người đọc khi mà nội dung của nó đã làm không ít người phải mệt lòng.

Ôi, Việt Nam xứ sở lạ lùng

Hôm qua, khi đang định ngồi viết tiếp những phần cuối, thì một người bạn gửi cho đoạn video của VTV là đoạn “phóng sự” về phiên tòa Cù Huy Hà Vũ vừa qua (Tôi không có thói quen xem VTV từ mấy năm nay). Xem đọan video đó, tôi thấy cũng bình thường dù nhiều người hết sức bức xúc.

Ở đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa tươi đẹp của chúng ta, biết đến bao nhiêu việc lạ lùng hàng ngày hàng giờ vẫn xảy ra đấy thôi. Chỉ riêng việc người dân quan tâm nhưng mù tịt những điều gì đã xảy ra trong phiên tòa công khai, cũng đã nói lên sự kỳ lạ của luật pháp và xã hội Việt Nam.

Việc VTV làm phóng sự, đưa những điều bịa đặt là chuyện cũng không lạ gì dù đó là một Đài Truyền hình Quốc gia. Nhớ lại các vụ Khâm sứ, Thái Hà, VTV là kẻ xung kích đi đầu trong việc cắt xén, bóp méo những sự kiện ở đó. Tôi còn nhớ rõ VTV đã đưa một văn bản của nhà nước giao đất trái phép của Giáo xứ Thái Hà, quay lại đưa lên TV để gán cho rằng linh mục Bích (đã chết) trước đã giao đất đó cho nhà nước hoặc chuyện hóa trang giáo gian, thành giáo dân để ca ngợi việc cướp đất nhà thờ biến thành vườn hoa. Hoặc ngay cả việc cắt xén lời TGM Giuse Ngô Quang Kiệt để đánh đòn hội đồng một cách đê tiện, nhục nhã mà trước đó chưa đầy 24 tiếng đồng hồ, Thông tấn xã Việt Nam còn đưa tin ca ngợi buổi gặp gỡ của ngài với UBND TP Hà Nội.

Điều người ta kiêng kỵ nhất là đụng chạm đến người chết, nhưng ở đây vu cáo cho người chết những chuyện bịa đặt mất nhân tâm mà họ chẳng từ, thì chuyện một người vô danh tiểu tốt nào đó có bịa ra lời ông Cù Huy Cận cũng chẳng có gì là lạ.

Những điều đó không lạ, thì chuyện hôm nay VTV có đưa thêm gì nữa, cũng bình thường. Ở xứ ta, cái không bình thường đã trở thành bình thường là vậy.

Riêng tôi, tôi chỉ nghĩ rằng nếu con người còn chút lương tâm tối thiểu, liệu họ có khi nào nghĩ rằng những việc họ đang làm sẽ được nhận những hậu quả khủng khiếp của quy luật “Nhân – Quả” hay không? Có khi nào họ nghĩ rằng con cái họ sẽ lãnh nhận được những “kết quả tốt đẹp” của những công việc họ làm hôm nay?

Trong suốt phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ, điều mà HĐXX cảm thấy là “tội” lớn nhất, đó là bài viết yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến pháp quy định sự lãnh đạo độc quyền của ĐCSVN mà theo Cù Huy Hà Vũ thì điều đó không chính danh, không đúng vì Hiến pháp cũng đã quy định là chỉ có Quốc hội mới là cơ quan quyền lực cao nhất.

Một bài viết khác cũng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong phiên tòa nhưng không được đọc toàn văn và bị cáo cũng không có tài liệu trong tay mà chỉ được nghe Cáo trạng, được nghe VKS hoặc Tòa nhắc cho mà thôi là bài “Tam quyền nhất lập, đồng lòng hại dân”.

Mà Cáo trạng với bản án thì đã bị các luật sư vạch rõ là phát hiện có ít nhất 12 điểm bị cắt xén, thêm bớt, sửa nội dung nhằm ghép tội CHHV.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ câu thơ của ai đó: “Ôi Việt Nam, xứ sở lạ lùng”.

Trái với các thông tin về vụ xử án này là không có báo chí, phóng viên báo nào được chụp hình đưa tin trong phòng xử. Tôi thấy ngược lại, trong phòng xử án đầy các loại máy quay phim, chụp hình… chĩa vào từng người dự tòa. Đặc biệt có nhiều người mang thẻ ghi rõ Phóng viên hẳn hoi.

Như vậy, việc không có nhiều tấm hình của phiên tòa được đưa lên báo chí, chỉ có thể là vì không có những tấm hình họ ưng ý muốn đưa mà thôi. Trong cả quá trình xử án, Cù Huy Hà Vũ không một lần tỏ ra lúng túng, sợ hãi hoặc mất tư thế, ngược lại anh luôn bình thản, nhẹ nhàng dù tay được tháo còng hay vẫn bị còng.

Phải chăng, tư thế này của bị cáo đã làm nhiều người lúng túng và sợ hãi?

Phần tranh luận tại phiên tòa

Tư thế của Cù Huy Hà Vũ trước tòa

1h43 phút, Cù Huy Hà Vũ được dẫn giải vào tòa.

Theo tiến trình của vụ xử, bây giờ là đến phần tranh tụng.

Chủ tọa phiên tòa nói rằng: Theo luật, phần tranh tụng sẽ không hạn chế thời gian tranh tụng của các Ls, tuy nhiên đề nghị các Ls không trình bày lại những điều mà Ls trước đã nói. Đề nghị các Ls không trình bày về thủ tục tranh tụng.

Một người ngồi bên tôi nói nhỏ: Mỗi luật sư có một cách tranh tụng khác nhau, tất cả vụ án chỉ có mấy vấn đề mà thôi vậy không nhắc lại các vấn đề mà Ls trước đã nói, thì tranh tụng cái gì nhỉ?

Cù Huy Hà Vũ: Tôi có một yêu cầu, chỉ có một câu thôi. Ngay lập tức chủ tọa hô: “Ngồi xuống”.

Khi đó, chiếc Micro nơi Cù Huy Hà Vũ không làm việc, anh yêu cầu HĐXX điều chỉnh để anh có Micro sẵn khi cần sử dụng.

Chủ tọa: Khi nào đến phần bị cáo trình bày thì sẽ có micro.

Mở đầu phần tranh tụng, Ls Trần Quốc Thuận đề nghị Chủ tọa không cắt ngang bài bào chữa của ông.

Chủ tọa: Nếu Ls trình bày ngoài vấn đề thì Tòa sẽ cắt.

Luật sư Trần Quốc Thuận có bẩn bào chữa dài hơn vài chục trang, ông đọc rõ ràng mạch lạc những vấn đề của vụ án cách chi tiết và cụ thể với các nội dung như sau:

– Kiến nghị gửi HĐXX các tài liệu để HĐXX biết.

– Hiện tại ngành từ pháp đang cải cách hành chính, vì vậy phiên tòa này sẽ là biểu hiện của việc có cải cách hành chính không, ở mức độ nào…

– Gửi đến Tòa danh sách các cá nhân ký tên đòi trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ.

– Gửi bản photocopy các văn bản mà cơ quan điều tra đã dùng kết tội ông Cù Huy Hà Vũ khi thu được từ nhà ông là 24 Điện Biên Phủ.

– Văn bản nêu 12 điểm mà cáo trạng đã thêm bớt, sửa đổi sai với hồ sơ vụ án.

–   Bản Kiến nghị xây dựng đất nước…

Phần tranh tụng, Ls Trần Quốc Thuận phát biểu một số nội dung như sau:

– Bản án sơ thẩm đã vi phạm Luật Tố tụng hình sự.

– Cơ quan điều tra tố tụng đã có nhiều dấu hiệu vi phạm Bộ luật TTHS của nước CHXHCNVN.

– Việc Tòa không mời các nhân chứng theo các điều luật như điều 54… là Đài VOA, RFA, Trâm Oanh, ông Nguyễn Minh Triết…. là sai pháp luật.

– Việc không công bố toàn văn 10 tài liệu dùng để kết tội thân chủ mà chỉ cắt xén theo ý của tòa và cơ quan điều tra là điều không thể chấp nhận được theo luật pháp hiện hành. Tòa đã tự cho mình quyền không công bố tài liệu.

– Cáo trạng đã sửa chữa, thêm bớt… mặc dù đã có ý kiến vẫn không được trả lời.

– Các bài viết trên mạng của ông Cù Huy Hà Vũ đã từ lâu, nhưng đã không được ai nhắc nhở.

– Các nhận định của Tòa án Nhân dân TPHN không khách quan. Nội dung nhận định không có điểm nào khác với cáo trạng (Kể cả các chỗ sai). Chứng tỏ Tòa chỉ nói theo, vi phạm về sự độc lập trong xét xử của Tòa án.

– Việc không công bố toàn văn các bài viết để xem xét, phân tích nguyên nhân và hành vi có phạm tội hay không mà chỉ trích dẫn nhằm kết tội là trái quy định của một phiên tòa.

– Hai bài viết về Đường sắt cao tốc và về Đảng cầm quyền ông Vũ viết chưa xong cũng được đưa ra luận tội. Không ai đi làm cái việc truy tố cái bào thai.

– Những bài trả lời phỏng vấn theo điểm C điều 88 Bộ luật Hình sự: Không có dầu hiệu nào của ông Vũ có mục đích, động cơ, hành vi, ý chí nhằm chống nhà nước CHXHCNVN. Đây là dấu hiệu bắt buộc phải có khi truy tố.

Trong khi ông Vũ không công nhận việc chống lại đảng, nhà nước và luôn luôn tự hào với truyền thống gia đình mình.

-Câu nói: “Chỉ có những ai mang hận thù với dân tộc mới có những hành vi….” không rõ tòa đã nói đến ai?

– VOA, RFA là đài từ Hoa Kỳ, mà VN hiện đang đám phán để liên kết chiến lược.

– Không thể coi bài viết “Bom hạt nhân nổ giữa Ba Đình của Đặng Thanh Ty là tàng trữ.

– Nếu nói rằng làm ra các bài phỏng vấn, thì phải là các đài FRA, VOA… chứ không phải là Cù Huy Hà Vũ. Tại sao Tòa không có một câu nào nói đến các đài như RFA, VOA…

– Bổ đẻ của ông Cù Huy Hà Vũ là Cù Huy Cận, Huân chương Sao vàng, gia đình có truyền thống…

Chủ tọa: Yêu cầu Luật sư không nói về những vấn đề liên quan đến vụ án.

Luật sư tiếp tục nói đến nhân thân Cù Huy Hà Vũ.

Chủ tọa nhắc tiếp: Đề nghị Ls không nói lại.

Ls tiếp tục phần trình bày về gia đình.

Chủ tọa: Đề nghị Ls không nói về gia đình.

Dường như, trong phiên tòa này, mỗi khi nhắc đến nhân thân và truyền thống gia đình Cù Huy Hà Vũ là một điều gây sự khó chịu cho HĐXX thì phải, họ chặn ngay bằng câu: “không nói lại, không liên quan đến vụ án”… và những câu tương tự để ngăn chặn mọi người tại phiên tòa được nghe. Điều này làm tôi khác ngạc nhiên lúc đầu, có phải truyền thống gia đình của Cù Huy Hà Vũ khi được nói lên, hẳn đã làm ngạc nhiên và giật mình nhiều người đang nắm giữ cán cân quyền lực khiến họ cảm thấy xấu hổ khi đưa xét xử một người con trong một gia đình có công khai quốc như ông Cù Huy Cận? Hay là chính ngay yếu tố đó đã bác bỏ lời buộc tội Cù Huy Hà Vũ đã chống nhà nước CHXHCNVN vì không đưa ra được lý do nào khả dĩ?

Thế nhưng, nhân thân Cù Huy Hà Vũ theo nhóm phóng viên VTV sau đó thì được chiếu cho cả nước, cả thế giới biết? Những chuyện đời tư, có hoặc không, bịa đặt hoặc có thật… được VTV đưa lên màn hình rất có chủ ý và ác ý.

Luật sư: Khi nói đến bố mẹ, vợ con mà không cho nói thì chắc phải nói về gia tộc Cù Huy Hà Vũ…

Nhưng, mỗi khi nói đến vấn đề đó, thì Chủ tọa lại yêu cầu “không nói đến những điều không liên quan vụ án” và cảnh cáo luật sư để ngăn chặn.

Luật sư Trần Quốc Thuận tiếp tục bài bào chữa với các nội dung như sau:

– Cách nói của Vũ làm người khác khó chịu, đó là do tính chất vùng miền, chứ không phải là sự vi phạm pháp luật.

– Điều 69 Hiến pháp quy định: Công dân có quyền tự do ngôn luận… Nhưng đến nay, 19 năm sau vẫn không có Luật như Luật Lập hội, biểu tình…

– Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1960 mà VN là thành viên đã thừa nhận các điều khoản về quyền tự do ngôn luận của mỗi cá nhân. Cù Huy Hà Vũ khi trả lời phỏng vấn báo chí, chính là thực hiện các quyền nêu trên được phá luật bảo vệ.

– Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, tôi cũng đồng tình rằng Cù Huy Hà Vũ đã không vi phạm như bản án đã tuyên.

– Nếu coi Vũ là người xuyên tạc qua những bài viết của mình khi đề cập các vấn đề xã hội VN hôm nay, thì bộ phim chiếu trên VTV mới đây còn nêu rõ hơn rất nhiều… Tuy rằng phim là hư cấu, thế nhưng khi VTV1 phỏng vấn, nhiều người đã khẳng định những tệ nạn như trong phim nêu là có thật.

Chủ tọa: Yêu cầu Ls không phát biểu những vấn đề không liên quan.

Ls Trần Quốc Thuận đã phải cắt đi rất nhiều trong bài bào chữa của mình. Đến mức ông phải nói rằng: “nếu tại Tòa mà Chủ tọa không cho tôi nói, e rằng tôi phải phát biểu ở nơi khác mà quyền tự do của tôi không bị hạn chế”.

Ls: Kết luận, Cù Huy Hà Vũ không có tội, yêu cầu tòa trả tự do ngay tại tòa cho Cù Huy Hà Vũ.

Câu cuối cùng của bản bào chữa này, Ls Trần Quốc Thuận đề nghị: “Tôi đề nghị HĐXX ban hành một bản án đúng quy định của pháp luật”.

Trong quá trình các Luật sư, Đại diện VKS thẩm vấn hoặc các Ls bào chữa cho mình, Cù Huy Hà Vũ luôn quay lại phía người đang nói. Điều này được Tòa nhắc nhở rằng bị cáo phải quay lên phía trên nơi Chủ tọa. Nhưng Cù Huy hà Vũ đã phản ứng rằng: Khi người ta thẩm vấn hoặc nói với tôi, tôi quay về phía họ để nghe chăm chú, rõ ràng hơn, đó là phép lịch sự tối thiểu. Vì thế ông vẫn tiếp tục quay lại phía Luật sư và sau đó Tòa đã không nhắc về chuyện đó nữa.

Ls Trần Quốc Thuận dứt lời, Cù Huy Hà Vũ “Cảm ơn Luật sư”.

(Còn tiếp)   Ngày 7/8/2011 J.B Nguyễn Hữu Vinh

5/08/11 7:49 PM  (ky 3)
Tôi đi dự phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ – Kỳ 3

Hết phần xét hỏi của Chủ tọa phiên tòa và Viện Kiểm sát, Cù Huy Hà Vũ đã cố gắng trả lời đầy đủ, chi tiết, đặc biệt ông lưu ý và hết sức bất bình khi cho rằng cơ quan điều tra Bộ Công an đã dùng hai bao cao su đã qua sử dụng ném vào phòng ở của ông để làm nguyên cớ bắt ông. Thế nhưng, mỗi lần ông nói về nguyên nhân dẫn đến việc bắt giam ông để khởi tố vụ án, đều bị Chủ tọa phiên tòa cắt ngang bằng câu “bị cáo dừng lại, không nói về việc hành vi hành chính”.

Ngay cả người ngồi xem thuộc dạng được chọn lọc kỹ càng, cũng thầm thì với nhau: Tại sao không nhắc, không có hai bao cao su đó làm sao anh ta bị bắt?

Còn Cù Huy Hà Vũ, ông coi đó là một nỗi nhục của ngành tư pháp Việt Nam và chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử hình sự thế giới.

Sau đó đến phần xét hỏi của các Luật sư (Ls). Các Ls hỏi rất từ tốn nhưng xoáy sâu vào các chi tiết, các điều luật cũng như hành vi của Cù Huy Hà Vũ. Tuy nhiên, Chủ tọa phiên tòa luôn thường trực câu nói cửa miệng là “Yêu cầu các Ls không nhắc lại những việc mà Ls trước đã nói, đã hỏi”.

Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội là người thẩm vấn đầu tiên:

Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị HĐXX cho tôi uống nước.

Ls: Từ khi bị cáo viết bài đăng từ năm 2009 đến năm 2010, có cơ quan chức năng nào hỏi bị cáo không?

Cù Huy Hà Vũ: Không có một cơ quan chức năng nào của nhà nước hỏi tôi. Hoàn toàn không, kể cả các kiến nghị gửi Quốc hội cũng không có ai hỏi đến.

Thậm chí, ngay trên các báo chí Việt Nam cũng không có bài nào viết bình luận.

Ls: Các nội dung bị cáo trả lời trước đây có ai nói đến chưa?

Cù Huy Hà Vũ: Tôi nghĩ rằng có nhiều vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã nói đến. Như đa đảng thì ông Trần Xuân Bách đã nói, còn vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc thì nếu tôi nhớ không nhầm thì Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói. Ngày 30/4 có một triệu người vui thì một triệu người buồn. Nếu không nói đến điều đó thì làm gì có buồn trong ngày chiến thắng? Nhưng ông đã nói như thế. Vậy mà ông Trần Xuân Bách đâu có bị đi tù hoặc xử án? Ông Võ Văn Kiệt cũng vậy.

Ls: Trong các bài viết, có nội dung nào chống nhà nước CHXHCNVN không?

Cù Huy Hà Vũ: Trong các bài viết trên, không có nội dung nào chống nhà nước CHXHCNVN theo định nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân…

Tôi chưa bao giờ có nội dung nào chống lại nhà nước CHXHCNVN theo Hiến pháp và Pháp luật quy định.

Ls: Động cơ và mục đích nào để bị cáo viết các bài viết, trả lời phỏng vấn…?

Cù Huy Hà Vũ: Động cơ, mục đích của tôi là thấy sai thì tôi nói thẳng, là để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, Nhân dân Việt Nam, ngoài ra không có mục đích nào hết.

Ls: Căn cứ pháp luật nào để bị cáo viết, trả lời phỏng vấn…?

Cù Huy Hà Vũ: Căn cứ vào pháp luật Việt Nam, điều 69 Hiến pháp về quyền tự do ngôn luận và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, là thành viên.

Ls: Ông có hằn thù gì với nhà nước VN hay không? Có bao giờ ông có lòng hận thù với đất nước và nhân dân VN không?

Cù Huy Hà Vũ: Truyền thống gia đình nhà tôi từ bao đời nay…

Viện Kiểm sát chêm vào: Yêu cầu trả lời đúng câu hỏi.

Ls: Điều khiển phiên tòa là Chủ tọa phiên tòa, Viện kiểm sát coi khéo không lại phạm luật.

Cù Huy Hà Vũ tiếp tục nói về gia đình mình có truyền thống lâu đời nay từ đời cụ Cù Huy Xán cho đến đời ông Cù Huy Cận ngay sau năm 1949 đã được Quốc hội chọn làm Bộ Trưởng đầu tiên…. là khai quốc công thần và là người đẻ ra chế độ này.

Vì thế, không có lý do gì ông hận thù với Nhà nước, Nhân dân, Tổ Quốc Việt Nam.

“Do vậy, dù có phải trả giá bằng ngục tù, bằng cái chết, tôi vẫn quyết chiến đấu đến cùng – Cù Huy Hà Vũ kết luận.

Đến lượt Luật sư Vương Thị Thanh thẩm vấn:

Ls: Ông khẳng định bài viết “Bom áp nhiệt nổ giữa Ba Đình” không phải của ông?

Cù Huy Hà Vũ: Đúng.

Ls: Ông khẳng định …

Ls: Ông yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến Pháp vì nó phi lý?

Cù Huy Hà Vũ: Chính xác. Vì Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất thì không có thể có ai cao hơn để lãnh đạo. Vì thế điều 4 HP là phi lý, bất hợp lý.

Đến đây, Cù Huy Hà Vũ giảng giải một hồi dài về Nhà nước pháp quyền…  ”Chẳng hạn, ở đây không ai được ra lệnh cho các anh ra bản án cả…” – ông Vũ nói.

Tôi không chống đảng CSVN, tôi yêu cầu đa đảng để cùng cạnh tranh, để đất nước tiến bộ. Gia đình tôi, bố tôi, bác tôi là đảng viên, không có lý do gì để tôi chống lại ĐCSVN. Tại Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là sáng lập Đảng Cộng sản, mà còn là sáng lập ra Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội. Sinh thời của chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn có đa đảng – Ông Vũ nói tiếp.

Ls: Bị cáo đã viết bài phải đa đảng có đúng không?
Cù Huy Hà Vũ: Đúng, nhất thiết phải đa đảng để cùng nhau chứ không thể độc quyền.

Ls: Bị cáo không xuyên tạc về Chiến tranh Việt Nam và ngày 30/4 mà chỉ nhằm giải quyết hậu quả sau chiến tranh?

Cù Huy Hà Vũ: Chủ tọa bảo xuyên tạc, nhưng tôi không biết xuyên tạc như thế nào.

Ls: Việc bị cáo khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về khai thác Bauxite

Chủ tọa cắt ngang: Yêu cầu không hỏi điều không liên quan, yêu cầu Luật sư không hỏi đến việc khiếu kiện.

Ls: Việc bị cáo khiếu kiện Thủ tướng vì lý do khai thác Bauxite Tây nguyên đã gửi đi nhưng vẫn chưa nhận được trả lời…

Cù Huy Hà Vũ: Đúng, Ngay cả đến giờ, Tòa án Nhân dân Tối cao vẫn không trả lời đơn.

Tôi phát hiện Thủ tướng có dấu hiệu sai phạm và tố cáo. …

Cù Huy Hà Vũ: Tôi khẳng định làm tất cả vì Tổ Quốc, vì Nhân dân và tôi sẵn sàng chết vì Nhân dân, vì đất nước này.

Tôi không tham gia bất cứ đảng phái, tổ chức nào.

Trên cơ sở đó, tôi khẳng định Tôi là người yêu nước Việt Nam.

Luật sư Trần Đình Triển là luật sư thứ 3 thẩm vấn bị cáo, ông đứng dậy mạnh mẽ đề nghị:

Ls: Đề nghị HĐXX cho cung cấp 10 tài liệu cho bị cáo.

Chủ tọa: Tòa yêu cầu chuyển cho Tòa và yêu cầu Ls chỉ đặt câu hỏi thôi.

Đến đây, nảy ra cuộc tranh cãi về việc tòa không cho cung cấp tài liệu buộc tội cho bị cáo. Với lời lẽ chắc nịch, Ls Trần Đình Triển vạch rõ các quy định luật pháp đảm bảo cho việc bào chữa, tự bào chữa của bị cáo nên việc đưa tài liệu Tòa dùng buộc tội cho bị cáo là hết sức cần thiết.

Tuy nhiên, với quyền quyết định trong tay, bất chấp các lý lẽ luật sư đưa ra, Tòa nhất định không chấp nhận.

Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị Ls làm các việc cần thiết. Bản án này đã được định sẵn.

Ls: Bản kiến nghị ngày 30/8/2010, thì Cáo trạng đã ghi là trả lời phỏng vấn?

Cù Huy Hà Vũ: Phần đó là trong kiến nghị gửi Quốc hội nhưng chưa được trả lời.

Ls: Bị cáo đã gửi cho Quốc hội và có bằng chứng?

Cù Huy Hà Vũ: Đúng, tôi còn lưu biên lai.

Ls: Tài liệu này coi như tài liệu của nhà nước và Quốc hội đang lưu giữ tài liệu này thì bị cáo nghĩ gì?

Cù Huy Hà Vũ: Không được dùng kiến nghị để làm tài liệu kết tội người khác.

Ls: Bị cáo nghĩ gì khi từ ngữ trong bản Cáo trạng lại khác với tài liệu của mình?

Cù Huy Hà Vũ: Đó là sự xuyên tạc và cần khởi tố.

Ls: Bị cáo có cần tài liệu để xác định không?

Cù Huy Hà Vũ: Tôi rất cần và luôn luôn đề nghị đến nay.

Ls: Vào hồi 0h5 phút, ngày 5/11/2010 anh thuê khách sạn đó làm phòng ở, là nơi bất khả xâm phạm vậy cảnh sát vào có đọc lệnh không?

Cù Huy Hà Vũ: Tôi khẳng định lúc 0h5 phút, cơ quan Công an Bộ Công an phá cửa xông vào thì không có bất cứ một cái lệnh nào.

Chủ tọa chặn lại: Đề nghị không hỏi về…

Ls: Chúng tôi đề nghị và hỏi để xem xét quý trình thủ tục tố tụng đúng hay sai?

Đến đây nổ ra cuộc tranh cãi khá gay gắt giữ Chủ tọa và Luật sư, Chủ tọa vài lần hô “Tôi cảnh cáo luật sư lần thứ nhất”. Thế nhưng sau đó vẫn còn mấy “lần thứ nhất” nữa mà không có lần nào thứ 2.

Ls Trần Đình Triển tranh cãi kịch liệt, thậm chí khi bị cảnh cáo đe dọa, ông nói thẳng thừng: “Ông định làm gì tôi? Đuổi tôi ra cho xong chăng? Tôi không sợ bất cứ điều đe dọa nào”.

Ls: Việc khám xét tại 24 Điện Biên phủ có đúng quy định Pháp luật hay không?

Cù Huy Hà Vũ: Tôi ở Tp HCM nên không biết.

Ls: Vậy vợ và người nhà anh phải là nhân chứng?

Cù Huy Hà Vũ: Đúng.

Ls: Việc câu chữ tài liệu bị sai với cáo trạng anh nghĩ gì?

Cù Huy Hà Vũ: Tôi đề nghị khởi tố việc làm sai lệch phiên tòa.

Ls: Anh có đề nghị giám định các tài liệu của anh không?

Cù Huy Hà Vũ: Tôi yêu cầu giám định.

Ls: Anh có nhiều bài viết chứ không phải chỉ 10 bài?

Cù Huy Hà Vũ: Đúng, vì lòng yêu nước, nhất là vấn đề Biển Đông.

Tôi cho rằng, yêu cầu cấp thiết của VN để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.

Chủ tọa chen vào: Yêu cầu Luật sư chỉ hỏi những vấn đề liên quan.

Ls: Tôi đề nghị Chủ tọa làm đúng pháp luật. Anh đề nghị gì khi sai pháp luật?

Cù Huy Hà Vũ: Tôi đề nghị khởi tố ngay các nhân viên an ninh đã ném hai bao cao su giao hợp để ập vào phòng tôi và bắt giữ tôi.

Đó là trò bẩn thỉu và ô nhục. Bẩn thỉu và ô nhục chưa từng có trên thế giới.

Đến đây, chấm dứt phần thẩm vấn của Ls Trần Đình Triển để đến luật sư Trần Vũ Hải thẩm vấn.

Ls Hải: Bị cáo có nghĩ do thù hận với bị cáo hay không?

Cù Huy Hà Vũ: Có, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thù tôi và cơ quan ANĐT Bộ  Công an. Tôi đã kiện Thủ tướng và tố cáo ông Vũ Hải Triều tring vụ đánh sập hơn 300 trang mạng.

Quá trình thẩm vấn của Ls Trần Vũ Hải diễn ra với sự hùng biện và trả lời trôi chảy nêu bật những điều cần nói về các bài viết về các tài liệu mà ông Vũ không có trong tay để chứng minh việc buộc tội ông chống Nhà nước CHXNCNVN là vô căn cứ. Ông luôn luôn khẳng định ông là người yêu nước.

Sau phần thẩm vấn bị cáo, Viện Kiểm sát nhân dân đọc  lời đề nghị với các nội dung như sau:

– Không cung cấp 10 đầu tài liệu dùng kết tội Cù Huy Hà Vũ cho bị cáo, không đọc toàn văn mà chỉ trích dẫn những câu cần thiết.

– Tại phiên tòa sơ thẩm… bị cáo đã tự tước bỏ quyền bào chữa của mình.

– Về việc khiếu nại Tòa sơ thẩm đã không cho xem biên bản phiên tòa là đúng vì nếu muốn xem phải yêu cầu ngay tại phiên tòa. Nhưng ba ngày sau mới có yêu cầu nên không cho xem.

(Khi đại diện VKS nói đến đây, các luật sư và nhiều người cứ ơ, ơ… hết sức ngạc nhiên. Tôi hỏi Ls Dương Hà, Ls Dương Hà nói: Yêu cầu vào 3 ngày sau là đúng pháp luật quy định. Ông này nói bừa sai luật).

– Giữ nguyên hình phạt cho bị cáo Cù Huy Hà Vũ.

Buổi sáng của phiên tòa chấm dứt ở phần này, chờ phần tranh tụng nảy lửa vào buổi chiều.

(Còn tiếp)

Ngày 5/8/2011

J.B Nguyễn Hữu Vinh

4/08/11 7:46 PM  (ky 2)
Tôi đi dự phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ – Kỳ 2

Trong bài viết kỳ 1, những diễn biến phiên tòa kể từ khi bước ra khỏi nhà đến khi Tòa nghỉ bàn bạc xem xét các yêu cầu của các Luật sư, tôi đã cố gắng nêu đầy đủ, trung thực những gì mình đã chứng kiến và ghi lại được. Có thể quá trình mô tả lại sẽ không logic như các phiên tòa hoặc các cuộc trao đổi, trò chuyện tranh cãi bình thường khác. Điều đó chỉ vì ngay chính phiên tòa đặc biệt này đã xảy ra như vậy.

Mọi lời phát biểu, tranh tụng hoàn toàn dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa. Mà chủ tọa phiên tòa thì ngay từ đầu phiên tòa đã thể hiện thái độ không muốn mất nhiều thời gian.

Ở đây, tôi cố gắng trình bày cụ thể và chi tiết những điều đã xảy ra tại phiên tòa cách khách quan nhất mà mình đã nhớ và ghi chép lại được . Vốn không phải là luật sư hoặc có quyền tranh tụng, tôi chỉ biết ngồi nghe và ghi chép lại những gì mình thấy, nghe và gặp.  Cũng có thể có những câu nói quá dài, nghe, ghi không kịp nhưng những yếu tố cơ bản thì đã ghi lại.

Còn việc bình luận, đánh giá về phiên tòa công khai này sẽ phụ thuộc quan điểm của mỗi người khác nhau.

Trong quá trình nghỉ để Chủ tọa phiên tòa xem xét các yêu cầu của các luật sư, tại một dãy ghế của phòng tạm nghỉ phía ngoài, mấy bà đang ngồi nói chuyện trao đổi với nhau. Câu chuyện có vẻ nghiêm trọng và đầy bí ẩn. Có lẽ đây là đám mấy công dân đặc biệt của Phường nơi bị cáo cư trú thì phải. Khi tôi đi vệ sinh ngang qua nghe một bà hùng hồn, vẻ hiểu biết: “Luật sư người ta đề nghị thế là đúng luật đấy, đúng quá đi chứ, yêu cầu chính đáng đó nhất định tòa phải nghe rồi”.

Hội đồng xem xét” và trả lời

Sau một thời gian bàn bạc, xem xét tại phòng phía trong, Hội đồng xét xử tiếp tục trở lại làm việc.

Những hi vọng mới nhen nhúm lên trong tôi và những người chứng kiến vụt tắt khi chủ tọa phiên tòa quyết định với nội dung như sau:

– Không chấp nhận các yêu cầu của các luật sư và bị cáo theo những điều luật được viện dẫn khác nhau, như khoản 3, điều 103…

– Việc cấp giấy bào chữa cho Ls Nguyễn Thị  Dương Hà như yêu cầu, được chủ tọa giải thích: Trong quá trình tham gia vụ án, Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà đã vi phạm bí mật an ninh Quốc gia, Tòa sơ thẩm đã thu hồi giấy bào chữa. Do vậy tại tòa Phúc thẩm không cấp giấy cho Luật sư (Ls) Hà (!) (Việc này, Ls Nguyễn Thị  Dương Hà đã có văn bản bác bỏ rằng không thể có một việc đưa xử tội hai lần)

– Tại Tòa sơ thẩm đã có 4 Ls, dù có Ls Hải bị mời ra khỏi phiên tòa này, và các Ls vẫn được tạo điều kiện để làm việc.

– Việc yêu cầu triệu tập Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết được tòa giải thích là bị cáo xâm hại lợi ích an ninh Quốc gia, không phải của cá nhân nào nên không triệu tập Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.

– Những nhân chứng bị cáo yêu cầu như ông Hoàng Công Tư, Đài RFA, VOA, Pv Trâm Oanh… không phải là nhân chứng, tại phiên tòa Sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận các tài liệu viết, trả lời phỏng vấn… nên không cần triệu tập.

– Những vật chứng mà Ls yêu cầu như hai bao cao su đã qua sử dụng… không phải là những vật chứng mà chỉ là vật chứng của hành vi vi phạm hành chính.

– Việc cung cấp các tài liệu cho bị cáo theo yêu cầu của Ls được Chủ tọa phiên tòa giải thích: Vì bị cáo đã làm ra nên bị cáo sẽ ghi nhớ được, nên không cấp.

– Không cung cấp giấy bút cho bị cáo để tự bào chữa tại tòa.

– Các yêu cầu của Ls là đọc các tài liệu dùng kết án ông Cù Huy Hà Vũ tại tòa sẽ được HĐXX “xem xét”.

– Việc ông Cù Huy Hà Vũ yêu cầu thay đổi HĐXX vì tất cả là đảng viên Cộng sản thì không thuộc quy định của Pháp luật.

Ông Cù Huy Hà Vũ yêu cầu bổ sung, và yêu cầu Chủ tọa đọc nguyên văn điều luật số 42 của Bộ luật TTHS.

Chủ Tọa phiên tòa không để ý đến yêu cầu của bị cáo Cù Huy Hà Vũ và kết thúc phần quyết định về những yêu cầu của bị cáo, Ls. Kể cả việc ông Vũ yêu cầu Chủ tọa đọc nguyên điều 42 trong bộ luật TTHS mà theo Ls và ông Vũ thì đã bị đọc sai, nhưng tòa không chấp nhận.

Ông Cù Huy Hà Vũ kêu to: “Không chấp nhận là độc quyền:.

Như vậy, hầu hết những yêu cầu của bị cáo và các Ls đã không được đáp ứng sau khi Chủ tọa nghỉ để xem xét. Và sau này, những điều chủ tọa phiên tòa hứa xem xét tiếp cũng không được đáp ứng nốt.

Theo các Ls, thì việc yêu cầu của họ là đúng với quy định của pháp luật, việc HĐXX không chấp nhận, đáp ứng yêu cầu đó là trái luật rõ ràng. Nhất là việc đảm bảo quyền tự bào chữa của ông Cù Huy Hà Vũ và việc phải đưa chứng cứ phạm tội là 10 đầu tài liệu mà Tòa sơ thẩm đã dùng để kết tội ông.

Xét hỏi

Nhanh chóng kết thúc phần đầu buổi xử án, Chủ tọa phiên tòa bước vào phần xét hỏi, thẩm vấn.

Chủ tọa đọc nội dung tóm tắt của vụ án. Khi đọc đến đoạn nói rằng Vũ đã viết bài trả lời phỏng vấn đài VOA, RFA… Cù Huy Hà Vũ kêu to: “Tôi không viết bài, nói bậy”.

Chủ tọa công bố bị cáo đã có đơn kháng cáo vào ngày 15/4/2011.

Ông Vũ yêu cầu nhận được bản tự bào chữa của mình, đã chuẩn bị cùng với các tài liệu và bộ luật nhưng đã không cho cầm vào.

Chủ tọa hỏi: Bị cáo có đồng ý các tài liệu do bị cáo viết, trả lời, lưu giữ không?

Cù Huy Hà Vũ: Tôi không viết bài “Bom áp nhiệt nổ giữa Ba Đình” mà là của tác giả Trần Thanh Ty  có liên quan đến tôi nên tôi lưu giữ… Vũ nói tiếp về việc ông bị bắt vì bị ném hai bao cao su giao hợp đã qua sử dụng vào phòng nghỉ của ông để cơ quan điều tra Bộ Công an vào bắt ông… ông Vũ nói hăng hái đầy phẫn uất, công an bảo vệ giữ tay ngăn ông lại. Ông cãi

Chủ tọa phiên tòa cắt ngang: Chỉ yêu cầu trả lời có hay không mà thôi.

Cù Huy Hà Vũ: Không thể trả lời như vậy được, tôi phải trình bày rõ ràng…

Chủ tọa: Trong hai bài trả lời RFA và Đài Tiếng nói Việt Nam…

Ông Vũ nhắc: Không phải đài Tiếng nói Việt Nam, mà là đài Tiếng nói Hoa Kỳ, nhắc cho HĐXX.

Chủ tọa: Bị cáo trả lời phỏng vấn như thế nào?

Ông Vũ: Qua điện thoại…

Đến đây, ông Vũ trình bày rõ ràng quá trình diễn tiến sự việc…

Chủ tọa: Bị cáo dừng lại.

Ông Vũ: Tôi có quyền trình bày những nội dung liên quan đến câu hỏi

Chủ tọa: Bài phỏng vấn do bị cáo đăng tải hay do Đài đăng?

Ông Vũ: Đương nhiên do Đài đăng.

Chủ tọa: Có bài nào bị cáo kiểm tra lại và phải đồng ý mới được đăng không?

Ông Vũ: Cơ quan ANĐT và Tòa án đã nhầm lẫn…

Chủ tọa: Những kẻ cướp ngày nhằm chỉ ai?

Ông Vũ: Những kẻ phạm tội trong chính quyền địa phương.

Chủ tọa: Nghĩa là chính quyền địa phương?

Ông Vũ: Chính xác.

Chủ tọa: Bài vế Chính quyền VNCH?

Ông Vũ: Đó là sự dốt nát và kém cỏi, muốn hại tôi vì đó là Kiến nghị tôi gửi Quốc hội, mà tài liệu tôi gửi kiến nghị Quốc hội thì không được dùng làm chứng cứ buộc tội tôi.

Chủ tọa: Bị cáo có gửi Quốc hội?

Ông Vũ: Tôi gửi cả chục kiến nghị mà Quốc hội đã không trả lời tôi.

Tôi có quyền trả lời phỏng vấn báo chí trong và ngoài nước được pháp luật thừa nhận. Kể cả chủ tịch nước lãnh đạo đất nước cũng vậy…

Cù Huy Hà Vũ tiếp tục nói về các bài viết, về kiến nghị gửi Quốc hội đã được đưa vào làm chứng cứ kết tội ông ở phiên tòa sơ thẩm. Ông nói: “Không ai được dùng kiến nghị của công dân để kết tội bất cứ một ai hết.

Khi ông Vũ trình bày chi tiết về các vấn đề Chủ tọa hỏi, Chủ tọa phiên tòa nhiều lần nhắc: Chỉ được nói đúng hay không mà thôi.

Cù Huy Hà Vũ: Việc không cung cấp tài liệu buộc tội tôi cho tôi là việc làm phi pháp.

Chủ tọa: Bài viết Chiến tranh Việt Nam là 1 hay 2 bài? Trong đó có bài: Ts Cù Huy Hà Vũ nghĩ về chiến tranh Việt Nam và ngày 30/4?

Cù Huy Hà Vũ: Vì tòa không cung cấp tài liệu cho tôi nên tôi không nhớ.

Chủ tọa: Có khi nào bị cáo đưa bài phỏng vấn nào mà họ thay đổi tiêu đề hay không? Hai bài đó có cùng 1 nguồn hay không?

Cù Huy Hà Vũ: Không cung cấp tài liệu, tôi không nhớ hết.

Chủ tọa: Trong bài trả lời Đài Tiếng nói Hoa Kỳ…

Cù Huy Hà Vũ: Lần này thì nói chuẩn rồi, không còn là Đài Tiếng nói Việt Nam.

Chủ tọa: Ngoài phần trích trong cáo trạng, thì còn đoạn về đảng…

Cù Huy Hà Vũ: Tôi không nhớ, nhưng có thể có.

Chủ tọa: Trong bài Đường sắt Bắc – Nam…

Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị không bàn bài này

Chủ tọa: Như vậy, bị cáo có viết bài này?

Cù Huy Hà Vũ: Như vậy là cố tình hãm hại tôi.

Chủ tọa: Các bài trả lời phỏng vấn

Cù Huy Hà Vũ: Tôi không nhớ rõ, vì không chú ý

Chủ tọa: Bị cáo có viết bài… có đăng không?

Cù Huy Hà Vũ: Có đăng trên Bauxite Việt Nam

Chủ tọa: Đăng mấy ngày?

Cù Huy Hà Vũ: Không  nhớ.

Chủ tọa: Bài Trần Khải Thanh Thủy…

Cù Huy Hà Vũ: Tôi viết tố cáo tội phạm.

Chủ tọa: Trong bài viết, bị cáo nói là tố cáo tội phạm, đó là cơ quan công an Đống Đa?

Cù Huy Hà Vũ: Chính xác, đó là công an Đống đa, thủ đoạn đó là tội phạm.

Chủ tọa: Bài bàn về ĐCSVN?

Cù Huy Hà Vũ: Ở đâu? Bài nào?

Chủ tọa: Bài bàn về Đảng cầm quyền.

Cù Huy Hà Vũ: Nhắc lại là nói cho đúng.

Chủ tọa: Bài Bom áp nhiệt nổ giữa Ba Đình của Đặng Thanh Ty, bị cáo có lưu không?

Cù Huy Hà Vũ: Không nhớ vì không có tài liệu trong tay.

Chủ tọa: Tại cơ quan an ninh điều tra, bị cáo có thừa nhận viết để đi tuyên truyền không?

Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị bỏ từ “thừa nhận” đi, tôi không có tuyên truyền cho ai cả. Theo Đại Từ điển, tuyên truyền là vận động mọi người làm theo, trong tài liệu tôi không có chuyện đó.

Chủ tọa: Những tài liệu cơ quan điều trra thu giữ là của bị cáo?

Cù Huy Hà Vũ: Không, đó là tài sản của vợ, con tôi. Trong ổ cứng máy tính có nhiều tài liệu tại sao lại thu giữ tất cả mà chỉ có lấy điều tra 10 tài liệu? Tại sao còn lại không trả lại? Việc giữ lại là bất hợp pháp, là cưỡng đoạt tài sản công dân.

Đại diện Viện Kiểm sát (VKS):… (Nói nhỏ nghe không rõ)

Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị nói to lên.

VKS: Trong 10 tài liệu bị cáo đã thừa nhận

Cù Huy Hà Vũ: Tôi không “thừa nhận” tôi chỉ “xác nhận” thừa nhận là do quá trình đấu tranh chịu thua mới thừa nhận, tôi chỉ xác nhận.

VKS: Bị cáo đã làm ra các tài liệu đó?

Cù Huy Hà Vũ: Tôi không làm ra, do các đài, báo họ làm ra.

VKS: Trên cơ sở nội dung bị cáo trả lời, người ta mới làm ra bài phỏng vấn

Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị Viện Kiểm sát nói to lên, không lẩm bẩm. Dõng dạc, đàng hoàng đi

VKS: Bị cáo viết lên với mục đích gì?

Cù Huy Hà Vũ: Tôi tố cáo 1 số người trong cơ quan nhà nước đã dùng tiền của của nhân dân để cướp đất khắp nơi. Tôi tố cáo các hành vi lạm quyền.

VKS: Theo bị cáo, việc làm đó là đúng?

Cù Huy Hà Vũ: Tôi hoàn toàn đúng, làm sai, lạm quyền, thì tố cáo là bình thường.

VKS: Bị cáo có thấy đó là hiện tượng

Cù Huy Hà Vũ: Đây không phải là hiện tượng mà là hành vi, tôi còn chưa đủ thời gian sưu tầm nhiều, chứ đủ thời gian sưu tầm thì tôi chứng minh đầy đủ hơn, nhiều hơn những hành vi đó.

VKS: Trong bài…

Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị loại bài đó ra vì tôi viết chưa xong mà lấy làm chứng cứ buộc tội tôi?

Khi Cù Huy Hà Vũ đang nói thì đột nhiên mất điện.

Cù Huy Hà Vũ: Như ở trại giam nhỉ.

VKS: Bị cáo có trả lời đài..

Cù Huy Hà Vũ: Tôi có trả lời Đài Tiếng nói Hoa Kỳ.

VKS (Người thứ 2): Bị cáo có sử dụng máy tính, USB không?

Cù Huy Hà Vũ: USB hay ổ cứng? USB là ổ cứng máy vi tính chứ gì? Đó là  hai cái ổ cứng, không phải USB

VKS: Còn 2 USB ở TPHCM cơ quan An ninh Điều tra thu giữ

Cù Huy Hà Vũ: Đó là sự cưỡng đoạt tài sản của cơ quan CA Bộ Công an đã ném 2 bao cao su giao hợp vào phòng tôi lấy cớ cưỡng đoạt tài sản của tôi.

Nhân đây, tôi cũng đề nghị điều tra về vụ này vì trong lịch sử thế giới chưa bao giờ có những hành động như vậy.

Cái tôi đã ký xác nhận lại đi giám định, cái cần giám định lại không giám định.

Phần hỏi đáp thẩm vấn của Chủ tọa phiên tòa và đại diện Viện Kiểm sát đến đây là kết thúc để chuyển sang phần thẩm vấn của các luật sư.

Trong quá trình thẩm vấn của Chủ tọa phiên tòa và các đại diện Viện Kiểm sát nhân dân, Cù Huy Hà Vũ đứng thẳng, đầu ngẩng cao, hai tay bắt  sau lưng, tay trái nắm chặt cổ tay phải và bàn tay phải nắm chặt thành một nắm đấm. Thỉnh thoảng ông giơ tay vuốt lại mái tóc.

Tôi cố tình chú ý xem cả ngày hôm đó thử có lần nào Cù Huy Hà Vũ cúi thấp đầu xuống hay không. Nhưng, ngay cả khi đứng lên ngồi xuống ghế anh vẫn ngẩng cao đầu.

Phần trả lời thẩm vấn của Chủ tọa phiên tòa và đại diện Viện kiểm sát nhân dân, ông trả lời hết sức mạch lạc, vận dụng câu, chữ trích dẫn hết sức thành thạo dù không đươc cung cấp các tài liệu đã được dùng để ghép tội cho ông.  (Còn tiếp)

Ngày 4/8/2011

J.B Nguyễn Hữu Vinh

3/08/11 4:29 AM  (ky 1)
Tôi đi dự phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ – Kỳ 1

Phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm ông TS luật Cù Huy Hà Vũ đã tiến hành xong sau nhiều mong đợi từ các nhân sĩ, trí thức, người dân Hà Nội và khắp nơi, không chỉ trong nước mà cả trên thế giới rằng sẽ có sự nhìn nhận lại của các cơ quan pháp luật để có bản án hợp lòng dân. Nhưng những hy vọng đó đã tan thành mây khói khi tòa tuyên y án sơ thẩm.

Kết quả đó làm nản lòng những người hy vọng một sự đổi thay, làm đau lòng những người yêu nước, làm thất vọng những niềm tin còn sót lại về một nhà nước pháp quyền.

Sự nản đó, thể hiện ở nhiều nơi, nhiều lúc và nhiều mặt. Ngay cả việc người dân yêu cầu quyền chính đáng, cơ bản tối thiểu của họ khi được vào dự phiên tòa công khai thì người ta cũng không thèm nhắc đến nữa.

Tôi đi dự phiên tòa lịch sử

Trong lịch sử thế giới cũng như dân tộc này, đã có nhiều phiên tòa đi vào lịch sử còn ghi lại đến tận hôm nay. Tôi tin rằng phiên tòa này cũng sẽ được ghi vào lịch sử của đất nước, của dân tộc về một thời kỳ: Thời kỳ Việt Nam có “nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa”.

Tôi có may mắn được vào dự phiên tòa lịch sử này một cách hết sức ngẫu nhiên. Điều này không chỉ làm ngạc nhiên những người bạn, những người thân mà ngay cả tôi cũng không kém, kể cả khi đã ở trong tòa.

Sáng 2/8, tôi và vài người bạn lên nhà chị Dương Hà định để cùng đi ra xem quang cảnh phiên tòa vì biết rằng phiên tòa công khai này chỉ dành cho một ít người được chọn. Cái quyền cơ bản đó đã nghiễm nhiên không còn khi tòa án xét xử những vụ án như vụ mấy cục gạch của giáo dân Thái Hà, vụ sơ thẩm Cù Huy Hà Vũ… Đến nơi, chị Dương Hà bảo: cả gia đình có 13 người muốn vào dự, thế nhưng họ chỉ cấp cho có 3 giấy ra vào tòa. Một giấy dành cho ông chú Cù Huy Thước, một giấy của chị, còn một giấy nữa là của cháu Hiếu, nhưng chị cứ phân vân có nên để cháu Hiếu chứng kiến cảnh đau lòng này không. Hay Vinh vào tòa với chị?

Sáng dậy lúc ra đi, trời mưa nhỏ nên tôi chỉ mặc quần soóc, áo phông, chân đi dép lê cho tiện, đến khi này mới khó xử, vậy là phải vội vàng điện về nhà để đứa em mang ngay lên cho bộ vét và đôi giày, mười lăm phút sau, nhu cầu được đáp ứng. Thế là tôi đi.

Khỏi phải mô tả cảnh ngăn chặn bên ngoài, ngay tại cổng tòa ngoài đường, một tốp cảnh sát hình như được huy động quá vội vàng hoặc cẩu thả, hoặc trá hình nên không có biển tên trên ngực chặn chúng tôi lại đòi giấy tờ. Chúng tôi phản đối: “Giấy tờ không phải để xuất trình ở đây, mà các anh là cảnh sát, biển tên ở đâu, ăn mặc đúng điều lệnh khi làm việc thế này à”? Nghe nói thế một người vội vàng móc biển tên ra đeo lên ngực, nhưng những người đứng trước cổng tòa vẫn thế, một người mặc thường phục mà tôi thường thấy trong các phiên tòa xẳng giọng: “Không cần biển tên”.  Tôi hỏi: “Phiên tòa công khai, chúng tôi vào dự tại sao ngăn chặn? anh ta đáp: “Thì cũng phải có quy định của tòa”. Tôi nói: “Sao ngay tại cổng này không có bảng quy định nào mà anh lại chặn”? Anh ta không thể trả lời.

Trên đường ra tòa

Vào cổng tòa, tôi gặp một công an tôn giáo tên là Sơn, anh ta hỏi: “Ông Vinh đi vào đây làm gì”? Tôi đáp: “Tôi đi dự phiên tòa công khai” –  “Ông có giấy không đưa tôi xem”? – anh ta hỏi. Tôi đáp: “Tòa xử công khai cần gì phải giấy, mà có giấy cũng không phải để đưa cho anh xem, vì đấy đâu phải nhiệm vụ của anh”. Anh ta nói: “Sẽ có người hỏi để xem giấy của ông”.

Đeo vội bảng hiệu
Người chỉ đạo bên ngoài, đám công an không đeo bảng tên và công an Sơn đứng xa xa

Quả nhiên vậy, khi mọi người lục tục kéo vào qua cổng an ninh, một người vừa được anh công an tên Sơn thầm thì vào tai và chỉ trỏ tôi lập tức chặn tôi lại: “Giấy đâu”? Tôi đưa giấy ra vào, anh ta cầm và chưng hửng, một lúc sau hỏi tiếp: “Thẻ đâu”? Tôi đáp: “Tôi không phải là nhân viên ở đây, nên không có thẻ và chỉ cần giấy ra vào này tôi có thể ra vào”. Anh ta hỏi: “Chứng minh nhân dân đâu?” . Tôi đưa chứng minh nhân dân, anh ta lại: “Thẻ đâu”?.  Tôi nói với anh ta: “Anh đừng cò quay, anh đòi giấy, tôi có giấy, anh đòi thẻ tôi không là nhân viên ở đây nên không có thẻ thì anh đòi giấy chứng minh nhân dân, tôi đưa anh thì anh lại đòi thẻ, chắc lát nữa anh đòi giấy khai sinh hoặc bằng lái xe chắc? Với cái giấy này, có dấu đỏ, nó có giá trị gì không”?

Cũng lúc đó, một người mang bảng trên ngực ghi Ban Tổ chức đi qua, tôi hỏi: “Tôi có giấy này, có vào tòa được không”? Người đó trả lời: “Có giấy này là vào được”. Vậy là anh ta phải để tôi vào tòa.

Vào tòa

Trong tòa, ngoài khu vực dành cho Hội đồng xét xử (HĐXX), các luật sư và bị cáo, phía dưới có ba dãy ghế mỗi dãy có 8 hàng, mỗi hàng có 12 chiếc, vị chi là 96 chỗ. Trong đó theo chị Dương Hà cho biết thì một số là cán bộ phường nơi chị ở, còn lại là những gương mặt trẻ già được cấp giấy màu hồng. Ngồi bên tôi là một cậu trẻ măng, tôi hỏi cậu làm ở đâu thì cậu nói làm công nhân, nhà ở Hai Bà Trưng, tôi hỏi làm công nhân gì thì cậu ấp úng. Thế nhưng, cậu nói chuyện cơ quan với một cậu bên cạnh cầm trên tay tập “Tập huấn nghiệp vụ khóa 7″ thì tôi hiểu cậu đã không dám nói thật. Điều lạ là ngay chính những người dự tòa như thế này, họ cũng đã có tâm trạng không minh bạch.

Gần 8 giờ ông Vũ được dẫn giải ra tòa, lần này ông mặc áo sơ mi, cổ không đeo cà vạt, chân đi giày. Trước khi phiên xử bắt đầu, chị Dương Hà và luật sư của bị cáo đề nghị cho ông được đeo cà vạt vì ông chưa phải là tội nhân. Yêu cầu này không được chủ tọa phiên tòa đáp ứng và nói rằng: “Vấn đề ăn mặc là do nơi trại tạm giữ”. Như vậy là ông Vũ đã không được đeo cà vạt trước tòa như lần trước với hình ảnh hiên ngang.

8h15, phiên xử bắt đầu.

Chủ tọa phiên tòa là Chánh án Nguyễn Văn Sơn, hai thẩm phán là Nguyễn Huy Chương và Nguyễn Đức Nhận đã ngồi tại tòa, phía Viện Kiểm sát có ông Nguyễn Thanh Văn và Lê Hồng Tuấn. Phía bên bị cáo có 4 luật sư: Trần Quốc Thuận, Trần Đình Triển, Trần Vũ Hải, Vương Thị Thanh. Phía người nhà có ông Cù Huy Thước, chị Dương Hà và tôi. Phần còn lại là những người xa lạ.

Thủ tục ban đầu là kiểm tra căn cước bị cáo, ngay sau khi được mở còng số 8, Cù Huy Hà Vũ giơ tai tay lên cao hình chữ V, các ngón tay hình chữ V và quay lại: “Chào tất cả mọi người. Dương Hà, anh yêu em”.

Phần khai nhân thân Cù Huy Hà Vũ đọc trích ngang lý lịch của mình bị sa thải khỏi Bộ Ngoại giao vì kiện Thủ tướng, tiếp đó ông phản đối việc nêu nhân thân của ông trong bản án nói đến hai con nhưng không nói rõ tên hai con, “đã nêu thì phải có tên tuổi đầy đủ” – ông nói.

Ngay từ đầu phiên tòa, Cù Huy Hà Vũ yêu cầu:

– Thay đổi toàn bộ Hội đồng xét xử vì tất cả đều là đảng viên ĐCS, mà cáo trạng có nói đến việc ông đã phủ nhận sự lãnh đạo của ĐCS. Vì thế, việc dùng các đảng viên ĐCS để xử ông là việc không khách quan.

– Điều thứ 2, ông Vũ nói về vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân gồm có 2 chức năng vừa truy tố vừa kiểm sát xét xử, như vậy là vừa đá bóng vừa thổi còi sẽ dẫn đến không khách quan trong quá trình xét xử.

– Vấn đề thứ 3, ông nói: “Tôi có chuẩn bị bản tự bào chữa cho mình bằng văn bản, có các tài liệu khác như các bộ luật, nhưng hiện nay cảnh sát dẫn giải vẫn đang giữ của tôi, yêu cầu trả lại tôi để tôi thực hiện quyền tự bào chữa của mình”.

Nhưng, yêu cầu đó không được chủ tọa trả lời mà chủ tọa lại đọc một điều trong bộ luật quy định tại tòa về việc luật sư tiếp xúc bị cáo và giải thích về điều đó.

LS Trần Đình Triển phản ứng ngay: Yêu cầu Chủ tọa phiên tòa không suy diễn và yêu cầu Chủ tọa phiên tòa đọc đúng quy định của luật và ông nói: “Nếu với trình độ của chủ tọa đọc luật cũng sai như thế này, thì yêu cầu thay đổi Chủ tọa phiên tòa”.

LS Trần Vũ Hải có ý kiến tiếp theo nhất trí với LS Trần Đình Triển về việc yêu cầu thay đổi Chủ tọa phiên tòa. Ngoài ra, LS Trần Vũ Hải cũng gửi bản kiến nghị của công dân gửi QH nước CHXHCN VN đến Tòa, văn bản của Văn phòng Cù Huy Hà Vũ đã gửi QH luật sư cũng đã gửi đến Tòa và yêu cầu:

– Triệu tập Chủ tịch Quốc hội để trả lời về điều 88 Bộ luật Hình sự.

– Phiên tòa xét xử công khai, mọi người đều có quyền được tham dự, gia đình Cù Huy Hà Vũ có 13 người và bạn bè gồm 20 người đã đề nghị được tham dự phiên tòa, yêu cầu Tòa tạo điều kiện cho họ.

Luật sư Vương Thị Thanh đề nghị:

– Đề nghị HĐXX triệu tập Chủ tịch nước, Tướng Hoàng Công Tư, chị Lê Nguyễn Như Quỳnh, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, RFA…

– Cung cấp cho ông Vũ 10 tài liệu mà Tòa sơ thẩm đã dùng làm căn cứ kết tội ông.

– Yêu cầu Tòa cung cấp giấy bút cho ông Vũ để ông tự bào chữa cho mình.

– Yêu cầu có vật chứng là hai bao cao su đã qua sử dụng.

– Yêu cầu Tòa công bố toàn văn các tài liệu.

– Trước khi nói lời sau cùng, phải để ông Vũ đọc bài tự bào chữa của ông.

– Không hạn chế thời gian tranh luận của luật sư.

– Thư ký phiên tòa phải ghi đầy đủ những diễn biến trong phiên tòa, vì phiên sơ thẩm thư ký Tòa đã bỏ qua nhiều tình tiết.

– Yêu cầu chủ tọa cho Cù Huy Hà Vũ thắt cà vạt vì ông chưa phải là tội phạm và cung cấp cho ông 10 đầu tài liệu…

Luật sư Trần Quốc Thuận có ý kiến:

– Đồng ý với các đề nghị của các luật sư

– Cán bộ, công nhân viên chỉ được làm những gì pháp luật quy định, còn nhân dân được làm những việc pháp luật không cấm.

– Nộp danh sách Kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ và bản kiến nghị 12 điểm của LS về phiên tòa xét xử sơ thẩm.

Sau khi các luật sư nêu ý kiến của mình, Chủ tọa phiên tòa nói: “Hội đồng sẽ xem xét các đề nghị của luật sư”.

Cù Huy Hà Vũ yêu cầu:

– Hoãn phiên tòa vì tại đây không có các nhân chứng như Đài VOA, RFA, phóng viên Trâm Oanh, BauxiteVN… như vậy là phiên tòa sẽ thiếu các nhân chứng.

– Yêu cầu triệu tập vợ và các con, vì đó là người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan.

– Chủ tọa phiên tòa đã nói nhưng không đúng theo luật.

– Đề nghị hoãn phiên tòa vì tòa đã không cấp giấy cho LS Nguyễn Thị Dương Hà từ vụ sơ thẩm. Nếu vụ sơ thẩm đã từ chối, giờ vụ phúc thẩm cũng từ chối là không không đúng luật.

– Yêu cầu Tòa cung cấp đơn và tài liệu kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân:

– Căn cứ các điều luật 42,45, bộ luật TTHS, Vũ đề nghị đọc toàn văn…

– Trong quá trình tham gia vụ án, LS Hà đã vi phạm.

– Những người như Hoàng Công Tư, Lê Nguyễn Như Quỳnh không phải là nhân chứng vụ án.

– Bị cáo thừa nhận trả lời các đài, báo liên quan đến An ninh Quốc gia nên không cần triệu tập.

Trong quá trình đó, đại diện Viện Kiểm sát đã nổi nóng, phát biểu tự do không cần chủ tọa cho phép, lập tức được ông Vũ nhắc nhở “Hãy bình tĩnh”. Cũng như khi một vị thuộc Viện Kiểm sát phát biểu giọng nói ấp úng, ông Vũ nhắc ngay và đề nghị nói to, nói rõ để còn nghe, đàng hoàng dõng dạc lên không việc gì phải ấp úng… làm cả phòng xử ồ lên cười, bớt đi phần căng thẳng trong tòa.

Cù Huy Hà Vũ giơ hai tay hình chữ V: ” Chiến thắng, chiến thắng cuối cùng”.

Hội đồng xét xử tạm nghỉ vào phòng nghị án để xem xét.

Hà Nội, ngày 3/8/2011

  • J.B Nguyễn Hữu Vinh

Ông Trương Văn Dũng (nick Fb Truong van Dung -người hoạt động Nhân quyền bị công an Hoàn Kiếm cưỡng bức bắt cóc trên đường phố về trụ sở để « làm việc »

10 Avr

10850191_362130887316408_1280609358917861916_n

Theo thông tin từ Fb Ngô Duy Quyền: Ông Trương Văn Dũng (nick FbTruong van Dung -người hoạt động Nhân quyền bị công an Hoàn Kiếm cưỡng bức bắt cóc trên đường phố về trụ sở để « làm việc » về sự « Có mặt ngày 14/3/2015 tại khu vực tượng đài Lý Thái Tổ, chứng kiến những người mặc áo DLV » sau khi đã có giấy triệu tập lần thứ 4.
Phải nói rõ ngay rằng Việc cơ quan công an triệu tập công dân để lấy thông tin về nhóm DLV phá rối buổi tưởng niệm 64 chiến sỹ Hải quân Việt nam bị Trung quốc sát hại tại đảo Gạc Ma là rất vô lý nếu không muốn nói là họ muốn làm việc này để nhằm lấy lòng Trung quốc nhân chuyến đi thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh.
Nếu công an muốn làm rõ việc đám DLV đã có những hành vi gây rối làm xấu mặt nhà nước thiết nghĩ cơ quan điều tra phải cho triệu tập chúng mới đúng chứ không phải triệu tập những người đi tưởng niệm.
Khi công an thực sự chỉ muốn lấy thông tin của nhân chứng, lẽ ra họ có thể cử cán bộ đến gia đình ông Trương Văn Dũng để tìm hiểu chứ không phải triệu tập ông.
Nay họ lại cưỡng bức công dân một cách vô luật pháp như vậy, gia đình ông Dũng phải có những hành động cụ thể để phản đối cơ quan công an quận Hoàn kiếm. Những việc có thể phải làm là:

1/ Gửi đơn khiếu nại lên các cấp có thẩm quyền: Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng chính phủ, Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2/ Thông tin đến tất cả các Đại sứ quán tại Hà Nội.
3/ Thông tin đến các cơ quan truyền thông trong nước và Quốc tế tại Hà Nội và các cơ quan Thông tấn báo chí trên thế giới.
4/ Thông tin đến các cơ quan Nhân quyền Liên hợp Quốc.
5/ Về phía gia đình: Sẵn sàng cho phương án căng băng rôn khẩu hiệu đòi trả tự do lập tức cho ông Trương Văn Dũng ngay tại cổng cơ quan công an Hoàn Kiếm (sau khi thông báo cho các cơ quan thông tấn trong ngoài nước đến chứng kiến)
6/ Chuẩn bị xăng (đủ dùng) buộc vào người để sẵn sàng tự thiêu phản đối nếu bị đàn áp. (Đã đến lúc cần có sự hy sinh cao nhất để gây tiếng vang nhằm thức tỉnh sự quan tâm hơn nữa của cộng đồng đến vấn đề nhân quyền tại Hà nội nói riêng và Việt nam nói chung)

Ảnh DLB: Lúc 13 giờ trưa ngày 22/3/2014, nhà hoạt động Trương Văn Dũng đã bị 4 viên công an thường phục dùng tuýp sắt đánh trọng thương gần khu vực cây xăng Nam Đồng (góc đường Hồ Đắc Di và Nguyễn Lương Bằng, quận Đống Đa, Hà Nội).

VOA Tiếng Việt, RFI Tiếng Việt Đại Sứ Quán Mĩ, Đại sứ quán Canada tại Việt Nam Thomas Trung Viet Ha Rfa Angelina Trang Huỳnh Nguyễn Tường ThụyThao Teresa Ha Thanh Lan Le Mai Thanh Huynh Ngoc Chenh Chú TễuSông Quêe1e30-1dlb

Cách đây 40 năm, VNDCCH đã xâm lược và thôn tính một quốc gia có chủ quyền là VNCH.

10 Avr

Cách đây 40 năm, VNDCCH đã xâm lược và thôn tính một quốc gia có chủ quyền là VNCH.

 Phần 1: Cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ từ Vua Thành Thái được VNCH chọn là lá quốc kỳ.

Vua Thành Thái tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Lân (阮福寶嶙), còn có tên là Nguyễn Phúc Chiêu (阮福昭). Ông là con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Từ Minh Hoàng hậu (Phan Thị Điểu), sinh ngày 22 tháng 2 năm Kỷ Mão, tức 14 tháng 3 năm 1879 tại Huế.

Ngày 2 tháng 2 năm 1889 Bửu Lân lên ngôi lấy hiệu là Thành Thái. Vua Thành Thái được đánh giá là người cầu tiến, yêu nước và chống Pháp. Khác với những vị vua trước đây, ông học chữ Nho, học tiếng Pháp và cũng cho cả con cái của mình cùng theo học chữ Pháp. Không nói ra, nhưng rõ ràng ý định của ông là học chữ Pháp để có thể giao tiếp với những người này với tinh thần chống Pháp.

Vua Thành Thái rất thích đọc những tân thư chữ Hán của Trung Quốc và Nhật Bản. Nhờ đó vua có tinh thần tự cường dân tộc và đầu óc cải cách. Vua Thành Thái làm thơ không nhiều, nhưng có những bài xuất sắc.

Vua Thành Thái dần dần bộc lộ tinh thần dân tộc rất cao. Ông khinh ghét những bọn quan lại xu phụ. Có ý kiến cho rằng ông đã đồng tình giúp đỡ… tạo điều kiện cho Cường Để xuất dương theo Phan Bội Châu sang Nhật.

Dưới triều Thành Thái tuy vẫn còn có những cuộc vận động chống Pháp, nhưng nhìn chung Việt Nam cũng đã đi vào ổn định, nên đã có nhiều công trình mới được xây dựng. Nhất là ở kinh đô Huế, các bệnh viện, trường Quốc học, chợ Đông Ba, cầu Tràng Tiền… đều được xây dựng vào thời kỳ này. Như trường hợp trường Quốc học Huế năm 1896, chính nhà vua đã gợi ý vấn đề thành lập.

Trước các ý tưởng cấp tiến của vua Thành Thái, người Pháp lo ngại tìm cách ngăn trở. Để che mắt, Thành Thái giả hành động như một người mất trí. Khi các bản vẽ vũ khí của ông bị phát hiện, Thành Thái giả điên, cào cấu các bà cung phi và xé nát các bản vẽ. Lợi dụng cơ hội này, người Pháp vu cho ông bị điên, ép ông thoái vị, nhường ngôi cho con vì lý do sức khỏe. Khâm sứ Pháp còn nói thẳng là đã biết ông có ý đồ chống Pháp, nên không để ông ở ngôi được. Còn nếu Thành Thái muốn tại vị thì ông phải ký vào một tờ giấy xin lỗi, tuyên bố với quốc dân là có âm mưu chống lại nước Pháp, nay phải thành thực hồi tâm. Nhưng ông đã ném tờ tuyên cáo thảo sẵn ấy xuống đất, từ chối.

Ngày 12 tháng 9 năm 1907, Thành Thái bị đưa đi quản thúc ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu ngày nay). Đến nǎm 1916 ông đày ra đảo Réunion cùng với con trai là vua Duy Tân.

Vua Duy Tân (chữ Hán: 維新; 19 tháng 9, 1900 – 26 tháng 12, 1945) là vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Nguyễn (ở ngôi từ 1907 tới 1916), sau vua Thành Thái.

Khi vua cha bị thực dân Pháp lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên, ông dần dần khẳng định thái độ bất hợp tác với Pháp. Năm 1916, lúc ở Âu châu có cuộc Đại chiến, ông bí mật liên lạc với các lãnh tụ Việt Nam Quang Phục Hội như Thái Phiên, Trần Cao Vân, ông dự định khởi nghĩa. Dự định thất bại và Duy Tân bị bắt ngày ngày 6 tháng 5 và đến ngày 3 tháng 11 năm 1916 ông bị đem an trí trên đảo Réunion ở Ấn Độ Dương.

Việt Nam Quang Phục Hội được Phan Bội Châu thành lập từ 1912. Biết được vua Duy Tân là người yêu nước chống Pháp nên Việt Nam Quang Phục Hội quyết định móc nối. Hai lãnh đạo của hội là Trần Cao Vân và Thái Phiên bỏ tiền vận động người tài xế riêng của vua Duy Tân xin thôi việc. Thay vào đó là Phạm Hữu Khánh, một thành viên của hội.

Đêm 2 tháng 5, Trần Cao Vân và Thái Phiên đưa thuyền đến bến Thương Bạc đón vua Duy Tân. Nhà vua cải trang theo lối thường dân đi cùng hai người hộ vệ là Tôn Thái Đề và Nguyễn Quang Siêu. Họ tới làng Hà Trung, lên nhà một hội viên Việt Nam Quang Phục hội để chờ giờ phát lệnh bằng súng thần công ở Huế. Nhưng chờ đến ba giờ sáng vẫn không nghe hiệu lệnh, biết đã thất bại, Trần Cao Vân và Thái Phiên định đưa vua Duy Tân tới vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi. Sáng ngày 6 tháng 5 năm 1916, họ bị bắt.
Khâm sứ tại Huế và Toàn quyền thuyết phục vua Duy Tân trở lại ngai vàng nhưng ông không đồng ý:

“Các ngài muốn bắt buộc tôi phải làm vua nước Nam, thì hãy coi tôi như là một ông vua đã trưởng thành và có quyền tự do hành động, nhất là quyền tự do trao đổi tin tức và ý kiến với chính phủ Pháp. »

Ngày 28 tháng 3 năm 1987, hài cốt của vua Duy Tân được gia đình đưa từ M’Baiki, Trung Phi về Paris làm lễ cầu siêu tại Viện Quốc tế Phật học Vincennes và sau đó đưa về an táng tại An Lăng, Huế, cạnh nơi an nghỉ của vua cha Thành Thái, vào ngày 6 tháng 4 năm 1987.

Ngày 5 tháng 12 năm 1992, thành phố Saint-Denis đảo La Réunion khánh thành một đại lộ mang tên ông: Đại lộ Vĩnh San.

Hà Nội có đường Duy Tân và đường Thành Thái ở phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy.

Sài Gòn có đường Thành Thái ở phường 12, quận 10 và đường Duy Tân ở phường 15 quận Phú Nhuận.

Vì yêu nước chống Pháp mà cả hai vua Thành Thái và Duy Tân bị truất ngôi và bị đi đày. Không một người nào kể cả chính quyền cộng sản cũng không thể bôi nhọ hai người cho dù họ muốn. Tại sao họ muốn điều đó, vì họ sợ một lá cờ biểu tượng của hai vị vua, lá cờ vàng ba sọc đỏ, một lá cờ của cả dân tộc, một lá cờ của lòng yêu nước chống ngoại xâm. Cộng sản sẽ mừng lắm, nếu như lá cờ đó của vua Bảo Đại chẳng hạn.

Về ý nghĩa của lá cờ vàng ba sọc đỏ, theo giáo sư Nguyễn Ngọc Huy thì:

“ …quan niệm cổ của dân tộc Việt Nam, màu vàng thuộc hành thổ và màu đỏ thuộc hành hỏa và vì hỏa sanh thổ nên hai màu này rất hợp với nhau. …, ba sọc đỏ nhỏ như những tia nắng rọi xuống một mặt đất rộng rãi làm cho mặt đất này ấm áp và có điều kiện thuận lợi cho cây cỏ mọc lên được”. “…nền vàng tượng trưng cho quốc gia và dân tộc Việt Nam nói chung và ba sọc đỏ tượng trưng cho ba kỳ. Vậy, ba sọc đỏ nằm trên nền vàng hàm ý là nước Việt Nam gồm cả ba kỳ và dân tộc Việt Nam gồm người của cả ba kỳ. »

Ngược với lá cờ đỏ sao vàng được mang từ nước ngoài, từ một chủ nghĩa ngoại lai thì lá cờ vàng được sinh ra tại Việt Nam với đầy đủ bản tính dân tộc, thống nhất và độc lập. Hai vị vua cũng sẵn sàng từ bỏ ngai vàng để đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập cùng lá cờ.

Không thể hủy diệt danh tiếng của hai vị vua, cộng sản tìm mọi cách xóa đi dấu vết của lá cờ vàng. Chẳng những chương trình giáo dục không nói đến lịch sử lá cờ vàng ba sọc đỏ, mà cộng sản tuyên truyền rằng lá cờ chỉ là của VNCH và còn tìm mọi cách xóa dấu vết lai lịch của nó trên cả internet.

Cờ vàng ba sọc đỏ đã bay phấp phới trước của Toàn quyền ở Hà Nội năm 1953, khi mà VNCH chưa ra đời và Việt Minh vẫn còn ở trên rừng.

Trên trang wiki « Quốc kỳ Việt Nam », giai đoạn Liên Bang Đông Dương 1883-1945 đáng ra có 3 lá cờ của triều đình Việt Nam là Đại Nam kỳ (1885 – 1890), Cờ vàng ba sọc đỏ (1890-1920) và Long tinh kỳ (1920 – 1945) cùng những lời giới thiệu các vua đương thời, nhưng chỉ có hai lá cờ Đại Nam Kỳ và Long Tinh Kỳ hiển thị và không có một chữ nào nói về hai vua Thành Thái và Duy Tân. Trang này bị cộng sản lũng đoạn và khóa lại, không ai có thể sửa đổi bổ sung hai vị vua và lá cờ vàng ba sọc đỏ. Một bằng chứng của sự bóp méo lịch sử và thủ đoạn lừa dối dân tộc cũng như có thái độ coi thường hai vị vua yêu nước Thành Thái và Duy Tân.

Chỉ có những kẻ bán nước mới lo sợ một lá cờ yêu nước, một lá cờ của dân tộc, một lá cờ của người Việt Nam.

Cách đây không lâu, cũng trang này, nhưng phần tiếng Anh còn nguyên các lá cờ trong một bảng (như của Scots), nhưng khi có tố cáo bên tiếng Việt bỏ cờ vàng của hai vị vua và bằng chứng nằm ở bên tiếng Anh, thì cộng sản đã vào trang tiếng Anh tháo những lá cờ đó xuống.

Vì vậy trong bài này có copy tất cả các trang tiếng khác có nói rõ cờ vàng ba sọc đỏ là cờ từ thời hai vị vua Thành Thái và Duy Tân phòng khi cộng sản tìm cách sửa chúng, bóp méo sự thực. Ngay cả trang tiếng Việt cũng được copy lại làm bằng chứng cộng sản giấu nhẹm cờ vàng ba sọc đỏ và hai vị vua trong giai đoạn 1890-1920.

Chiếm VNCH bằng vũ lực, nhưng không chiếm được lòng dân, nên cộng sản sợ lá cờ vàng. Cộng hoà Liên bang Đức thống nhất với Cộng hoà Dân chủ Đức bằng con đường hoà bình qua bầu cử và trưng cầu ý dân, nên không một giọt máu bị đổ. Cờ của Cộng hoà Dân chủ Đức vẫn được những người yêu thích trưng bày như họ muốn. Ví dụ hình chiếc xe Trabant, biểu tượng của ngành xe hơi Đông Đức với quốc kỳ Đông Đức vẫn chạy ngay trên đường phố Tây Berlin hơn 10 năm sau ngày thống nhất. Nhà xuất bản Neues Deutschland của đảng SED cầm quyền Đông Đức (tương đương với tờ Nhân Dân của đảng cộng sản Việt Nam) vẫn tồn tại. (những hình cuối cùng).

Các hình kèm theo : vua Thành Thái, vua Duy Tân, trang mạng cờ vàng : worldstatesmen, belarus, catalan, Trung Quốc, scots 1-2, Anh, Pháp, Nhật, Nga, Sloven, Thái 1-2, Ukrain, …, , và riêng trang tiếng Việt thì cờ vàng ba sọc đỏ của hai vua bị đục bỏ, cũng như không một lời nào về hai vị.

Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.

 

Phần 2: cờ đỏ sao vàng và nguồn gốc của nó

Theo những gì ghi trên wiki (http://vi.wikipedia.org/wiki/Quốc_kỳ_Việt_Nam) thì : nguyên mẫu của quốc kỳ Việt Nam hiện nay được ghi nhận xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23 tháng 11 năm 1940. Tuy nhiên, dù đã tồn tại hơn 70 năm nhưng tác giả của lá cờ vẫn không được xác định một cách chính xác.

Có hai giả thuyết được đưa ra :

– Từ năm 1976, theo tìm hiểu của nhà văn Sơn Tùng, lá cờ này đã được dùng lần đầu tiên trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940 và tác giả là ông Nguyễn Hữu Tiến, lúc đó thường được gọi là « ông Hai Bắc Kỳ »

Tuy nhiên, trong công văn số 1393/VHTT-BTCM do Thứ trưởng Bộ Văn hóa – thông tin Lưu Trần Tiêu ký ngày 18 tháng 4 năm 2001 có ghi: « Tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh đều không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc »

– Quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy mẫu từ hiệu kỳ Cờ đỏ sao vàng (hay còn gọi là cờ sao mai) của Mặt trận Việt Minh ở Bắc kỳ từ trước tháng 8 năm 1945. Theo Võ Nguyên Giáp, hiệu kỳ này do Hồ Chí Minh mang về từ nước ngoài và được chính thức treo lần đầu tiên vào ngày « 19/5/1941, lá cờ được treo giữa hang Pắc Bó, khai mạc Hội nghị thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội »[4]. Vào năm 1944, Văn Cao sáng tác Tiến quân ca, tuy trong ca khúc có những câu như « …Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,… Sao vàng phấp phới… » nhưng lúc đó ông cũng chưa thấy lá cờ mà chỉ tưởng tượng ra.

Trong hai khả năng trên, thì đảng CSVN đã không công nhận giả thuyết thứ nhất. Chỉ còn giả thuyết thứ hai là cờ đỏ sao vàng được Hồ Chí Minh mang từ nước ngoài về. Nước ngoài, ở đây được hiểu là Trung Quốc, vì Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở Trung Quốc cho đến khi quay về Việt Nam. Mà ông ta cũng chỉ ở lại Việt Nam không lâu rồi lại sang Trung Quốc. Chỉ sau 08/1945 thì Hồ Chí Minh mới ở lại Việt Nam thường xuyên.

Lá cờ là chuyện quan trọng, vậy mà tại sao nó lại không được xác định cho đến tận những năm 80, khi có người đặt vấn đề. Chắc hẳn, những người cộng sản quen thói áp đặt lên người dân những gì mà họ nghĩ ra hay mang từ ngoại quốc về, theo kiểu dân chủ của họ, nên qua bằng đó năm họ mới phải đứng trước vấn đề « đẽo chân cho vừa giày » đối với lá cờ đỏ.

Cũng nên biết, vào những năm 80 thì những người cộng sản có chức vụ lớn trong giai đoạn Nam Kỳ khởi nghĩa đều còn sống như Trường Chinh (Xứ Ủy viên Bắc Kỳ 36-39, Tổng bí thư 41), Lê Duẩn (Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Ban thường vụ Trung ương Đảng), Võ Nguyên Giáp (Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ, dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long 39-40) … Không nhẽ những người này, chẳng phải mù chữ, cũng không biết gì về cờ đỏ sao vàng trong Nam Kỳ khởi nghĩa hay sao. Chỉ có thể giải thích được là lá cờ này không tồn tại lúc đó. Cờ búa liềm thì có, vì theo cờ của Liên Xô, mà Trần Phú, Lê Hồng Phong, …, đã có cơ hội được biết.

Cho đến khi bị hỏi, những người cộng sản mới bắt đầu tưởng tượng, nền đỏ là máu, ngôi sao năm cánh cho « sĩ, nông, công, binh, thương ». Nhưng giả thiết này không thể đứng vững.

Tại sao, những người cộng sản lại phải quanh co kiếm cách giải thích để tránh bị tố cáo lá cờ của họ do thế lực ngoại bang (Trung Quốc) giao cho Hồ Chí Minh mang về áp đặt lên đất Việt. Vì lúc này, trên mạng người ta phát hiện ra lá cờ đỏ sao vàng đó là phiên bản của cờ cộng sản Phúc Kiến (1933-1934). Có thể không hoàn toàn 100% nhưng cũng không xa. Cũng là nền đỏ, cũng sao vàng có cánh dày. Mãi đến 1955, CSVN mới đổi lá cờ lại cho cánh của nó thanh hơn, không loại trừ để xóa giấu vết nguồn gốc Phúc Kiến.

Giả thuyết lá cờ đỏ xuất phát từ cộng sản Trung Quốc có cơ sở hơn là giả thuyết mà CSVN đưa ra do họ tự nghĩ « sĩ, nông, công, binh, thương ». Bởi vì từ khi đảng CSVN được thành lập, mục tiêu của họ là « trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ », ngay từ phong trào xô viết Nghệ Tĩnh, qua Cải cách ruộng đất cho đến nay. Sĩ phu hay trí thức đều là mục tiêu cần phải diệt mà cộng sản đề ra. Trí thức và cộng sản không bao giờ đi với nhau. Khi con người có trí thức thì người ta sẽ biết cộng sản là kẻ cản sự phát triển của nhân loại. Để tồn tại, cộng sản tiêu diệt trí thức nhằm thực hiệc chính sách ngu dân đăng dễ cai trị họ. Vậy thì hà cớ gì mà cộng sản lại dành một cách sao cho kẻ thù của họ là « trí thức ». Cứ coi Nhân Văn Giai Phẩm thì biết, đến 1954-1956 cộng sản đày đọa cánh sao « sĩ » của sao vàng ra sao. Đến nay, thử hỏi đã có ai thực sự là trí thức được cộng sản tín nhiệm hay còn cộng tác với cộng sản sau khi thấy rõ bản chất cộng sản. Từ Phan Khôi, qua Nguyễn Mạnh Tường đến Trần Đức Thảo, …, bị trù dập đến cuối đời.

Một vấn đề quan trọng khác, « binh » là một trong 5 cánh sao. « Binh » là binh lính, có nghĩa thuộc quân đội chính quy cho dù có thể chỉ có vũ khí đơn sơ. Nếu không thì chỉ cùng lắm như dạng dân quân, du kích, …, tức là dân có vũ khí. Vào thời Nam Kỳ khởi nghĩa, không người Việt nào có khái niệm đến quân đội trong lá cờ, vì làm gì có người lính nào. Ngay cả quân đội Việt Nam cũng chỉ ra đời ngày 22/12/1944, với hơn 30 người. Như vậy, ý niệm quân đội là một trong năm cánh sao chỉ là đẽo chân cho vừa cái giày hợp với lá cờ được mang từ nước ngoài về. Cờ Liên Xô không có sao vàng. Cờ Phúc Kiến thì có và Mao cũng đã có quân đội chính quy : Bát lộ quân. Điều này phải chăng thêm một giải thích Hồ Chí Minh vác cờ của Mao về Việt Nam.

Và cuối cùng « thương » là thương nhân. Có ai nghĩ rằng cộng sản lại đội lên mặt họ « thương nhân » không? Thương nhân bị tiêu diệt trong xã hội cộng sản. Họ bị coi là ăn bám, bóc lột vì không làm ra sản phẩm. Mua bán dưới chế độ XHCN đều qua cửa hàng mậu dịch nhà nước. Ngăn sông cấm chợ, cũng là những biện pháp thủ tiêu thương nhân. Chỉ cuối những năm 80, thương nhân nhỏ mới được phép hành nghề.

Ngoài « công » và « nông », 3 cánh sao mà cộng sản áp đặt là « sĩ », « binh » và « thương » cho một lá cờ tưởng tượng thời Nam Kỳ khởi nghĩa là hoàn toàn vô căn cứ, phản lại chính sách của họ « trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ », vượt qua sự hiểu biết của họ về quân đội vào lúc đó và nói dối lòng căm thù của họ với « thương nhân ».

Từ trên cho thấy, giả thuyết duy nhất chấp nhận được là : năm 1941, Hồ Chí Minh đã mang cờ đỏ sao vàng của Mao về áp đặt lên đầu người Việt.

Dưới đây là các hình : « trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ » năm 1931 (trang Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh) và năm 1954-1956 Cải cách ruộng đất, một lá cờ Trung Quốc với sao vàng cánh dày (như cờ đỏ trước năm 1955, mà không nước nào trên thế giới có), cờ đỏ Việt Nam (1945-1955 cánh dày).

Nếu như có người còn nghi ngờ wiki bị sửa đổi, thì đây là báo Tiền Phong và Tuổi trẻ không phải của lề trái có ghi rõ ràng.

Không ai biết cờ Nam kỳ sao bao nhiêu cánh, nằm ở chỗ nào. Trừ ông Hồ chợt nghĩ ngay ra cách làm sao 5 cánh dày đặt giữa cờ y trang … cờ Phúc Kiến.

Trắng trợn bịa đặt hơn nữa tờ http://infonet.vn/y-nghia-lich-su-cua-quoc-ky-va-quoc-ca-vi… viết :

Bà Nguyễn Thị Xu – Con gái liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến ngậm ngùi: “Khi còn đang hoạt động thì bố tôi vẽ ra mẫu cờ Tổ quốc nên bị bắt tù đầy. Rồi cụ mất lúc tôi hãy còn bé nên không gặp bố lần nào nữa. Ông Văn Cao và ông Sơn Tùng cũng về 1, 2 lần và mang cái ảnh cụ tôi vẽ ra lá cờ Tổ quốc”.

Trong khi công văn số 1393/VHTT-BTCM do Thứ trưởng Bộ Văn hóa – thông tin Lưu Trần Tiêu ký ngày 18-4-2001 khẳng định: “Tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh đều không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc”.

Cờ đỏ sao vàng – bằng chứng dã tâm Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam

Cờ đỏ xuất hiện ở Phúc Kiến năm 1933-1934. Năm 1936, Mao khi còn chưa thắng Tưởng nhưng đã tuyên bố sẽ tiến xuống phía Nam (bán đảo Đông Dương, Thái Lan, …). Năm 1941, Hồ Chí Minh mang lá cờ (giống 100%) Phúc Kiến về Việt Nam.

Vào năm 2002, trang mạng worldstatesmen chấm org là một trang mạng lưu trữ những di tích chi tiết về lịch sử đã đưa ra tiểu sử những lá cờ của Trung Quốc. Một trong những lá cờ Trung Quốc thuộc Tỉnh Phúc Kiến. Lá cờ đại diện cho Chủ Tịch Phúc Kiến có từ năm 1933 – 1934 là cờ mà Hồ Chí Minh đã mang về Việt Nam.

« Chairman of the People’s Government (at Fuzhou) 21 Nov 1933 – 21 Jan 1934 Li Jishen (b. 1884 – d. 1959) »

Sau khi dân mạng tìm thấy được lá cờ của Tỉnh Phúc Kiến thì vấn đề nầy được đưa lên rầm rộ trên các diễn đàn, các blogs cá nhân thì lá cờ này bị rút khỏi trang mạng worldstatesmen nhằm che giấu chứng tích lịch sử nầy.

Lá cờ Tỉnh Phúc Kiến và cũng là cờ đỏ sao vàng được trưng bày trên worldstatesmen được vài tháng sau thì bị biến mất.

Hiện trang http://www.worldstatesmen.org/China.html không còn nhìn thấy lá cờ Phúc Kiến, nhưng nó được lưu lại trong các trang cũ của nó (history)

Một trong những trang cũ đó là trang ngày 10/10/2002:http://web.archive.org/…/htt…//worldstatesmen.org/China.html

Sau khi con bài Lê Hữu Tiến, mà Tuyên giáo và các dự luận viên dựa vào để đi tuyên truyền, bị vạch mặt, thì con bài khác là Lê Quang Sô được thay thế là « tác giả » lá cờ, như Lê Lai cứu chúa cho Hồ Chí Minh.

Nhưng, chẳng còn ai tin vào thông tin của đảng nữa. Phải chăng, cũng vì lá cờ đỏ từ Phúc Kiến sang Việt nam mà Dương Khiết Trì gọi ĐCSVN là đứa con hoang?

Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.

 

Phần 3: Hồ Chí Minh (HCM), biểu tượng của đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) – vượt biên cứu … bản thân

HCM, trong bài này được coi là Nguyễn Sinh Cuông, có một tiểu sử bất minh, ngày sinh cũng như ngày chết bị sửa đi lại nhiều lần, nghĩa là dọc cuộc đời.

Cha HCM là Nguyễn Sinh Sắc, do bị tội ngộ sát mà bị triều đình lột chức quan tri huyện. Ông Sắc say rượu và sai nha lính đánh chết một người tù. Đáng ra ông Sắc bị đánh thêm, nhưng có người xin cho được miễn.

Dù là một chế độ phong kiến và dưới thời Pháp thuộc, nhưng luật được tôn trọng hơn thời XHCN ngày nay đối với quan lại lạm dụng đến trở thành tội phạm.

Lịch sử ĐCSVN bóp méo sự thực và tuyên truyền ông Sắc vì hoạt động cách mạng mà bị sa thải.

Do cha bị sa thải, mà HCM không còn điều kiện để học thêm, nên đã ung dung xuống tàu xin việc để sang Pháp. Chiếc tàu của Pháp kiên cố hàng ngàn lần những thuyền, mủng. Hành động này của HCM chẳng chứng tỏ lòng dũng cảm so với hàng triệu thuyền nhân chạy công an, bị bỏ tù, đút tiền, bị bão gió, bị hải tặc, bị đói khát.

Đặt chân tới Pháp, việc làm « cách mạng » đầu tiên của HCM là xin vào trường Thuộc địa, nơi đào tạo quan lại, ngang Tri huyện cho Việt Nam, tức ngang chức của ông Sắc khi bị đuổi. (2 hình thư kèm)

Đơn xin học của HCM cũng là bằng chứng đầu tiên bất minh tiểu sử. HCM khi xin học, nói sinh 1892. Trong khi đó : năm 1920, HCM khai với một quận cảnh sát tại Paris ngày sinh của mình là 15 tháng 1 năm 1894 và theo một tài liệu do Phòng nhì Pháp lập năm 1931, có sự xác nhận của một số nhân chứng làng Kim Liên, quê nội của HCM, thì HCM sinh tháng 4 năm 1894.

Nhiều tài liệu, nói HCM học trường College, nhưng chưa học Thành chung. Có nghĩa là phải thêm một năm nữa mới hết cấp II. College tiếng Pháp là cấp II, chứ không phải là trường Đại học theo hệ Mỹ là điều mà DLV quảng cáo.

Việc làm « cách mạng » tiếp theo của HCM là gửi thư từ Mỹ về Việt Nam xin phục hồi chức và trợ cấp (welfare) cho cha. (hình thư kèm)

http://www.bbc.co.uk/…/print…/030902_hcm_missing_years.shtml

BBC:Cuốn sách của bà mở đầu bằng hội nghị hòa bình tại Paris năm 1919 khi lần đầu tiên ông Hồ Chí Minh – mà lúc này có tên Nguyễn Ái Quốc – được nhiều người biết tới. Vậy trước giai đoạn này chúng ta có biết gì nhiều về hoạt động của ông, đặc biệt là việc người cha của ông có ảnh hưởng thế nào đến ông không?

Sophie Quinn-Judge (đại học LSE, London, tác giả « Hochiminh: The missing years ») : Cha của ông Hồ là một nhân vật rất đáng chú ý và tôi hi vọng sẽ có thêm tài liệu nghiên cứu tiếng Việt để hiểu rõ hơn thân thế của người này. Nhưng rõ ràng là việc người cha bị thất sủng, không còn là quan cấp tỉnh trong chế độ Pháp đã có tác động đến cuộc sống ông Hồ.

Bởi sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị miễn nhiệm tại tỉnh Bình Định, con ông Nguyễn Tất Thành buộc phải thôi học ở trường Quốc học Huế và trở thành thầy giáo tại Phan Thiết. Rồi ông vào Nam và như mọi người đều biết, ông đi Pháp năm 1911.

Nếu cha ông vẫn còn tại chức, thì có lẽ người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã tiếp tục đi học ở Huế và sự nghiệp chống thực dân của ông có thể đã ngả sang một hướng khác. Chúng ta không biết chắc, nhưng những hoàn cảnh bên ngoài đã buộc ông phải ra nước ngoài.

Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.

 

Phần 4: Hồ Chí Minh (HCM), biểu tượng của đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) – người cướp công của cả nhóm Nguyễn Ái Quốc.

Lịch sử do ĐCSVN cùng với cuốn sách tự thêu dệt và tự ca ngợi mình của HCM dưới bút danh Trần Dân Tiên « Những Mẩu Chuyện Về Cuộc Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch », luôn viết rằng dân Việt ngỡ ngàng khi biết HCM là Nguyễn Ái Quốc lừng danh.

Nhưng, cho đến nay vẫn còn rất nhiều người không biết, Nguyễn Ái Quốc là một nhóm 5 người, gồm 4 vị có tên tuổi với trình độ hơn người và Nguyễn Tất Thành.

Từ Thuỵ Khuê trên đài phát thanh quốc tế của Pháp: http://vi.rfi.fr/…/20100905-phan-xv-phan-khoi-chuong-1a-nh…/

Hội Người An Nam Yêu Nước ra đời (khoảng 1916). Một bút hiệu mới xuất hiện: Nguyễn Ái Quấc, tên chung của Nhóm Ngũ Long (Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Tất Thành). Ngòi bút Nguyễn Ái Quấc hoạt động mạnh từ giữa năm 1919 đến 1923, trên các báo tại Paris, đặc biệt trên tờ Le Paria từ 1922 đến 1925.

1 – Phan Châu Trinh(1872-1926)

Phan Châu Trinh sinh ngày 9/9/1872, tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Cha là Phan Văn Bình, một võ quan ở biên giới vùng núi. Thiếu thời, Phan theo cha học võ và tham dự phong trào Cần Vương. Năm 1887, cha bị lãnh đạo nghi ngờ và xử tử. Phan được anh cả là Phan Văn Cừ trông nom, trở về đi học. Đậu cử nhân năm 1900, phó bảng năm 1901. Bạn học cùng khoá với Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Đình Hiến, Ngô Đức Kế, Nguyễn Sinh Huy (cha của Nguyễn Tất Thành). Tất cả đều đỗ đạt cao. Năm 1903, Phan được bổ Thừa biện Bộ Lễ. Nhưng ông chỉ làm việc hơn một năm rồi xin từ chức.

2 – Phan Văn Trường (1878- 1933)

Phan Văn Trường là nhà trí thức có công xây dựng nền móng đầu tiên của phong trào Việt kiều yêu nước tại Pháp. Nhưng công lao của ông hầu như ít ai biết đến. Ông lại mất từ năm 1933, cho nên sau này, mọi việc ông làm được gán cho Hồ Chí Minh, mà hầu như không có ai phản biện.
Phan Văn Trường sinh năm 1878 tại làng Đông Ngạc, tỉnh Hà Đông. Học trường dòng, rồi trường thông ngôn. Làm thông ngôn cho Toà Sứ. 1908, đậu ngạch tham tá, biệt phái sang Paris làm giáo sư phụ giảng tiếng Việt (Répétiteur d’Annamite) tại trường Ngôn ngữ Đông phương (Ecole des Langues Orientales) và học Luật. 1912, xong cử nhân, ông ghi tên vào luật sư đoàn, tập sự tại toà Thượng Thẩm Paris.

1912, ông lập hội Đồng bào Thân ái, cơ sở đầu tiên của người Việt yêu nước tại Paris.

3 – Nguyễn Thế Truyền (1898-1969)

Nguyễn Thế Truyền sinh ngày 17/12/1898 tại làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng. Cha là Nguyễn Duy Nhạc. Ông là Nguyễn Duy Hàn, tuần phủ Thái Bình, bị hạ sát ngày 12/4/1913, vì bom của Phan Văn Tráng, trong Quang Phục Hội (Phan Bội Châu). Năm 1910, Truyền 12 tuổi, được phó công sứ Thái Bình Dupuy đem về Pháp du học. Vào nội trú trường Parangon (Joinville le Pont, ngoại ô Paris) trực thuộc Alliances françaises do André Salles, cựu thanh tra thuộc địa làm giám đốc. Theo Phan Văn Trường, trường Parangon có mục đích đào tạo những trẻ em thuộc địa để trở thành những « công dân tốt » trung thành với mẫu quốc. Là học sinh xuất sắc, Nguyễn Thế Truyền liên tiếp được học bổng của Alliances françaises từ 1913 đến 1922. Năm 1915, đậu Brevet Supérieur, về nước một năm, học thêm Hán văn, rồi trở lại Pháp học tiếp kỹ sư hóa học (1916-1920) ở Toulouse. 1920, tốt nghiệp, về nước một năm, học tiếp Hán văn. Tháng 8/1921 trở lại Paris, sửa soạn luận án tiến sĩ, học thêm triết (đậu cử nhân triết năm 1922).

4 – Nguyễn An Ninh (1900-1943)

Nguyễn An Ninh sinh ngày 5/9/1900 tại Chợ lớn. Là con và cháu của hai nhà cách mạng: Cha là Nguyễn An Khương,chú là Nguyễn An Cư, và cô ruột, đều là những nhà cách mạng. Nguyễn An Khương, đại diện Đông Kinh Nghiã Thục, lập khách sạn Chiêu Nam lầu để tài trợ cho phong trào Duy tân và Đông du. Dịch sách chữ Hán sang tiếng Việt. Viết bài trên Nông Cổ Mím-Đàm kêu gọi lòng yêu nước. Nguyễn An Cư, là nhà văn, nhà nho uyên thâm, thày thuốc Nam nổi tiếng. Gia đình gốc ở Quán Tre, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (Sàigòn).

Nguyễn An Ninh tiếp nhận hai nền giáo dục từ nhỏ: Hán học, do cha và cô ruột dạy và Pháp văn: học trường Sở Cọp (ngang vườn bách thú), rồi trường dòng Taberd, và lycée Chasseloup Laubat. Làm báo tiếng Pháp rất sớm khi vừa xong bằng Brevet Élémentaire (Sơ học). Nổi tiếng bất khuất, chửi Tây, đánh Tây. Thủa nhỏ có tật nói cà lăm, nhưng tự luyện khỏi cà lăm. Khi ở Paris, ngày nghỉ thường ra ngoại ô, vào rừng luyện giọng hàng giờ, sau trở thành nhà diễn thuyết hùng hồn, lôi cuốn. Năm 1916, ra Hà Nội học trường thuốc, sáu tháng sau bỏ thuốc qua Luật. Không đầy một năm sau, Ninh về Sàigòn rồi sang Pháp học tiếp Luật. Đó là năm 1918 (theo Phương Lan-Bùi Thế Mỹ, Hồ Hữu Tường và Lê Văn Thử). « Ninh sang Pháp du học vào năm 1918, lúc Đức Quốc đã thua trận. Đến năm 1920, đã đoạt được bằng Cử Nhân Luật, vào lúc mới 20 tuổi » (Phương Lan- Bùi Thế Mỹ, trang 11)

Đêm 15/10/1923, Nguyễn An Ninh diễn thuyết ở hội Khuyến học Sàigòn, bài Cao Vọng Thanh niên, có tiếng vang lớn, Thống đốc Nam Kỳ gọi Ninh lên cảnh cáo.

Ngày 10/12/1923, phát hành số 1, báo La Cloche fêlée (Chuông rè) do Nguyễn An Ninh sáng lập, Jean de la Bâtie (Lê Văn Thử ghi Dejean de la Bâtie), làm chủ nhiệm. Bâtie sẽ là thày dạy tiếng Pháp cho Phan Khôi. Việc Phan Khôi bị mật thám theo dõi phải lánh xuống Cà Mau ba năm trong khoảng thời gian này, chắc có liên quan tới báo Chuông rè.

Nguyễn An Ninh còn là người anh cả nếu không muốn nói là cha đẻ của phong trào cách mạng thanh niên, chủ yếu nhóm Trốt-kít, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Huỳnh Văn Phương… những thanh niên học trường Tây, sử dụng ngôn ngữ Voltaire, dùng tinh thần cách mạng 1789 để chống thực dân Pháp tại Pháp và tại Nam Kỳ, trong suốt 25 năm, từ 1920 đến 1945.

5 – Nguyễn Tất Thành (1890-1969)

Khác hẳn với các nhà cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, là có chủ đích rõ ràng. Chủ đích đó không phục vụ sự thật, như Phan Bội Châu viết Ngục Trung Thư hay Tự Phán: thật như đếm, sai lầm của mình cũng viết, ý kiến nào do Nguyễn Thành hay Lương Khải Siêu nghĩ ra cũng nói rõ.

Hồ Chí Minh không ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của ông. Đó là sự cách biệt sâu xa về nhân cách giữa hai nhà cách mạng. Lời Phan Khôi dặn con: « Khi con gái của Mác hỏi cha thích tính gì nhất? Mác đã trả lời: tính thật thà! » (Phan Thị Thái, Nhớ cha tôi học giả Phan Khôi, Kiến thức ngày nay, tháng 12/1996), là một chúc thư mà cũng là một lời cảnh cáo Hồ Chí Minh về toàn diện lịch sử mờ ám của ông.

————

Lời bàn:

Nguyễn Tất Thành sang Pháp ở đậu nhà luật sư Phan Văn Trường, được Phó bảng Phan Chu Trinh dạy nghề việc chân tay, được bác sĩ Nguyễn Thế Truyền giúp đỡ và gửi sang Liên Xô và được cả nhà báo Nguyễn An Ninh dạy tiếng Pháp.

Toàn bộ các tác phẩm nổi tiếng bằng tiếng Pháp của nhóm Nguyễn Ái Quốc đều được cho là do Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền viết.

Việc Nguyễn Tất Thành được cử đi giao « Thỉnh nguyện thư 8 điểm », như một người đi phân phát báo của một Toà soạn, mà nhận hết kết quả của cà Ban biên tập, thì còn trên cơ hàng ngàn lần những kẻ đạo văn cho cả quyển.

Khi đi giao « Thỉnh nguyện thư 8 điểm », chưa hẳn Nguyễn Tất Thành đã hiểu hết nội dung của nó:

1- Ân xá toàn thể chính trị phạm Việt Nam.

2- Cải cách nền pháp lý Đông Dương, cho người Việt Nam cũng được bảo đảm về mặt pháp lý như người Âu, bỏ hẳn Tòa án đặc biệt, công cụ để khủng bố những người Việt Nam lương thiện nhất.

3- Tự do báo chí và tự do tư tưởng.

4- Tự do lập hội và tự do hội họp.

5- Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do ra nước ngoài.

6- Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh.

7- Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp.

8- Phải có đại biểu thường trực người Việt Nam do người bản xứ bầu ra, ở bên cạnh Nghị viện Pháp để trình bày nguyện vọng của người bản xứ”.

Bởi vì sau khi cướp được chính quyền từ Chính phủ Trần Trọng Kim, ĐCSVN dưới quyền HCM trong 24 năm đến 1969 và với những kẻ khác cho đến nay, không có một điểm nào trong 8 điểm trên được thoả mãn. Thậm trí chế độ XHCN còn tệ hại hơn rất nhiều so với chế độ phong kiến thuộc địa thực dân.

Ví dụ, báo chí tư nhân, tự do ứng cử và tự do mít tinh, biểu tình:

Nguyễn An Ninh cho ra tờ báo Pháp văn La cloche fêlée (Tiếng chuông rè, có người dịch Tiếng chuông rạn) ở Sài Gòn để công kích chính sách thực dân Pháp, đề cao các nhà cách mạng, làm cho người đọc tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc và truyền bá những tư tưởng tự do (số đầu tiên ra ngày 10 tháng 12 năm 1923)

Cuối năm 1925, sau khi Luật sư Phan Văn Trường (1875-1933) về nước, cho khôi phục lại Tiếng chuông rè, có ông Ninh cộng tác. Từ đây, khuynh hướng của tờ báo chống thực dân theo quan điểm chủ nghĩa Marx-Lenin rõ rệt.

Năm 1931, Nguyễn An Ninh viết cho tờ Trung Lập của Nguyễn Văn Tạo (1908-1970), cho tờ Tranh đấu của nhóm Tạ Thu Thâu (1906-1946), Trần Văn Thạch (1905-1946), Phan Văn Hùm (1902-1946).

Năm 1939, ông Ninh viết cho báo Dân Chúng, góp phần tổ chức nhiều cuộc biểu tình đòi các quyền tự do dân chủ, ra ứng cử vào Hội đồng Quản hạt (Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ).

Ngày 4/4/1926, lễ quốc tang nhà chí sĩ Phan Chu Trinh trở thành cuộc vận động xuống đường vĩ đại với 60,000 – 100,000 người dân Sài Gòn tham dự (năm 1945, thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn có dân số là 500.000). Báo chí tư nhân đưa tin và bình luận, mà chính quyền phong kiến cũng như thuộc địa không làm bất cứ gì để cản trở. Ngược lại, lễ tang của Trần Độ hay Hoàng Minh Chính cho đến Bùi Ngọc Tấn, bị chính quyền, tự vỗ ngực là của dân, phá tan nát.

Phần 5: Chính phủ Trần Trọng Kim với một nước Việt Nam độc lập toàn vẹn lãnh thổ

Cộng sản đã tuyên bố cướp chính quyền năm 1945. Điều đó có nghĩa là Việt nam khi đó có một chính quyền thực sự rồi bị cộng sản cướp. Chứ không có tình trạng vô Chính phủ. Để có tiếng chính danh, cộng sản không ngừng bôi nhọ Chính phủ Trần Trọng Kim, nào là bù nhìn của Nhật, nào là không làm gì cho dân cho nước.

Ngày nay, thế hệ trẻ cũng bị nhồi sọ mà cho rằng Chính phủ Trần Trọng Kim hoặc không tồn tại, hoặc không đáng tồn tại mà phải để chỗ cho cộng sản.

Nhưng, lịch sử thì không thể bị bóp méo. Một trong những bằng chứng về những gì Chính phủ Trần Trọng Kim đã làm lại từ chính tờ báo của chính quyền cộng sản đăng lên. Đó là tờ Văn hóa Nghệ An:http://vanhoanghean.com.vn/…/hue-nam-1945-va-chinh-phu-tran…*

…Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong một hoàn cảnh rất tình cờ của lịch sử, không do kết quả tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một đảng phái hay một phong trào chính trị nào. Sau gần một thế kỉ bị Pháp đô hộ, lần đầu tiên nước Việt Nam được độc lập(dù mới chỉ một phần) mà không phải hi sinh xương máu.

Việt Nam được độc lập (dù mới chỉ một phần) mà không phải hi sinh xương máu. Đó là một tình thế lý tưởng, còn hơn cả Ấn Độ tuy cũng không hi sinh sương máu nhưng phải 2 năm sau đó, 1947.

Cộng sản đã thí bao nhiêu dân để có được một cái « độc lập » trong vòng tay của quốc tế cộng sản?

Chính phủ Nhật giữ Bảo Đại nhưng không muốn giữ Phạm Quỳnh vì ông là người bị coi là thân Pháp. Thật ra, Phạm Quỳnh là một học giả yêu nước nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hoà, chủ trương rằng Việt Nam thời đó không thể chống nổi Pháp nên cần phải học hỏi văn minh Tây phương qua văn hoá Pháp để dần dần đòi lại quyền tự chủ.

Chính vì là « một học giả, yêu nước nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hoà, chủ trương … dần dần đòi lại quyền tự chủ », mà Phạm Quỳnh đã bị Hồ giết. Đó cũng là số phận của bất cứ ai giỏi hơn Hồ, cho dù yêu nước, thương dân.

… sau ngày Nhật đầu hàng đồng minh, Đại sứ Yokohama thuật lại buổi yết kiến vua Bảo Đại để báo tin việc chính phủ Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và trao trả độc lập cho Việt Nam. Phạm Quỳnh hiện diện trong buổi tiếp kiến này yêu cầu Nhật Bản thừa nhận nền độc lập của Việt Nam một cách chính thức vì Pháp đã bị tước quyền bảo hộ. Ông nhấn mạnh rằng: « Để chúng tôi có thể hợp tác hữu hiệu với Nhật Bản, chúng tôi cần phải có được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân, và để đạt được điều đó, uy tín của chính phủ chúng tôi cần phải được tăng cường bằng một hành động long trọng tuyên cáo độc lập ». Yokohama trả lời rằng việc tuyên cáo độc lập để chứng tỏ chủ quyền là hành động nội bộ mà « Ngài có tự do tuyệt đối để hành động theo sự phán xét của chính phủ ngài ».

Phạm Quỳnh mong muốn có một Việt Nam độc lập và Nhật đã đồng ý. Như vậy không ai có thể lên án Phạm Quỳnh về vấn đề độc lập. Ngoại trừ, cộng sản tìm mọi cớ giết ông ta.

Đoạn dưới đây gói gọn những gì mà cộng sản đã làm để bôi nhọ Chính phủ Trần TRọng Kim:

Chính phủ Trần Trọng Kim thường không được nhắc nhở đến trong lịch sử tranh đấu giành độc lập cho dân tộc, hoặc nếu có thì cũng chỉ được coi như một chính phủ chuyển tiếp trong một thời gian ngắn ngủi không có thành tích gì đáng kể. Việt Minh thì dứt khoát lên án chính phủ Kim là « bù nhìn » do Nhật tạo ra và chỉ đem lại cho Việt Nam một nền « độc lập bánh vẽ ». Nhiều nhà lãnh đạo chính trị và tác giả ngoại quốc cũng đồng ý một cách thiếu thận trọng như thế. Đến nay, hơn nửa thế kỉ đã trôi qua, giai đoạn lịch sử này cần được xem xét lại một cách khách quan về tính chất chính đáng của chính phủ ấy.

Nhật đảo chính Pháp ngày 09/03/1945. Chỉ 2 ngày sau, 11/03/1945, vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập và Hiệp ước Việt – Pháp năm 1884 không còn hiệu lực vì Pháp không còn bảo hộ được cho Việt Nam.

Những lý do mà Việt Nam có thể độc lập mà không tốn xương máu đã thuyết phục Trần Trọng Kim nhận thành lập Chính phủ:

Luật sư Trịnh Đình Thảo, sau này là Chủ tịch của Liên minh Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình (LMDTDCHB) trong hệ thống Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (MTDTGPMN) cho biết Trần Trọng Kim « không tin ở sự thành thật của nhà cầm quyền người Nhật và lo ngại bị lôi cuốn vào những biến cố có hại cho tương lai của xứ sở » nhưng ông Thảo đã thuyết phục được ông Kim nhận lời yêu cầu của Bảo Đại với lý do « phải gấp rút thành lập chính phủ Việt Nam độc lập để đặt các lực lượng đồng minh, nhất là Pháp, trước một tình trạng pháp lý không thể đảo ngược bằng lời tuyên cáo hủy bỏ những hiệp ước Bảo hộ năm 1862 và 1874, tuyên cáo nước Việt Nam độc lập và thống nhất ».

Cộng sản đã làm gì so với Chính phủ Trần Trọng Kim?

1 – gây đổ máu, gây chiến tranh, tiêu diệt những người Việt yêu nước : Quốc dân đảng (vụ Ôn Như Hầu), Tạ Thu Thâu, … Tội lỗi đều do Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp gây nên.

2 – tạo điều kiện cho quân Pháp-Anh và Tưởng vào Việt Nam. Vì nếu Chính phủ Trần Trọng Kim còn tồn tại, thì nối tiếp của Bảo Đại có danh chính ngôn thuận và các Hiệp ước với Pháp cũng bị vô hiệu hóa.

3 – chia cắt đất nước, rồi rước Pháp từ Nam ra Bắc và lại xin vào Liên hiệp Pháp theo Hiệp ước sơ bộ Fontainebleau 06/03/1946.

Hãy coi Chính phủ Trần Trọng Kim mà cộng sản gọi là Chính phủ bù nhìn đã làm những gì:

Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong những điều kiện khó khăn về chính trị, an ninh và kinh tế như vậy. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Nội các, bên cạnh công tác khẩn cấp cứu trợ nạn đói ở miền Bắc đã làm ngót hai triệu người thiệt mạng, chính phủ Trần Trọng Kim đã ấn định một chương trình sáu điểm:

1. Chuyển giao tất cả các cơ sở hành chính cho các viên chức Việt Nam.

2. Thâu hồi đất Nam Kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp.

3. Ân xá toàn thể các phạm nhân chính trị.

4. Cho phép thành lập các đảng phái chính trị.

5. Miễn thuế cho công chức, thợ thuyền và dân nghèo.

6. Thiết lập các Uỷ ban tư vấn quốc gia để soạn thảo Hiến pháp và nghiên cứu cải tổ chính trị, hành chính và giáo dục.

Chỉ trong thời gian bốn tháng (từ 17 – 4 đến 16 – 8), chính phủ Kim đã thực hiện được gần hết chương trình này.

Chính phủ cũng cứu trợ nạn đói mà khẩn cấp nữa, đâu cần gì đến cộng sản.

Theo 2 điều đầu, thì đến 16/08/1945 Việt Nam đã gần như độc lập với đầy đủ các cơ quan hành chánh. Không tốn một viên đạn. Mà từ Móng Cái đến Cà Mau, chứ không chỉ một miền.

Những điều 3 đến 6 mà Chính phủ Trần Trọng Kim làm được khi đó, thì chỉ là mơ ước của người dân Việt hiện nay, tức là 68 năm sau với hàng triệu sinh mạng.

Bước tiến hay thụt lùi? cách mạng hay phản động? Có khó trả lời không?

Những thành quả của Chính phủ Trần Trọng Kim được tóm tắt:

« – Cứu đói: Bộ Tiếp tế do bác sĩ Nguyễn Hữu Thi cầm đầu nỗ lực điều động việc vận tải thóc từ Nam ra Bắc. … nhờ sự thành lập Tổng hội Cứu tế nạn đói để phối hợp hoạt động với những hội chẩn tế và những đoàn thanh niên cứu đói trên toàn quốc … số người chết vì nạn đói … (giảm rất nhiều) »

Vận động toàn quốc cứu đói. Cộng sản làm gì được hơn?

– Chủ quyền: Để biểu hiệu cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ, quốc hiệu « Việt Nam » chính thức thay thế cho quốc hiệu « An Nam » đang được sử dụng…. Ngày 1 – 8, Thủ tướng Kim phải đích thân từ kinh đô Huế ra Hà Nội gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi Yuitsu, không những yêu cầu trả ngay phần còn lại của lãnh thổ mà còn đòi luôn các công sở thuộc về phủ toàn quyền Pháp khi trước. Tất cả những đòi hỏi này đều được Tsuchihashi chấp thuận, và hai bên ấn định ngày trao trả Nam Bộ là 8 – 8 và ngày trao trả các công sở là một tuần sau đó. Cũng trong dịp gặp Tsuchihashi, Trần Trọng Kim đã được Nhật đồng ý chuyển giao lại các binh sĩ Việt Nam, cung cấp 4.000 khẩu súng mới và đạn dược để tổ chức đội quân bảo an.

Lấy lại toàn bộ chủ quyền trên cả nước. Mọi công sở đều thuộc về người Việt. Có tiềm năng quân đội mà Nhật chịu cung cấp vũ khí.Cũng xin nói ở đây. Nhiều người trẻ cho rằng An Nam là tên nước cho đến thời Pháp thuộc và HCM và đảng CSVN mới là kẻ khai sinh ra nước Việt Nam. Thì ở đây, chính Văn hóa Nghệ An của đảng CSVN công nhận, Chính phủ Trần Trọng Kim đã khai sinh ra tên nước Việt Nam.

– Cải tổ: Vốn là một nhà giáo dục, Trần Trọng Kim rất chú trọng đến việc cải tổ hệ thống giáo dục, bắt đầu bằng việc sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy. Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, không những là một nhà khoa học mà còn là một học giả uyên bác, đã hoạch định xây dựng một nền quốc học trên cơ sở dân tộc và tiến bộ, nhưng chưa kịp thi hành trong một nhiệm kỳ quá ngắn ngủi. Hệ thống và chương trình Trung học do ông soạn thảo đã được các chính phủ quốc gia tiếp tục áp dụng với đôi chút sửa đổi trong nhiều năm về sau.

Phổ cập tiếng Việt. Các chương trình giáo dục mà các Chính quyền sau này còn phải làm kim chỉ nam. Chính cộng sản cũng phải công nhận tài năng của Hoàng Xuân Hãn. So với chương trình của mấy người bẻ ghi xe lửa, y tá, hoạn lợn, …, thì một trời một vực.

– Về tư pháp, do đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo, Thủ tướng Kim ký nghị định ân xá ngày 2 – 5 với lệnh « Thả ngay tất cả các tù nhân chính trị » và ngày 8 – 5 thành lập Uỷ ban soạn thảo Hiến pháp trên căn bản thống nhất xứ sở, các quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn. Ngoài ra, miễn hay giảm 13 hạng thuế được thi hành dưới thời Pháp và Nhật.

Không có tù chính trị, tự do tôn giáo, nghiệp đoàn, Hiến pháp dân chủ … Đâu cần phải dân trí cao, cũng làm được cả đó. Tại sao bây giờ lại cấm dân vì cho rằng dân không đủ trình độ tự do tôn giáo, nghiệp đoàn, …?

– Chính trị: Với chủ trương « hợp nhất tất cả các phần tử quốc dân để củng cố độc lập của quốc gia và gây mạnh cái tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội, » …vinh danh các anh hùng dân tộc đã chiến thắng quân xâm lược và những nhà cách mạng đã hi sinh cho Tổ quốc, thay đổi tên đường phố và phá hủy những tượng đài biểu thị nền đô hộ của Pháp…khuyến khích thanh niên sinh viên tham gia các sinh hoạt chính trị, văn hoá, xã hội… Ngoài ra, chính phủ Kim cũng thực hiện tinh thần hoà giải và đoàn kết dân tộc, không phân biệt đảng phái, không chỉ bằng việc thả hết các chính trị phạm và kêu gọi họ hợp tác, mà còn can thiệp với Nhật để các thanh niên bị bắt về tội theo Việt Minh chống Nhật cũng được phóng thích.

Những kết quả trên đây cho thấy nội các Trần Trọng Kim, dù không phải là những chính trị gia có thành tích và kinh nghiệm, song đều là những nhà trí thức nhiệt tình với đất nước, hết lòng phục vụ cho quyền lợi chung của dân tộc, không tham nhũng, không chia rẽ bè phái, không tham quyền cố vị. Trước tình thế rối ren của Cách mạng Tháng Tám, Thủ tướng Kim được quân đội Nhật cho biết họ « còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân đội đồng minh đến thay, » nhưng ông đã từ chối yêu cầu Nhật bảo vệ chính phủ và muốn duy trì trật tự vì muốn tránh đổ máu và rối loạn.

Chính phủ Trần Trọng Kim có những phẩm chất gì? « trí thức nhiệt tình với đất nước, hết lòng phục vụ cho quyền lợi chung của dân tộc, không tham nhũng, không chia rẽ bè phái, không tham quyền cố vị ». Ai trong chính quyền hiện nay có một chút xíu của một trong các phẩm chất đó?

Chính phủ Trần Trọng Kim khuyến khích thanh niên tham gia chính trị, thì ngày nay chính trị là điều cấm kỵ chẳng những với thanh niên mà với mọi người dân. Thay vào đó là những trò nhảm nhí là ru ngủ thanh niên điều mà cộng sản lên án chế độ thuộc địa Pháp.

Chỉ vì lòng nhân ái, tránh đổ máu, mà Chính phủ Trần Trọng Kim đã không nhờ Nhật can thiệp diệt cỏ dại là cộng sản mà để lại hậu quả không thể lường là một Việt Nam rơi vào cảnh nồi da nấu thịt, một xã hội là một nhà tù lớn, một xã hội mà quyền con người chỉ còn là số không. Tóm lại, là một sự thụt lùi hàng trăm năm. Xã hội dưới thời Trần Trọng Kim là một thiên đường của người dân hiện nay.

Kết luận của bài viết trên báo Văn hóa Nghệ An phần nào trả lại cho Trần Trọng Kim những gì thuộc về Trần Trọng Kim và cũng qua đó gián tiếp những gì mà cộng sản đã phá qua kết quả cướp của họ:

Trong thời gian quá ngắn phục vụ đất nước, chính phủ Trần Trọng Kim không mắc phải sai lầm nào đáng bị chỉ trích, trái lại, đã thực hiện được nhiều thành tích đáng kể nhất là việc lấy lại được miền Nam và ba nhượng địa quan trọng ở miền Bắc, hoàn thành được việc thống nhất đất nước như đã nói trên. Tất cả những điều đó cho thấy Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim không phải là « bù nhìn » của Nhật và nền độc lập của Việt Nam, dù chưa hoàn toàn, vẫn là một thực tại chứ không phải « bánh vẽ », nhất là so với những điều kiện của một « quốc gia tự do » và viễn tưởng thống nhất mơ hồ như trong Hiệp định sơ bộ 6 – 3 năm 1946 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh phải ký kết với Cao uỷ Bollaert.

Từ Trần Trọng Kim đến Hồ Chí Minh mới chỉ trong khoảng 1 năm 1945-1946 đã là một sự thụt lùi rõ ràng về chủ quyền và độc lập. Việt nam đã phải trả giá với hàng triệu sinh mạng do các cuộc chiến mà Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, …, gây ra để thây tóm quyền lực và phục vụ quốc tế cộng sản. Gây thù oán với nhiều quốc gia. Sau mấy chục năm, đến nay, sự thụt lùi là toàn diện cho đến bị phá hoàn toàn, từ chính trị, văn hóa, tính dân tộc, đạo đức, giáo dục và đặc biệt là nhân quyền với các tự do chính trị, tôn giáo, ngôn luận, …

Thủ bút của Trần Trọng Kim-Thư gửi Hoàng Xuân Hãn

Thủ bút của Trần Trọng Kim
gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947

Nguyễn Đức Toàn

Viện nghiên cứu Hán Nôm

Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.

Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.

Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt.

Nội dung như sau :

Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 1947(1)

Ông Hãn(2)

Hôm ông Phan văn Giáo(3) đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài(4) xem.

Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.

Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy(5), hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau(6) do ông D’argenlieu(7) sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được(8).

Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây(9), không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền(10) và Khiêm(11), họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa.

Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài(12).

Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.

Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo(13), Hoè(14) và Sâm(15). Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia(16), mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến(17), họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.

Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:

身 在 南 蕃 無 所 預
心 懐 百 憂 復 千 慮

(Thân tại Nam phiên vô sở dự,
Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.
= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,
Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)

Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.

Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁(Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.

Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh(18) bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:

Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ
Đất khách mơ – màng những thở – than,
Mảng tin bác bị lũ hung tàn.
Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,
Căm giận quân thù đã tím gan.

Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.

Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân(19) gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.

Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu(20), xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt(21) đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)(22)

Ông có biết tin ông Bùi Kỷ(23) bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.

Nhà tôi và Chương(24) đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?

Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.
Nay kính thư
Trần Trọng Kim [tr4]

Chú thích :

1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.

2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.

3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.

4. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)

5. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.

6. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)

7. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)

8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167…

9. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”

10. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)

11. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.

12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.

13. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.

14. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)

15. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)

16. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự « khó tính » của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần « Nam kỳ quốc » và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.

17. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)

18. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.

19. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)

20. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)

21. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.

22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.

23. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)

24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)

Thư mục tham khảo

1.Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969

2. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986

3. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982

4. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987

5. La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)

——–

Đọc lá thư của cụ Trần Trọng Kim, chúng ta biết rõ hơn cụ là người uyên bác, yêu nước ra sao. Và cụ cũng đã biết bản chất của cộng sản núp dưới danh nghĩa quốc gia ra sao ngay sau khi chúng cướp được chính quyền và trở mặt với dân tộc. Vì vậy mà cụ tiếc cho năm 1945, với câu nói về cộng sản : chúng ta bị bọn cướp lừa. Tiếc cho dân tộc, tiếc cho đất nước, một cơ hội bằng vàng bị mất để rồi phải trải qua hàng mấy chục năm huynh đệ tương tàn mà hậu quả là một chế độ độc tài tham nhũng hối lộ với chính sách ngu dân và tiêu diệt văn hóa dân tộc.

Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.

 

Phần 6: TẠI SAO CỘNG SẢN GIẾT PHẠM QUỲNH ?

Trong phần 5 nói về Chính phủ Trần Trọng kim, có nói đến Phạm Quỳnh: « Phạm Quỳnh mong muốn có một Việt Nam độc lập và Nhật đã đồng ý. Như vậy không ai có thể lên án Phạm Quỳnh về vấn đề độc lập. Ngoại trừ, cộng sản tìm mọi cớ giết ông ta. »

Cộng sản tiêu diệt tất cả nhưng ai không phục vụ họ, kể cả nhưng người yêu nước. Từ Tạ Thu Thâu qua Nguyễn Bình đến Nguyễn Văn Bông, …, những người có khả năng góp phần xây dựng đất nước.

Trong buổi phỏng vấn ngày 25 tháng 6 năm 1946, Hồ Chí Minh đã trả lời đảng viên Xã hội Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: « Ce fut un patriote et nous le pleurons… Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés » = « (Tạ Thu Thâu) là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất… Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt. »

Phạm Quỳnh là một nạn nhân của cộng sản.

Bài dưới đây của TRẦN GIA PHỤNG (Toronto, Canada)

Việt Minh cộng sản đã giết Phạm Quỳnh (1892-1945) hai lần: Lần thứ nhất hạ sát, che giấu và phi tang thân xác ông tại Huế năm 1945. Lần thứ hai, bóp méo lịch sử, viết sai lạc về Phạm Quỳnh, nhằm hủy diệt luôn sự nghiệp và thanh danh của ông. Một câu hỏi cần được đặt ra là lúc đó Phạm Quỳnh đã rút lui khỏi chính trường, tại sao cộng sản lại giết Phạm Quỳnh, trong khi cộng sản không giết Trần Trọng Kim và toàn bộ nhân viên nội các Trần Trọng Kim, là những người đang còn hoạt động? Câu hỏi nầy cần tách ra làm hai phần để dễ tìm hiểu:

Thứ nhất: Từ khi đến Trung Hoa hoạt động năm 1924, Hồ Chí Minh, điệp viên của Đê Tam Quốc tế Cộng sản, lúc đó có tên Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy, đã chủ trương “giết tiềm lực”. Giết tiềm lực là tiêu diệt tất cả những cá nhân có khả năng tiềm tàng mà không chịu theo chủ nghĩa cộng sản hay đảng Cộng Sản, có thể sẽ có hại cho đảng Cộng sản trong tương lai. Những người nầy về sau có thể sẽ hoạt động chính trị và có thể sẽ gây trở ngại, gây nguy hiểm cho sự phát triển của cộng sản. Nạn nhân danh tiếng đầu tiên của chủ trương giết tiềm lực của Hồ Chí Minh là Phan Bội Châu (1867-1940). Phan Bội Châu bị Lý Thụy bán tin cho Pháp, để Pháp bắt Phan Bội Châu năm 1925 tại nhà ga Thượng Hải, nhằm đoạt lấy tổ chức của Phan Bội Châu. (Tưởng Vĩnh Kính, Nhất cá Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụy trang giả, bản dịch của Nguyễn Thượng Huyền, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, California: Nxb. Văn Nghệ, 1999, tt. 84-85.)

Từ đó, Hồ Chí Minh và phe đảng thi hành chủ trương giết tiềm lực, ngầm thủ tiêu rất nhiều thanh niên sinh viên hoạt động chính trị, và nhất là năm 1945, khi nắm được quyền lực, Việt Minh (VM), mặt trận ngoại vi của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), đã giết hầu hết những nhân tài không theo VM.

Tại Huế, VM tìm tất cả các cách nhắm cô lập vua Bảo Đại. Cách tốt nhất là cách ly nhà vua với những người có khả năng và uy tín thân cận bên cạnh nhà vua, trong đó quan trọng hơn cả là Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi. Do đó, VM ra lệnh bắt Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi cùng con của ông Khôi là Ngô Đình Huân ngày 23-8-1945. Đồng thời VM sắp đặt những người của VM như Tạ Quang Bửu, Phạm Khắc Hòe vây quanh rỉ tai nhà vua, phóng đại về kháng chiến, về Việt Minh.(Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, tr. 184.)

Theo David G. Marr trong Vietnam 1945, The Quest for Power, sau khi Phạm Quỳnh và hai cha con Ngô Đình Khôi bị bắt, người Nhật can thiệp một cách yếu ớt không hiệu quả. Ngày 28-8, sáu người Pháp nhảy dù xuống một địa điểm cách kinh thành Huế khoảng 20 cây số nhắm mục đích bắt liên lạc với vua Bảo Đại và các cựu quan Nam triều. Lúc đầu, VM địa phương tưởng những người Pháp nầy là người của phe Đồng Minh, cho họ trú tạm tại một ngôi nhà thờ, nhưng khi biết rằng đây là những người Pháp có ý định tìm cách liên lạc với các quan chức Nam triều cũ, VM liền giết bốn người, và cầm tù hai người đến tháng 6-1946. (David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power [Việt Nam 1945, đi tìm quyền lực] University of California Press, tt. 452-453.)

Trong khi cô đơn, lại bị Phạm Khắc Hòe xúi giục và hù dọa, vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị ngày 25-8-1945, và làm lễ thoái vị tại cửa Ngọ Môn ngày 30-8-1945, với sự hiện diện của đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, và Cù Huy Cận.

Theo hồi ký của Trần Huy Liệu, sau khi Nhật đầu hàng, người Pháp nhảy dù xuống Huế, liền hỏi ngay đến Bảo Đại, Phạm Quỳnh và những người cộng tác với Pháp trước đó. Việt Minh bắt được toán người Pháp nầy và “xử lý thích đáng” Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh. (Nguyên văn lời của Trần Huy Liệu.) Theo lối chơi chữ của Trần Huy Liệu, “xử lý thích đáng” có nghĩa là thủ tiêu hai ông Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh.

Nhiều người cho rằng việc người Pháp muốn kiếm cách liên lạc với cựu hoàng Bảo Đại và Phạm Quỳnh (vì lý do gì không được rõ) vô tình đã làm cho VM lo ngại, sợ rằng một khi người Pháp trở lui, Pháp sẽ nhờ Phạm Quỳnh và những người đã từng làm việc với Pháp như Ngô Đình Khôi giúp Pháp lật ngược thế cờ, đưa cựu hoàng trở lại cầm quyền.

Do đó VM vội vàng “mời” cựu hoàng Bảo Đại rời Huế ngày 4-9-1945, ra Hà Nội làm cố vấn chính phủ, để cách ly cựu hoàng với cố đô, chiếc nôi của nhà Nguyễn, đồng thời cách ly cựu hoàng với những cận thần cũ. Vì vậy VM giết ngay các ông Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi ngày 6-9 để trừ hậu hoạn. Trong khi đó, nếu người Pháp trở lui Huế, người Pháp cũng không hợp tác với Trần Trọng Kim, vì ông Kim và nội các của ông bị gán cho là thân Nhật.

Phạm Quỳnh trong bộ Âu phục

Thứ hai: Khi cướp chính quyền, VM đã chủ ý giết một số người trong đó có Phạm Quỳnh. Việt Minh chủ ý giết Phạm Quỳnh vì:

1) Phạm Quỳnh muốn xây dựng nền quân chủ lập hiến tại nước ta, và cho rằng cộng sản là “nạn dịch” gây bất ổn xã hội. (Phạm Quỳnh, “Ce que sera l’Annam dans cinquante ans?”[Nước Nam sẽ ra sao năm mươi năm sau?], Essais franco-annamites (1929-1932), Huế: Nxb. Bùi Huy Tín, 1937, tr. 500.) Phạm Quỳnh muốn xây dựng nền quốc học trong khi Việt Minh muốn phổ biến chủ nghĩa cộng sản.

2) Ở trong nước, Phạm Quỳnh tiêu biểu cho giới trí thức làm văn hóa, theo chủ nghĩa dân tộc, lập trường quốc gia, bất bạo động, dấn thân hoạt động chính trị. Việt Minh giết Phạm Quỳnh để đe dọa, uy hiếp và khủng bố tinh thần giới trí thức hoạt động văn hóa trên toàn quốc. Đây là lối mà người xưa gọi là “sát nhất nhân, vạn nhân cụ “(giết một người, mười ngàn người sợ).

3) Đối với nước ngoài, Phạm Quỳnh là người được Pháp ủng hộ và rất có uy tín trên chính trường Pháp. Với đường lối ôn hòa, ông còn có thể được cả Nhật, Trung Hoa (lúc bấy giờ do Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng cầm quyền), Anh, Hoa Kỳ chấp nhận hơn là đường lối cực đoan theo Liên Xô của Hồ Chí Minh.

4) Hồ Chí Minh muốn chụp lấy ngay thời cơ tạo ra do khoảng trống chính trị sau tối hậu thư Potsdam vào cuối tháng 7-1945, nên chủ trương tiêu diệt tất cả những người nào có khả năng tranh quyền với Hồ Chí Minh, để cho ở trong cũng như ngoài nước thấy rằng chỉ có một mình Hồ Chí Minh mới xứng đáng lãnh đạo đất nước. Phạm Quỳnh đã từng là thượng thư bộ Lại, đứng đầu triều đình Huế. Đặc biệt những điều ông viết về tương lai thế giới mà ông đưa ra từ 1930 trong bài “Ce que sera l ‘ Annam dans cinquante ans?” [Nước Nam sẽ ra sao năm mươi năm sau?] đều đã diễn ra đúng theo ông tiên liệu, như mối đe dọa của Nhật Bản, nạn dịch cộng sản, xung đột Thái Bình Dương, đại hỏa hoạn ở châu Âu [thế chiến 2]. Nhờ thế mà uy tín Phạm Quỳnh lên rất cao.

Phạm Quỳnh có uy tín và tư thế lớn đối với dư luận trong và ngoài nước, là một trong những người có thể trở thành đối thủ đáng ngại của Hồ Chí Minh, nên Hồ Chí Minh quyết tiêu diệt Phạm Quỳnh để tránh trở ngại về sau.

5) Khi mới nổi dậy năm 1945, để lôi cuốn quần chúng, Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, chứ không phải là đảng viên cộng sản, và Hồ Chí Minh ra đi để tìm đường cứu nước, đồng thời Hồ Chí Minh tự giấu thật kín chuyện xin vào học trường Thuộc Địa Paris mà bị loại. Một chuyện nữa cũng thuộc loại “thâm cung bí sử” của Hồ Chí Minh là việc Nguyễn Ái Quốc gia nhập Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) ở Paris vào đầu năm 1922. (Jacques Dalloz, “Les Vietnamiens dans la franc-maçonnerie coloniale” [Người Việt trong hội Tam Điểm thuộc địa], tạp chí Revue Française d’Histoire d’Outre-mer, Tam cá nguyệt 3, 1998, Paris: Société Française d’Histoire d’Outre-mer, tr. 105.) Hội Tam Điểm là một hội có chủ trương chính trị đối lập với đảng Cộng Sản và là kẻ thù của đảng Cộng Sản.

Cũng trong năm 1922, theo lời mời của chính quyền Pháp, Phạm Quỳnh đến Paris diễn thuyết tại Trường Thuộc Địa (École Coloniale) ngày 31-5-1922 về đề tài “Sự tiến hóa về đường tinh thần của dân Việt Nam từ ngày đặt bảo hộ đến giờ”. Sau đó, Phạm Quỳnh ở lại Paris để đi diễn thuyết vài nơi, kể cả Viện Hàn lâm Pháp. Trong thời gian ở Paris, Phạm Quỳnh ghi nhật ký là đã gặp gỡ những “chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi”, và không nêu tên những người ông đã gặp trong nhật ký. Tuy nhiên, trên sổ lịch để bàn, Phạm Quỳnh ghi rõ: [Thứ Năm, 13-17]: “Ăn cơm Annam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Villa des Gobelins)”. [Tờ lịch Chủ nhật 16-7]: “Ở nhà, Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” [Chủ nhật 16-7] [Chuyền có thể là Nguyễn Thế Truyền.]

Như thế, Phạm Quỳnh là một trong những người biết rõ tung tích Hồ Chí Minh ở Paris, biết rõ Hồ Chí Minh đã gia nhập hội Tam Điểm Pháp, và đặc biệt Phạm Quỳnh còn sống cho đến 1945. (Những người khác như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh đều đã từ trần.) Phạm Quỳnh là một nho sĩ chính trực nên ông không tiết lộ cho vua Bảo Đại biết điều nầy, do đó nhà vua mới bị Phạm Khắc Hòe dẫn dụ về nhân vật Hồ Chí Minh. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, tt. 184-185.) Phải chăng vì là người đã lỡ “biết quá nhiều” về Hồ Chí Minh mà Phạm Quỳnh bị Hồ Chí Minh ám hại?

Do những lẽ trên, nếu không có những người Pháp nhảy dù xuống Huế như tác giả David G. Marr viết hay Trần Huy Liệu kể, cộng sản cũng vẫn giết Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh và Trần Trọng Kim đều là hai nhà văn hóa, và chính trị nổi tiếng trên toàn quốc. Trần Trọng Kim viết khảo cứu có tính cách hoàn toàn chuyên môn, chứ không có chủ trương chính trị lâu dài; nội các Trần Trọng Kim gồm những chuyên viên cần thiết cho việc xây dựng cơ sở căn bản trong giai đoạn chuyển tiếp từ chính quyền Pháp qua chính quyền Việt. Trần Trọng Kim ít biết về những hoạt động của Hồ Chí Minh lúc còn ở Paris.

Ngược lại, Phạm Quỳnh trước tác với một ý hướng chính trị rõ ràng: xây dựng một nền văn hóa dân tộc, bảo tồn quốc tuý, nâng cao trình độ văn hóa của dân chúng bằng cách phổ biến văn hóa Âu tây, dịch thuật những tư tưởng dân quyền của Montesquieu, Voltaire, Rousseau. Phạm Quỳnh tham gia triều đình Huế cũng nhắm đến một chủ đích rõ ràng: tranh đấu ôn hòa, nhưng cương quyết yêu cầu Pháp trả lại chủ quyền cho triều đình, và xây dựng một hiến pháp làm luật lệ căn bản của quốc gia.

Ảnh hưởng văn hóa và chính trị của Phạm Quỳnh khá rộng rãi trên các tầng lớp quần chúng, nhất là giới trí thức trung lưu, từ lớp trí thức Nho học đến cả lớp trí thức và thanh niên tân học. Tạp chí Nam Phong được các lớp người ưu tú ở các địa phương lúc bấy giờ trên toàn quốc xem như loại sách báo giáo khoa chỉ đường. Đó là điều mà cộng sản chẳng những không thể chấp nhận và cũng không thể dung thứ, vì cộng sản muốn nắm độc quyền lãnh đạo chính trị, độc quyền yêu nước, độc quyền chân lý.

Xin hãy chú ý thêm ngày Phạm Quỳnh bị sát hại. Phạm Quỳnh bị bắt ngày 23-8-1945, và bị giết ngày 6-9, nghĩa là ông không bị nhóm VM địa phương Huế giết liền khi họ nổi dậy. Vua Bảo Đại thoái vị ngày 30-8-1945 với sự chứng kiến của đại diện chính phủ Việt Minh từ Hà Nội đến là Trần Huy Liệu (bộ trưởng bộ Tuyên truyền), Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận (bộ trưởng không bộ nào tức quốc vụ khanh). Phạm Quỳnh bị giam giữ một thời gian, rồi mới bị giết ngày 6-9-1945, nghĩa là lúc đó đã có mặt của đại diện trung ương của VM và của đảng CSĐD.

Khi đã có sự hiện diện của đại diện trung ương, các cán bộ VM địa phương chắc chắn không dám tự tiện ra tay, mà chắc chắn phải có ý kiến của trung ương. Nhóm Trần Huy Liệu cũng không thể tự quyết định được việc nầy. Như vậy phải chăng chính nhóm Trần Huy Liệu đã đem lệnh từ Hà Nội vào Huế để giết Phạm Quỳnh? Và lệnh đó từ đâu, nếu không phải là từ Hồ Chí Minh?

Sau khi Phạm Quỳnh bị giết, hai người con gái đầu của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh. Dưới đây là lời kể của bà Thức:”… Tháng 8 năm 1945, Thầy tôi ra đi!… Sau đó, chị tôi [tên Giá] và tôi nhờ một anh bạn là Vũ Đình Huỳnh ngày ấy là garde-corps [cận vệ] cho cụ Hồ, giới thiệu đến thăm cụ và hỏi truyện [tức chuyện Phạm Quỳnh]. Cụ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về… Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội và có thể có nhiều sai sót đáng tiếc…” (Hồi ký viết tại Paris ngày 28-10-1992 của bà Phạm Thị Thức, nhân kỷ niệm 100 năm sinh niên Phạm Quỳnh, tài liệu gia đình.)

Phạm Quỳnh bị giết ngày 6-9-1945. Hồ Chí Minh cướp chính quyền ngày 2-9-1945, ra lệnh “mời” Bảo Đại ra Hà Nội, và Bảo Đại rời Huế ngày 4-9-1945. Như thế có nghĩa là Hồ Chí Minh đã về Việt Nam, đã cướp được chính quyền, đã nghĩ đến cựu triều đình Huế, đến việc đưa Bảo Đại ra Hà Nội, vậy chắc chắn Hồ Chí Minh không thể quên hay không biết chuyện Phạm Quỳnh. Lối lý luận của Hồ Chí Minh là cách chối tội thông thường cổ điển của VM: “Mất mùa là tại thiên tai,/ Được mùa là tại thiên tài đảng ta.)

Giết xong Phạm Quỳnh, cộng sản tính việc hủy diệt luôn hình ảnh sáng chói nhà văn hóa Phạm Quỳnh, tức giết Phạm Quỳnh lần thứ hai. Việc nầy thì không thể nói là Hồ Chí Minh không biết gì cả. Đảng Cộng Sản quy chụp cho Phạm Quỳnh tội “phản quốc, làm tay sai cho Pháp”. Gần 40 năm sau, trong Từ điển văn học, gồm 2 tập, mỗi tập trên 600 trang, gồm nhiều người viết, do Uỷ ban Khoa học Xã hội xuất bản tại Hà Nội năm 1984, vẫn không có mục “Phạm Quỳnh”. Khi viết về các nhóm văn hóa, sách nầy không thể loại nhóm Nam Phong vì nhóm Nam Phong có khá nhiều tác giả nổi tiếng.

Nói đến nhóm Nam Phong, trang 121-123, tập 2, tác giả Nguyễn Phương Chi, trong ban biên tập từ điển, vẫn còn gọi Phạm Quỳnh là “bồi bút, phản động”. Hơn thế nữa, năm 1997, trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, do nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội ấn hành, Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế biên tập, mục “Phạm Quỳnh”, trang 758-759, hai tác giả nầy viết: “Hoạn lộ của ông [chỉ Phạm Quỳnh] lên nhanh như diều gặp gió vì gắn bó mật thiết với các quan thầy thực dân…Ngày 23-8-1945, Phạm bị các lực lượng yêu nước bắt ở Huế, rồi sau đó bị xử bắn ở l.[làng] Hiền Sĩ, t.[tỉnh] Thừa Thiên, hưởng dương 53 tuổi.”

Các tác giả cộng sản thường đưa ra chiêu bài yêu nước và dân tộc để quy chụp những người không theo khuynh hướng của cộng sản là phản động, phản quốc, trong khi chính vì Hồ Chí Minh khăng khăng đi theo cộng sản Liên Xô mà Việt Nam không được các nước Đồng Minh thừa nhận sau năm 1945. Cũng chính vì đảng Cộng Sản chủ trương ý thức hệ cộng sản mà gây ra mâu thuẫn quốc cộng, phá hoại tình đoàn kết dân tộc, là một trong những nguyên nhân chính đưa đến chiến tranh Việt Nam từ 1946 đến 1975, và hậu quả còn kéo dài mãi cho đến ngày nay.

Sau năm 1954, rồi 1975, chính đảng Cộng sản Việt Nam đã nhập cảng và áp dụng một cách máy móc chính sách văn hóa Mác, Mao và kinh tế chỉ huy rập theo khuôn Liên Xô và Trung Cộng, đã làm cho Bắc Việt rồi cả Việt Nam suy kiệt về mọi mặt cho đến ngày nay mà chưa tìm ra lối thoát.

Nếu nói rằng: Phạm Quỳnh hợp tác với Pháp để mưu cầu chủ quyền cho Việt Nam, bảo vệ quyền lợi của quốc gia là làm tay sai cho ngoại bang, còn Hồ Chí Minh và đảng cộng sản theo Nga Hoa, bán đứng quyền lợi đất nước, thì không phải là tay sai ngoại bang? Nếu nói rằng Phạm Quỳnh hợp tác công khai với Pháp, viết bài trình thuật rõ ràng các hoạt động của ông là phản quốc, trong khi Hồ Chí Minh làm gián điệp cho Đệ tam Quốc tế Cộng sản, cầu viện Trung Quốc và Liên Xô là không phản quốc?

Nếu nói rằng Phạm Quỳnh viết bài quảng bá học thuật Âu tây, đề cao tư tưởng dân quyền của Voltaire, Montesquieu, Rousseau là không có tinh thần dân tộc, còn cộng sản phổ biến tư tưởng Marx, Lenin, và nhất là chủ nghĩa Stalin thì gọi là gì? Phạm Quỳnh dịch thơ Corneille, Racine là bồi bút, còn Tố Hữu làm thơ gọi Stalin là ông nội, “thương cha thương mẹ thương chồng / thương mình thương một thương ông thương mười”, thì không bồi bút?

Nói cho cùng, nếu Phạm Quỳnh chỉ là người học trò bình thường của Voltaire, Montesquieu hoặc Rousseau thì cũng đáng mừng cho dân tộc Việt Nam, vì tư tưởng của các nhà học giả Pháp nầy là ánh sáng soi đường cho nhân dân toàn thế giới xây dựng nền tự do dân chủ phân quyền pháp trị.

Trong khi đó Hồ Chí Minh là “một người học trò trung thành của Các Mác và V. I. Lê-nin” (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1975, tr. 160.), và nhất là người học trò xuất sắc của Stalin, thì thực tế lịch sử đã chứng minh rằng đó là hiểm họa độc tài đen tối khốc liệt nhất từ trước đến nay trong lịch sử Việt Nam.

Dầu sao, việc tuyên truyền của cộng sản một thời gây nhiễu xạ hình ảnh của Phạm Quỳnh và ảnh hưởng không ít đến dư luận dân chúng, làm nhiều người, kể cả vài kẻ tự mệnh danh là trí thức tiến bộ, hiểu sai về Phạm Quỳnh, và hiểu sai luôn về một số nhân vật chính trị theo khuynh hướng quốc gia dân tộc. Phạm Quỳnh đã từng nói: “Về phần tôi, tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi là một người ở buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông…”. (Thư ngày 30-12-1933 của Phạm Quỳnh gời Louis Marty, Hành trình nhật ký, Paris: Nxb. Ý Việt, 1997, phần “Dẫn nhập”, không đề trang.)

Ngày nay, sau những biến động đảo điên của thời cuộc, mọi người nên công tâm tìm hiểu Phạm Quỳnh và nhìn lại sự nghiệp của ông. Trước ngã ba đường vào đầu thế kỷ 20, giữa cựu học, Tây học, và tân học, Phạm Quỳnh chọn con đường tân học, cải tiến và hoàn chỉnh văn học Quốc ngữ để làm phương tiện xây dựng quốc học, vừa bảo vệ quốc hồn quốc túy, vừa bồi đắp thêm bằng cách du nhập những tinh hoa văn hóa nước ngoài.

Chủ trương hòa nhập văn hóa (acculturation) của Phạm Quỳnh xét cho cùng rất quý báu và cần thiết cho đất nước, vì nếu chỉ mãi mê tranh đấu chính trị và quân sự, mà không xây dựng nền văn hóa dân tộc dựa trên quốc hồn, quốc học và quốc văn, thì người Việt vẫn bị trì trệ trong sự nô lệ tinh thần. Những đóng góp của ông trong việc phát triển nền văn chương Quốc ngữ thật lớn lao. Những vấn đề văn chương, triết lý tổng hợp đông tây ông đã viết, những ý kiến do ông đưa ra trong các bài báo, kể cả những ý kiến ông tranh luận về truyện Kiều, về Nho giáo, vẫn còn có giá trị. Giấc mơ của Phạm Quỳnh về quốc học, quốc hồn lại càng cần được cổ xúy làm nền tảng giáo dục tinh thần cho mọi người Việt Nam ngày nay ở trong cũng như ở ngoài nước. Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn của Việt Nam thời hiện đại.

Về chính trị, Phạm Quỳnh viết nhiều tiểu luận bằng tiếng Việt cũng như bằng tiếng Pháp để tranh đấu thực hiện lý tưởng chính trị của ông. Nhiều người thường đồng nghĩa nền quân chủ với phong kiến hoặc thực dân, nên cho rằng quan niệm quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh là thủ cựu. Cần phải chú ý là Phạm Quỳnh chủ trương bất bạo động. Ông chọn thể chế quân chủ lập hiến với hy vọng thúc đẩy Việt Nam chuyển biến một cách ôn hòa trong trật tự.

Nhìn ra nước ngoài, hiện nhiều nước trên thế giới vẫn duy trì nền quân chủ lập hiến, nhưng vẫn là những nước hết sức dân chủ như Anh Quốc, Nhật Bản, Thuỵ Điển, Bỉ… Ở trong nước, xét trên chiều dài của lịch sử, từ ngày Pháp đặt nền đô hộ năm 1884 đến năm 1945, tuy các vua nhà Nguyễn bị người Pháp khống chế, nhưng vua vẫn là biểu tượng cao cả của đất nước, nên các cuộc nổi dậy kháng Pháp từ Bắc vào Nam đều quy hướng về một mối, đó là triều đình ở kinh đô Huế. Trái lại từ năm 1945 trở đi, khi VM cộng sản cướp chính quyền, người Việt Nam bị chia rẽ trầm trọng thành nhiều phe nhóm khác nhau, theo những quan điểm khác nhau. Do đó, Phạm Quỳnh có phần hữu lý khi ông chủ trương cải cách ôn hòa, và chọn quân chủ lập hiến theo đại nghị chế thay thế cho nền quân chủ chuyên chế.

Ngày nay, cục diện chính trị Việt Nam đã thay đổi hẳn, quan niệm quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh không còn phù hợp, nhưng không thể vì thế mà phủ nhận tinh thần ái quốc, lòng can đảm và sự tận tình của ông trên con đường phụng sự quê hương. Phạm Quỳnh đã âm thầm tranh đấu bất bạo động để đòi hỏi chủ quyền cho đất nước. Ông đã hết lòng hoạt động vì nước và đã hy sinh vì lý tưởng của mình. Đó là điều thật đáng trân quý nơi Phạm Quỳnh, nhà trí thức dấn thân hoạt động chính trị.

Một điều đáng ghi nhận cuối cùng trong cách thức hành xử của Phạm Quỳnh. Ông theo đuổi một lý tưởng chính trị trường kỳ và bất bạo động, nên ông luôn luôn cố gắng làm những gì có lợi cho đất nước và đồng bào, đồng thời tránh không làm bất cứ việc gì có hại cho quốc gia dân tộc. Phạm Quỳnh sống lương thiện, không tham ô nhũng lạm, và cũng không hề gây tội ác giết hại đồng bào. Thái độ nầy là điều mà rất ít nhà hoạt động chính trị của mọi khuynh hướng thực hiện được, và là một điểm son sáng chói phân biệt Phạm Quỳnh với những người ra hợp tác với Pháp để trục lợi cầu vinh.

Đây là điều cần phải được tách bạch. Trong việc hợp tác với Pháp, có hai hạng người: hạng thứ nhất là những kẻ hợp tác để mưu cầu danh lợi riêng tư, lợi dụng quyền thế, hống hách bóc lột đồng bào; hạng thứ hai ra tham chính, làm việc với Pháp, không dựa vào quyền thế để hiếp đáp dân chúng, mà dùng quyền thế để cứu giúp đồng bào, và vẫn giữ được khí tiết riêng của mình như Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Trương Vĩnh Ký, và biết bao nhiêu người vô danh khác.

Phải tránh vơ đũa cả nắm, và phải rõ ràng như thế mới hiểu được tâm trạng cùng sự can đảm của những nhà trí thức, trong hoàn cảnh éo le của đất nước, dấn thân hoạt động chính trị, phụng sự dân tộc, nhất thời đã bị hiểu lầm sau những cơn lốc tranh chấp chính trị kéo dài trên quê hương yêu dấu, trong đó Phạm Quỳnh là trường hợp điển hình nhất.

Photo d’un utilisateur.

Phần 7: Cải cách ruộng đất (CCRD) – gây hận thù, giết người lành, tiêu diệt đảng phái đối lập như Quốc Dân đảng, xỉ vả ông bà, lừa thày phản bạn, …, tạo những cái máy mù quáng điên cuồng phục vụ CNCS và những kẻ hưởng lợi từ nó. Theo ông Nguyễn Minh Cần, nguyên phó chủ tịch Hà Nội, tỵ nạn chính trị ở Liên Xô, thời xét lại, thì có 172.000 nạn nhân. Nhưng trên cả là đạo đức luân lý từ ngàn năm bị xoá bỏ từ đây, bị thay bằng luân lý hận thù chém giết của cộng sản.

Toàn cảnh CCRD được nhìn qua vụ giết bà Cát Hanh Long – Nguyễn Thị Năm, người đã có thời gian nuôi Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ,Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị, …, người có 2 con trai là đại đội trưởng Nguyễn Hanh và Trung đoàn trưởng Nguyễn Cát trong quân Việt Minh.

« Tìm mộ bà Cát Hanh Long » trên « An ninh thế giới »:http://antg.cand.com.vn/…/Chuyen-ve-nguoi-phu-nu-tung-bi-x…/

« … Cụ bà Nguyễn Thị Năm … Khăn vấn, tóc đen nhưng nhức chải ngôi giữa. Nét mày và miệng thanh tú. Ảnh cụ bà chụp khi hơn 40 tuổi. Tướng những người phụ nữ có cung mệnh ích phu vượng tử. Cụ ông không may bạo bệnh mất sớm trước năm 1945. Một mình cụ bà những đảm lược thông minh tháo vát chèo chống đưa con thuyền Cát Hanh Long qua bão tố thác ghềnh.

… buổi sáng ngày 25/8/1945 đoàn xe của ông Trần Huy Liệu thay mặt cho Chính phủ lâm thời cùng đoàn xe của ông Nguyễn Lương Bằng đại diện cho Mặt trận Việt Minh cùng xuất phát từ Hà Nội có sứ mệnh vào Huế tiếp nhận sự đầu hàng của Bảo Đại. Chả là chàng trai Nguyễn Hanh khi đó mới 22 tuổi, được chọn trong đội hình Thanh niên thành Hoàng Diệu có vinh dự được tháp tùng đoàn.

Thời điểm đấu tố giông gió ấy, Nguyễn Hanh đang ở Nam Ninh, Trung Quốc. Tin tức về một cuộc cải cách trời long đất lở cũng sang được bên đó nhưng tuyền một thông tin dân phấn khởi đang vùng lên đánh đổ địa chủ ác bá, người cày có ruộng. Nguyễn Hanh không một chút mơ hồ nghi ngại… Một ngày tháng 6/1953, Nguyễn Hanh được chỉ thị về nước có lệnh gấp. Nguyễn Hanh được dẫn ngay vào một trại cải tạo.

Cái điều Nguyễn Hanh không ngờ không biết khi đó mẹ mình đã bị bắn. Cho mãi sau này, trong một đợt tiếp tế thăm nuôi, vợ anh mới hé cho tin ấy.

Còn Nguyễn Cát, người con trai thứ thời điểm bà Năm bị thụ hình, đang ở đâu?

Cũng như ông anh, ông Cát khi đó đang được học tập chỉnh huấn bên Trung Quốc có điều không cùng nơi. Cũng phải, ông em hình như có chí tiến thủ hơn người anh (đại đội trưởng). Năm 1953 đã là Trung đoàn trưởng của Sư 308.

… nhiều bản chứng của nhiều cán bộ cao cấp. Trong đó có ông Đào An Thái, nguyên Cục trưởng Cục Lưu trữ. Ông Hoàng Thế Thiện, nguyên Bí thư Đảng ủy chuyên gia giúp bạn K trực thuộc Trung ương. Ông Nhi Quý nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên.

Xin biên ra một đoạn.

Anh Nguyễn Cát (tức Công) đã được chúng tôi tổ chức vào một trong những nhóm Thanh niên cứu quốc hoạt động bí mật ở thị xã Thái Nguyên trước Tổng khởi nghĩa.

Tháng 5/1945 anh Cát đưa lên chiến khu 20 ngàn bạc Đông Dương (thời giá khi đó tương đương 700 lạng vàng) tiền của gia đình anh ủng hộ đoàn thể. Tôi đã nhận tiền và giao lại cho Ban cán sự Võ Nhai.

Anh Cát thường xuyên cung cấp cho chiến khu thuốc chữa bệnh, máy đánh chữ, giấy mực và nhiều thứ khác khi chiến khu yêu cầu. Anh Cát tích cực thực hiện những chỉ thị của Ban cán sự. Sau Cách mạng anh Cát được giao công tác ở Ty Tuyên truyền tỉnh. Sau đó được rèn luyện thử thách trong bộ đội. Tham gia nhiều trận đánh và đã bị thương. Qua nhiều gian khó thử thách vẫn trung thành tận tụy với cách mạng.

Cũng như ông anh, từ Trung Quốc, Trung đoàn trưởng Nguyễn Cát bị dẫn ngay về nước và vào thẳng một trại cải tạo ở Thái Nguyên.

Trong thời gian Nguyễn Cát bị giam, vợ ông Cát, bà Đỗ Ngọc Diệp vốn là cán bộ bí mật hoạt động từ năm 1944 khi ấy may mà đang hoạt động trong vòng địch hậu Bắc Ninh nên vô tình bà thoát không bị bắt và đấu tố. Nhưng không thoát được sự động viên của tổ chức rằng cô còn trẻ đang có tương lai nên cắt đứt với con cái địa chủ cường hào ác bá.

Riêng cụ Nguyễn Thị Năm Cát Hanh Long thì vẫn… đợi ?

Trên cao xanh kia, cụ bà đã mỉm cười nơi chín suối được chưa khi mới có động thái duy nhất của chính thể là hạ thành phần cho cụ từ tư sản địa chủ cường hào gian ác xuống tư sản địa chủ kháng chiến!

Người con trai còn lại duy nhất của cụ bà Nguyễn Thị Năm Cát Hanh Long năm nay tròn 90 có lẽ vẫn tiếp tục đợi? »

—–

Những lý do mà bà Năm phải chết:

– HCM xin viện trợ của Liên Xô với lời hứa thực hiện CCRD do Trung Quốc chỉ đạo theo mẫu Liên Xô (2 hình kèm), với 5% người dân phải bị đấu tố đến bị giết.

– đường lối của Trung Quốc: gây hận thù để con cháu giết ông bà, cha mẹ, để huynh đệ tương tàn, …. Tất cả, để tiêu diệt đối lập, bất đồng chính kiến, để dựng lên một chế độ độc tài toàn trị, một chế độ Phong kiến hà khắc man rợ nhất. Giết bà Năm, chứng tỏ cho người dân thấy, ai cũng có thể bị cộng sản giết, bị khủng bố, kể cả người mà họ đáng ra phải mang ơn, kể cả đồng đội của họ. (hình kèm)

– trung thành và mong đền nợ vũ khí từ quan thày Stalin và Mao, HCM với chức vụ Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam và nhà nước đã phát động và làm tư tưởng chiến dịch Cải cách ruộng đất bằng phát súng bắn vào bà Năm qua bài viết bịa đặt, vu khống trắng trợn « Địa chủ ác ghê » được đăng trên báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), ngày 21 tháng 7 năm 1953 dưới bút danh C.B (của bác). Sau này bài viết được đưa vào tập tài liệu « Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất » của HCM do báo Nhân Dân xuất bản năm 1955. Toàn văn:

Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoá – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ:

Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:

Giết chết 14 nông dân.

Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.

Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người – năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.

Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân – Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang.

Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.

Thế là ba mẹ con địa chủ Cát-hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!

Còn những cảnh chúng tra tấn nông dân thiếu tô thiếu nợ, thì tàn nhẫn không kém gì thực dân Pháp. Thí dụ:

Trời rét, chúng bắt nông dân cởi trần, rồi dội nước lạnh vào người. Hoặc bắt đội thùng nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.

Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống.

Chúng đóng gióng trâu vào mồm nông dân, làm cho gẫy răng hộc máu. Bơm nước vào bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra.

Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên.

Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt.

Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng. Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến.

Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo. Mẹ con Cát-hanh-Long không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước hại dân. Thật là:

Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng,
Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!

—–

Chính HCM sau đó nhỏ nước mắt cá sấu và phủi tay bằng lời nói dối trắng trợn khác trước các nhà báo « người ta không đánh phụ nữ dù chỉ bằng hoa hồng ». Nói láo bỉ ổi không chớp mắt.

Ngay khi chưa thắng được Pháp, cộng sản đã tiêu diệt các đảng phải, tổ chức chính trị khác, như Quốc Dân đảng trong Cải cách ruộng đất, được bắt đầu từ năm 1953. Đây cũng là bài học cho những người muốn cùng đường với CSVN chống Tàu (nếu như CSVN dám chống lại quan thày), thì số phận họ sẽ được định đoạt trước khi CSVN có thể thắng được Tàu.

Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.

Phần 8: Hiệp định Geneve 1954 và cái gọi là Tổng tuyển cử

Sau thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ trước Việt Minh, Trung Quốc (tướng Tàu là Trần Canh) và Liên Xô (bài báo Liên nói thẳng rằng « Pháo phòng không của Liên Xô đã tiêu diệt hoàn toàn hệ thống phòng thủ của Pháp » ở cứ điểm 17 nghìn quân tại Điện Biên), vấn đề Đông Dương được đưa vào thêm Hội nghị Geneve, đáng ra là chỉ giải quyết cuộc chiến ở Triều Tiên.

Hai chính phủ Việt Nam có đại diện ở Geneve là VNDCCH (thành lập ngày 02/09/1945, sau khi Việt Minh cộng sản cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim) và Quốc gia Việt Nam (tuy bị gián đoạn nhưng là nối tiếp của Đế quốc Việt Nam của Bảo Đại – Trần Trọng Kim, thành lập tháng 6/1945). Cả hai đều tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

Trong đàm phán, VNDCCH có Trung Quốc hậu thuẫn còn Quốc gia Việt Nam thì có Pháp. VNDCCH và Trung Quốc đòi chia cắt Việt Nam, còn Quốc gia Việt Nam thì phản đối.

Ông Trần Văn Đỗ, trưởng đoàn đại diện của Quốc gia Việt Nam tuyên bố sẽ không ký vào Hiệp định Genève với lý do hiệp định gây chia cắt Việt Nam và đẩy Quốc gia Việt Nam vào thế nguy hiểm. Đại diện phái đoàn Quốc gia Việt Nam ra một tuyên bố riêng:

« … chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở. »

—–

Hiệp định Genève có nội dung cơ bản như sau (bình luận trong ngoặc kép):

1. Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào công việc nội bộ 3 nước.

2. Các bên tham chiến thực hiện ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương

(không bên nào được phép chuẩn bị cho chiến tranh)

3. Các bên tham chiến thực hiện cam kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực, trao trả tù binh

(quân đội mỗi bên được rút về phần đất của mình, mà không được đưa quân xâm nhập vào vùng của đối phương)

4. Dân chúng mỗi bên có quyền di cư sang lãnh thổ do bên kia kiểm soát trong thời gian quân đội hai bên đang tập kết

(người dân nếu muốn di cư, họ không thể bị cản trở)

5. Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự,vũ khí nước ngoài vào Đông Dương. Nước ngòai không được đặt căn cứ quân sự tại Đông Dương

(sẽ nói kỹ ở dưới)

6. Thành lập Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương (tiếng Anh: International Control Commission, ICC; tiếng Pháp: Commission Internationale pour la Surveillance et le Contrôle, CISC) gồm Ấn Độ, Ba Lan và Canada, với Ấn Độ làm chủ tịch.

7. Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân sự tạm thời. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung về miền Bắc; Chính quyền và quân đội khối Liên hiệp Pháp tập trung về miền Nam. Khoản a, điều 14 ghi rõ: « Trong khi đợi tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân đội của mình tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ trách quản lý hành chính ở vùng ấy. »

Điều 6 Bản Tuyên bố chung ghi rõ: « Đường ranh giới quân sự tạm thời này không thể diễn giải bằng bất cứ cách nào rằng đó là một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ. »

Hiệp định Genève không có điều khoản nào quy định chi tiết về thời điểm cũng như cách thức tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam-Bắc Việt Nam. Nhưng Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève ghi rõ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956. Không nước nào ký vào Bản tuyên bố cuối cùng.

—–

Như vậy, Hiệp định không bắt buộc có Tổng tuyển cử vì không ai ký, nên lý do mà VNDCCH đưa ra là VNCH vi phạm Hiệp định cho Tổng tuyển cử là sai. Cái cớ để VNDCCH tấn công VNCH không thể chấp nhận được. Rất nhiều người Việt Nam bị lừa vì chuyện cắt xén chữ, bóp méo sự thực này.

Ngược lại, VNDCCH lại là kẻ đầu tiên vi phạm Hiệp định Geneve ngay từ khi các chữ ký chưa ráo mực.

VNDCCH đã vi phạm điều 2 và 3 khi chuẩn bị chiến tranh và cho lính xâm nhập VNCH, như ví dụ: « Nguyễn Đình Tỉnh quê ở thôn Phù Lưu, xã Lưu Nguyên, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông cũ, nay là thành phố Hà Nội. Ông Tỉnh tham gia Cách mạng tháng 4 năm 1945; vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 7 năm 1950, công tác ở ngành tình báo. Đầu năm 1955, ông được lệnh bí mật vào Nam, hoạt động trong vùng tạm chiếm… »http://www.qdnd.vn/…/vi-…/61/43/56/57/57/156198/Default.aspx

Trong khi người miền Nam được tự do tập kết ra Bắc, thì người dân miền Bắc bị cản trở. Ví dụ như, bị thông báo đã hết hạn, trong khi còn hạn di cư. Chỉ đường sai cho những nông dân. Khủng bố những người muốn di cư. Ngoài ý đồ làm giảm sức mạnh của miền Nam, thì miền Bắc còn chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử nếu có, vì với số dân bị ngăn cản di cư, họ sẽ có nhiều dân hơn miền Nam và do đó nhiều Nghị sĩ trong một quốc hội chung, nhờ chính sách khủng bố và « đảng cử dân bầu ». Cơ quan lựa ứng cử viên cho đảng là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời ngày 10/09/1955.

Từ năm 1954 qua 1975 đến nay, cộng sản nắm quyền miền Bắc 21 năm và sau đó 39 năm. Họ có đủ điều kiện, nhưng lại chưa bao giờ để cho người dân có được một cuộc bầu cử tự do. Vậy thì cái Tổng tuyển cử mà họ tưởng tượng cũng chỉ có thể là cái « đảng cử dân bầu », không hơn chẳng kém.

—–

Những lý do mà VNCH không coi trọng cái gọi là Tổng tuyển cử của VNDCCH được nói đến trong lá thư của VNCH gửi chính phủ Cộng hoà Liên Bang Đức ngày 26.04.1958 (http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=20077)

1) Họ hãy để cho 92 319 người và 1955 gia đình thực hiện ý nguyện của mình là được di cư về miền Nam, đơn của những người và gia đình này đã nộp cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, để những người này được đoàn tụ với gia đình của họ.

2) Họ nên giảm lực lượng quân sự của họ tương đương với miền Nam Việt Nam. Việc giảm bớt phải được xác nhận là đúng bởi một Ủy ban quốc tế hữu trách. Sau đó vấn đề giới hạn lực lượng quân đội của hai vùng mới được bàn thảo.

3) Họ cần phải xóa bỏ cái gọi là „Ủy ban Giải phóng miền Nam“, bằng cách từ bỏ khủng bố, giết dân cư của những làng mạc xa xôi hẻo lánh, phá hoại cơ sở Chính phủ nhằm cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt trong lĩnh vực cải cách ruộng đất và nông nghiệp.

4) Họ phải từ bỏ sự độc quyền kinh tế của đảng Cộng sản, để nhân dân miền Bắc Việt Nam được làm việc trong hoàn toàn tự do và qua đó, có thể tăng mức sống của họ hiện đã bị giảm xuống đến mức chưa từng có từ xưa đến nay.

5) Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng ca ngợi họ trong các bưu thiếp. Họ nên giải tán ban biên tập công tác tuyên truyền phục vụ bưu thiếp. Họ không được trả thù những người nhận hoặc gửi bưu thiếp.

6) Họ phải tôn trọng các quyền tự do dân chủ trong khu vực của họ như ở miền Nam và nâng cao mức sống của dân chúng miền Bắc, ít nhất được tương đương với dân chúng miền Nam; họ không được dùng chế độ vô nhân đạo của họ để làm cho khoảng cách giữa hai vùng lớn hơn nữa.

—–

Tóm lại: chính quyền VNDCCH (bắc Việt) đã không tuân thủ :

– chính sách di cư : ngăn cản người vào Nam, quân nhân CS không rút về phía bắc

– không truy tố những người đã hợp tác với đối phương : phân biệt đối xử lý lịch (cho đến ngày nay chưa hết)

– giảm trừ quân sự : tăng từ 7 lên 20 sư đoàn

– thành lập Ủy ban giải phóng miền Nam : ý đồ gây hấn chiến tranh thay vì thống nhất bằng con đường hoà bình

– không có tự do kinh tế : ngăn sông cấm chợ

– không có tự do thư tín, tự do chính trị : không có đối lập chính trị

– không có tự do dân chủ : từ khi ra đời, VNDCCH không có cuộc bầu cử tự do bầu nào ở trong những vùng họ có chính quyền

Như vậy, làm sao có thể đảm bảo một cuộc bầu cử tự do công bằng. Sau 40 năm xâm lược VNCH, VN cũng đã đâu có bầu cử tự do, huống chi vào năm 1956.

Ai còn có thể tin vào lời hứa, lời cam kết của CS? Ấy vậy mà hơn 50 năm về trước VNCH đã thấy rồi. bài học nào cũng phải trả giá, nhưng bài học này dân tộc VN trả quá đắt, mà vẫn còn chưa hết.

Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.

Phần 9: Ngày 9 tháng tư năm đó và … nếu.

Chắc ít ai biết, ngày này là một ngày quan trọng thay đổi thế giới. Ngày này, 09/04 cách đây đúng 150 năm, quân đội miền Nam, với Tổng thống Jefferson Davis và tổng tư lệnh Robert E. Lee, đã hạ súng đầu hàng quân miền Bắc, với Tổng thống Abraham Lincoln và tổng tư lệnh Ulysses S. Grant.

Ngày chính thức kết thúc cuộc nội chiến, cũng là ngày mà tướng Ulysses S. Grant cùng quân miền Bắc đứng nghiêm chào tướng Robert E. Lee với quân miền Nam không vũ khí rời chiến trận và trở về gia đình.

Cũng dễ hiểu, không ai hay gần như không ai biết, vì Mỹ chẳng có bao giờ kỷ niệm ngày này. Hàng năm, không. Mỗi 5 năm, không. Mỗi 10 năm, không. Mỗi 50 năm, không. 100 năm, cũng không.

Tại sao? Để có ngày đó, hơn 620.000 lính chết sau 5 năm đối đầu giữa 2 miền. Thành phố, làng mạc bị tàn phá. Người Mỹ nào có thể ăn mừng ngày đó? Chẳng ai cả, vì họ biết ngày họ là kẻ thắng và họ cũng là kẻ thua. Họ là một. Và như vậy, đồng lòng, không hận thù, họ cùng nhau đã vượt qua tất cả, kể cả vượt thế giới và trở thành cường quốc số một.

110 năm sau, lúc mà ai cũng biết Mỹ là cường quốc số một, thì lại có những kẻ độc ác, tham tàn, hợm hĩnh, bần tiện cũng kết thúc một cuộc chiến, nhưng chẳng học được gì từ Mỹ để đưa đất nước đuổi theo những nước lân cận không có gì nổi bật, chứ đừng nói mơ ước hơn.

Những kẻ chữ tác đánh chữ tộ đó đã cóp nhặt được chút ít Hiến pháp Mỹ đủ để lừa dân cướp chính quyền cho chúng, nhưng lại làm ngược lại những gì Mỹ đã làm. Có khác gì học « đau bụng, ăn nhân sâm … » mà thiếu « thì chết ». Và đất nước mà chúng đè đâu cưỡi cổ đang chết vì đau bụng (nghèo đói, cạn tài nguyên, mất biển, đảo, đất) và bị nhét nhân sâm (CNCS) vào miệng.

Nếu như, nếu như, … và nếu như.

Nếu như, miền Bắc Mỹ bị những kẻ khốn nạn cầm đầu lúc đó, thì quân miền Nam đã bị đưa hết vào các trại cải tạo, nhà tù trá hình. Nhà cửa của họ sẽ bị tịch thu hết. Vợ con của họ sẽ phải phục vụ những tên cướp và bị đày lên các vùng kinh tế, trại tập trung trá hình.

Thì nước Mỹ ngày nay đầy rẫy bọn tham nhũng hối lộ phè phỡn bằng tiền thuế của dân.

Thì nước Mỹ ngày nay tối ngày mang rá đi xin viện trợ, cầu cạnh ODA …

Thì phụ nữ Mỹ tìm cách thoát nước bằng cả cách cưới những người Mê Hi Cô già, bệnh hoạn … để đổi đời cho bản thân và cho cả gia đình

Thì mặt trận thứ 2 trong cả hai thế chiến không tồn tại do vắng Mỹ.

Thì Đức đã có thể thắng và nghiền nát cộng sản Liên Xô. Bởi vì, Đức sẽ có hậu phương vững mạnh ở phía Tây và Liên Xô không có sự giúp đỡ của Mỹ theo điều luật LLA (Lend-Lease Act) được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 11/03/1941 : không còn phong toả tiền của Liên Xô vì Lenin không chịu trả nợ 631 triệu $, bỏ cấm vận vũ khí vào Liên Xô, cho phép các công ty Mỹ quan hệ kinh tế Liên Xô, Liên Xô được phép mua vũ khí Mỹ.

31/07/1941, Mỹ cho Liên Xô 200 máy bay tiếp tế P-40. Ngày 07/11/1941, Mỹ cho Liên Xô vay 1 tỷ $ không lãi…. Viện trợ của Mỹ cho Liên Xô dừng vào ngày 12/05/1945, 4 ngày sau khi Đức đầu hàng. Không có viện trợ từ Mỹ và Anh, ngoài tiền còn có khoảng 18 triệu tấn hàng hoá, vũ khí, …, Liên Xô chỉ có thể chống cự Đức khoảng 1 năm http://www.persee.fr/…/a…/receo_0338-0599_1984_num_15_3_2510

Và nếu như Liên Xô đầu hàng Đức thì số nạn nhân trên thế giới sẽ ít hơn rất nhiều. Phát xít Đức, Ý, Nhật làm khoảng 30 triệu nạn nhân. Nhưng cộng sản thì gây gấp 5-10 lần số nạn nhân như vậy. Chỉ riêng ở đất nước gặp nạn cướp cộng sản, cuộc chiến huynh đệ Nam – Bắc do chúng gây ra đã làm chết 2-5 triệu người.

Và nếu như Liên Xô đầu hàng Đức, thế giới đã mở mắt với tội ác của phát xít từ 70-80 năm rồi sẽ lật đổ nó, chứ không bị chìm đắm trong mộng mị tội ác của cộng sản đến ngày nay mà còn chưa dứt.

Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.
Photo de Du Minh.

 

Thông tin cho rằng Blogger Điếu Cày « từ chối cầm cờ vàng » là hòan tòan sai sự thật.

29 Oct

http://www.diendannguoidanvietnam.com/index.php?option=com_content&view=article&id=4042:2014-10-28-1802-45&catid=44:tac-gi-nguyn-quang-duy&Itemid=9

Thông tin cho rằng Blogger Điếu Cày « từ chối cầm cờ vàng » là hòan tòan sai sự thật.

Các hình ảnh dưới đây chứng minh có hai lần hai người đưa cờ vàng cho Blogger Điếu Cày và ông ấy đã cầm. Nhưng bị người bảo vệ da trắng phía sau giằng lấy và trả lại cho chủ nhân.

Để rõ hơn xin mời quý vị xem Youtube ở phút 1:38 và phút 2:27.

  http://www.youtube.com/watch?v=xfmOINvN0IY          

                      Nguyễn Quang Duy

© Tác giả gửi đến Ban biên tập.
© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam

Sáng hôm qua 28/10/2014, nhiều nhóm dân oan Bắc – Trung – Nam

29 Oct

Dân oan Bắc Trung Nam khiếu kiện bị công an Hà Nội đánh đập, giằng cướp biểu ngữ

Trần Quang Thành (Danlambao) – Sáng hôm qua 28/10/2014, nhiều nhóm dân oan Bắc – Trung – Nam đã đổ về trụ sở tiếp dân 1 phố Ngô Thì Nhậm quân Hà Đông, Hà Nội yêu cẩu giải quyết các đơn thư khiếu nại mà bà con đã gửi đến suốt nhiều năm qua.
Đoàn người đi khiếu kiện đã giương cao các biểu ngữ tố cáo giới chức cộng sản các cấp bao che cho nhau cướp đoạt ruộng đất tài sản của dân, tham nhũng tràn lan, đầy hàng triệu gia đình vào cảnh màn trời chiếu đất, đói nghèo, các cháu nhỏ thất học, thanh niên không việc làm.
Công an Hà Nội đã huy động các lực lượng cảnh sát, phối hợp với dân phòng xô đẩy, đánh đập bà con dân oan, giằng cướp các biểu ngữ, giải tán các nhóm dân oan Bắc Trung – Nam đi khiếu kiện
Từ trụ sơ tiếp dân 1 Ngô Thì Nhậm, quận Hà Đông, chị Trương Thị Quang dân oan tỉnh Tiên Giang và chị Trần Thị Hài, dân oan tỉnh Bình Dương đã nói lên bức xúc của mình với phóng viên Trần Quang Thành.
Nội dung như sau. Mời quí vị theo dõi:
(Youtube PV chị Quang và chị Hài)

Thư mời tham dự buổi Hội Luận Truyền Thông với blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải

29 Oct

Thư mời tham dự buổi Hội Luận Truyền Thông với blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải

Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do và đài SBTN trân trọng kính mời quý vị đến tham dự buổi Hội Luận Truyền Thông với blogger Điếu Cày  – Nguyễn Văn Hải sẽ được tổ chức:
Thời Gian: 2 giờ trưa thứ Sáu, ngày 31 tháng 10, 2014
Địa Điểm: Đài Truyền Hình SBTN
10517 Garden Grove Blvd. Garden Grove, CA 92843
Trong buổi sinh hoạt này, blogger Điếu Cày, người vừa bị áp giải ra khỏi nhà tù để đến Hoa Kỳ sẽ chia sẻ những gì đã xảy cho ông qua 11 trại giam trong 6 năm rưỡi qua, những hướng hoạt động sắp tới, đồng thời cảm tạ những nỗ lực tranh đấu của cộng đồng người Việt trong và ngoài nước cho tự do của cá nhân ông cũng như tất cả những tù nhân lương tâm khác.
Sự hiện diện của quý vị sẽ là niềm khích lệ lớn lao đối với blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và đó cũng là bước đầu cho chặng đường đồng hành cùng nhau tranh đấu cho tự do báo chí cũng như dân chủ tại Việt Nam.
Trân trọng kính mời,
Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do và đài SBTN
*

Đài STBN sẽ tuyền hình trực tiếp toàn bộ buổi hội luận truyền thông trên hệ thống SBTN toàn thế giới.

*

Blogger Điếu Cày viếng thăm đài truyền hình SBTN, Trung Tâm Asia và Nhật báo Người Việt
Điếu Cày và Nhạc sĩ Trúc Hồ (ảnh Danlambao)
CTV Danlambao – Vào lúc 1 giờ trưa ngày 28.10.2014 Blogger Điếu Cày đã viếng thăm SBTN, Trung Tâm Asia. Đây là buổi hội ngộ đầu tiên của CLBNBTD với một trung tâm truyền thông hải ngoại và được xem là bước khởi đầu cho những kết nối chặt chẽ hơn giữa truyền thông tự do trong vào ngoài nước.
Tiếp đón anh Điếu Cày là nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài SBTN, anh Mai Phi Long trưởng ban tin tức của SBTN cùng nhiều nhân viên của đài.
Trong phần trao đổi thân mật, anh Trúc Hồ đã chia sẻ rằng anh xem blogger Điếu Cày là một người có tầm nhìn xa, tinh thần tranh đấu kiên cường nhưng nhân bản và đặt quyền lợi của dân tộc lên trên hết; với quá trình tranh đấu cho tự do báo chí và toàn vẹn lãnh thổ cũng như tinh thần bất khuất của anh trong suốt 6 năm 6 tháng tù đày, Điếu Cày là một người có khả năng và uy tín để nối kết người Việt trong và ngoài nước, xoá đi những khoảng cách trong ngoài, hiểu nhau hơn và cùng nhau sát cánh tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam.
Trong mục tiêu kết nối đó, SBTN và Trung Tâm Asia sẽ hỗ trợ hết sức mình cho những nỗ lực trong tương lai của blogger Điếu Cày và Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do. Đài SBTN với 12 năm hoạt động và nhiều chi nhánh tại Hoa Kỳ, Canada, Úc châu sẽ đồng hành cùng Điếu Cày cho những vận động của anh về tự do ngôn luận và nhất là sẽ phối hợp cùng CLBNBTD trong một chiến dịch vận động tự do cho blogger Tạ Phong Tần, một thành viên của CLBNBTD mà mẹ của chị đã tự thiêu để phản đối nhà cầm quyền đã đàn áp và cầm tù Tạ Phong Tần một cách bất công và trái phép.
Anh Điếu Cày cũng đã chia sẻ về những câu chuyện trong tù, đặc biệt là trường hợp của Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, về những bài nhạc mà những tù nhân bất khuất này vẫn tiếp tục sáng tác từ ngục tù. Điếu Cày cho biết tinh thần của Việt Khang và Anh Bình vẫn rất tốt.
Trao đổi với Trúc Hồ, anh Điếu Cày cho biết rằng ngay khi ở trong tù chúng ta vẫn có thể sử dụng được sức mạnh truyền thông, người tù vẫn có thể tranh đấu, tạo sự kiện, thông tin vẫn có thể được chuyển tải ra bên ngoài. Và chính nhờ vào sức mạnh truyền thông được lan toả từ bên ngoài mà đã có những kết quả dội ngược lại chốn lao tù dẫn đến những nhượng bộ của cai tù và tình trạng của tù nhân được cải thiện hơn.
Do đó, sự kết nối truyền thông trong và ngoài là một nhu cầu cần thiết và sự gặp gỡ giữa hai người đại diện CLBNBTD và SBTN là một bước đầu vô cùng tốt đẹp cho nhiều kết hợp khác với những cơ quan, tổ chức truyền thông hải ngoại khác.
Anh Điếu Cày đã thắp nhang tưởng nhớ cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng 
và Nhạc sĩ Việt Dũng tại Trung tâm Asia (ảnh DLB)
 
Ghé thăm SBTN studio (ảnh DLB)
 
Cùng với anh Mai Phi Long tại phòng thâu (ảnh DLB)
Trong tinh thần kết hợp truyền thông, blogger Điếu Cày cũng đã đến Nhật báo Người Việt vào lúc 3 giờ chiều cùng ngày. Tại đây anh đã trò chuyện với các đồng nghiệp báo chí của Người Việt trong suốt 2 giờ và chia sẻ những thông tin, những mẫu chuyện tranh đấu tại quê nhà trước và trong khi ở trong tù.
 Tại tòa soạn báo Người Việt (ảnh DLB)
Trao đổi với bạn đồng nghiệp (ảnh DLB)
Sau cùng blogger Điếu Cày cũng đã gặp gỡ xướng ngôn viên Bích Huyền của đài Bolsa (do nhạc sĩ Việt Dzũng điều hành trước khi anh qua đời. Buổi trao đổi thân tình đã kết thúc một ngày sinh hoạt rất thành công của blogger Điếu Cày cho những bước khởi đầu trong nỗ lực kết nối truyền thông của anh.
Ảnh DLB
Một mẫu chuyện nhỏ rất cảm động là trong buổi ăn tối với những bạn bè truyền thông, một phụ nữ đã bước đến bàn ăn chào anh Điếu Cày và chia sẻ: « Cháu đến Hoa Kỳ lúc còn bé và chỉ lo đi học đi làm, không quan tâm nhiều đến những sinh hoạt cộng đồng, không bao giờ nghe đài, đọc báo Việt ngữ. Nhưng gần đây cháu đã chú ý những tin tức trong nước và cháu nhận ra chú từ những bức ảnh đã nhìn thấy trên mạng. Nên cháu đến để chào chú và xin gửi một chút quà, mong chú nhận. »

Cô gái đồng hương, cô Bích Huyền và Điếu Cày (ảnh DLB)


Đây là một minh chứng cảm động về vai trò cần thiết của truyền thông trong việc đánh động sự quan tâm của người dân đối với những nỗ lực tranh đấu cho tự do dân chủ tại Việt Nam.

Ba kịch bản cho tương lai Việt Nam

22 Août

Để khích lệ tinh thần Chiến Đấu trước phiên tòa bất công tỉnh Đồng Tháp ngày 26/8/2014, xin mời anh em cùng nghe ca khúc Dậy Mà Đi.
https://www.youtube.com/watch?v=RTZGvMDT2b0

 

Ba kịch bản cho tương lai Việt Nam

Tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu, vẫn còn là câu hỏi rất khó với bất cứ ai quan tâm, lo lắng cho đất nước này. Nó khó như giải một phương trình gồm nhiều ẩn số. Trong đó, ẩn số quan trọng nhất, khó phán đoán nhất là các tính toán và cân nhắc của giới lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay.

Điều đó khẳng định rằng tương lai của đất nước phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của giới lãnh đạo.Cơ hội đã đến, mọi cánh cửa đã mở. Tiếp tục lối mòn xưa hay chuyển hướng đưa đất nước vào con đường phát triển theo văn minh của nhân loại.

Dựa trên sự phán đoán các tính toán và cân nhắc của giới lãnh đạo, có thể phác thảo ra ba kịch bản chính cho tương lai Việt Nam, như sau:
1. Trò chơi cân bằng trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc tiếp tục được áp dụng.
Đây là kịch bản dễ xảy ra nhất. Nó dựa trên sự suy luận rằng giữ chế độ là nhu cầu lớn nhất của giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay.

Theo kịch bản này, quan hệ Việt – Trung không còn ở mức «4 tốt, 16 chữ vàng» nữa, nhưng vẫn giữ ở mức «hai bên cùng có lợi». Lãnh đạo Việt Nam không đặt vấn để thoát hẳn ra khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc mà lợi dụng mối quan hệ này để củng cố chế độ. Đổi lại Trung Quốc không có thêm sự khiêu khích lộ liễu nào nữa ngoài Biển Đông, hoặc nếu có cũng dựa trên những thỏa thuận ngầm với lãnh đạo Việt Nam và được hai bên giữ kín. Trung Quốc không «làm xấu mặt» Việt Nam thêm nữa, để đổi lấy việc làm ngơ trước các kế hoạch xác định chủ quyền ở những khu vực Trung Quốc đã chiếm. Đợi một thời gian im ắng, Trung Quốc lại tiếp tục xây phi trường và căn cứ quân sự ở Gạc Ma, xây các ngọn hải đăng tại quần đảo Hoàng Sa.

Trong khi đó, những bước xích lại gần nhau giữa Mỹ và Việt Nam chỉ giữ ở mức «đủ để cân bằng với Trung Quốc». Mỹ được đáp ứng để thỏa mãn là Trung Quốc không hung hăng thêm nữa. Tình hình «nguyên trạng» như trước giàn khoan được cam kết giữ, đủ để hài lòng cả ba bên Mỹ, Trung, Việt. Cả Mỹ và Trung Quốc đều ngầm hiểu «mi không đụng đến lợi ích của ta, thì ta không đụng đến lợi ích của mi» như phương châm đã hình thành từ thời Thượng Hải 1972.

Một số lĩnh vực trong quan hệ Mỹ-Việt có thể tiến bộ nhất định. Nhưng không đạt đến mức Mỹ mong đợi, do Việt Nam không đáp ứng được đầy đủ những điều kiện mà phía Mỹ đưa ra. Những tiến bộ được giữ ở mức đủ để Mỹ đừng buông tay. Nhịp điệu «bắt thả» rất nhịp nhàng để đổi lấy việc thực hiện cam kết của Mỹ.

Những tiến bộ về dân chủ và nhân quyền, nếu có thì chỉ là hình thức bề ngoài. Tư tưởng đi theo Mỹ là mất đảng, là mắc mưu «diễn biến hòa bình» ít nhiều vẫn đang còn tồn tại trong giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã vừa tuyên bố tại Bộ Công an: «Dứt khoát không để nhen nhóm hình thành tổ chức chống đối phá hoại đất nước». Tuyên bố này đi ngược phát biểu dân chủ đầu năm, đã được ngài John Mc Cain «biểu dương» trong chuyến thăm vừa rồi tại Việt Nam.

2. «Đường lối mềm dẻo, khôn khéo» bị thất bại. Việt Nam bị kẹt trong xung đột về chủ trương của Mỹ và Trung Quốc. Quan hệ Việt-Trung dần trở nên căng thẳng. Quan hệ Việt-Mỹ được thúc đẩy nhưng không đủ để Mỹ can dự trực tiếp. Có khả năng đụng độ trên Biển Đông, trong đó Việt Nam được hậu thuẫn bởi vũ khí của Mỹ.

Kịch bản này là hậu quả chính sách «mềm dẻo, khôn khéo», trong khi Mỹ và Trung Quốc đều có tính toán riêng của mình.

Với Trung Quốc, sự kiện đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là một phần của kế hoạch của Trung Quốc vươn ra biển khơi, độc chiếm Biển Đông, hợp pháp hóa đường lưỡi bò và kiểm soát các đường hàng hải huyết mạch.

Những hành động mới đây của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ làm Trung Quốc rất nóng mắt. Họ tiếp tục tiến hành đồng loạt các biện pháp vừa hăm dọa, cưỡng ép và bắt chẹt đối với Việt Nam. Họ không muốn Việt Nam ngả quá nhiều với Mỹ để ngăn cản chủ trương trên của họ.
Thời gian tới, họ tiếp tục gây sức ép lên giới lãnh đạo để Việt Nam tiếp tục trấn áp các hoạt động chống Trung Quốc, gây rối làm bất ổn cả về kinh tế lẫn xã hội ở Việt Nam, làm các nhà đầu tư nước ngoài không dám tiếp tục đầu tư, dùng các biện pháp về tài chính và thương mại để khống chế Việt Nam chặt chẽ hơn.

Với Mỹ, các chuyến đi liên tiếp vừa rồi đến Việt Nam của Thượng nghị sĩ John Mc Cain và của Tướng George Martin Dempsey chứng tỏ Mỹ đã cảm thấy quá muộn trong những biện pháp ngăn chặn sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc. Việc các quan chức Mỹ có những phát biểu đầy «khích lệ» cho quan hệ Mỹ- Việt chứng tỏ Mỹ thật sự mong muốn có hậu thuẫn cho Việt Nam là mắt xích yếu nhất, nhưng đồng thời cũng là đối tượng chống lại Trung Quốc hiệu quả nhất, nếu được tăng cường sức mạnh. Một quan chức ngoại giao cấp cao của Mỹ cho biết một trong những yếu tố «thú vị» trong quan hệ Mỹ – Việt là «tâm lý chống Trung Quốc sâu sắc» ở Việt Nam.

3. Lãnh đạo Việt Nam buộc phải thay đổi với một kịch bản tương tự như đã diễn ra ở Miến Điện.

Ít có khả năng giới lãnh đạo Việt Nam tự nguyện thay đổi. Kịch bản này có thể xảy ra khi kịch bản đầu thất bại hoặc do một tác động bên ngoài như: sự nổi dậy của nhân dân, vỡ nợ hoặc sụp đổ về kinh tế, một biện pháp trừng phạt của các nước lớn (thí dụ như dự luật chế tài về nhân quyền Ed Royce HR4254).

Đây là kịch bản duy nhất có lợi cho nhân dân và dân tộc Việt Nam.
Kịch bản này cũng dựa trên suy luận rằng, có một nhân vật hoặc một nhóm lãnh đạo, có tư tưởng cải cách, tập hợp đủ lực lượng tạo ra một diễn biến như đã từng xảy ra ở Liên Xô và Đông Âu.

Tóm lại, phán đoán các kịch bản cho tương lai Việt Nam hầu tìm ra được mấu chốt quan trọng nhằm đẩy nhanh quá trình thay đổi, mau chóng đến với đất nước Việt Nam.

Là nhà lãnh đạo thì nhận cho mình trọng trách cao nhất đối với vận mệnh đất nước. Phải có đủ lòng dũng cảm và thành tâm chính trị, lãnh đạo quốc gia phải thực sự vì lợi ích của dân tộc, của đất nước, chứ không thể vì lợi ích của một đảng, một phe nhóm hoặc chỉ vì lợi ích cá nhân.
Là con dân Việt Nam, thì việc đòi hỏi để có được một cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc trong một quốc gia thịnh vượng, không thể chỉ còn là một lời thỉnh cầu mà phải ý thức tự đứng lên giành lấy nó. Xây dựng một xã hội dân sự mà trong đó mọi công dân Việt Nam quan tâm đến các tổ chức lãnh đạo đang điều hành đất đất nước, hiểu được cơ chế mà nó đang hoạt động, nắm được những biện pháp, chính sách mà các cơ quan này đang tiến hành. Tương lai, vận mệnh của mình nằm trong đó.
Việt Nam đang có cơ hội tốt để hướng tới một tương lai thực sự độc lập, dân chủ và tự do.

Đặng Xương Hùng
Nguồn: tintuchangngayonline.com

Ba kịch bản cho tương lai Việt Nam 

Tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu, vẫn còn là câu hỏi rất khó với bất cứ ai quan tâm, lo lắng cho đất nước này. Nó khó như giải một phương trình gồm nhiều ẩn số. Trong đó, ẩn số quan trọng nhất, khó phán đoán nhất là các tính toán và cân nhắc của giới lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay.

Điều đó khẳng định rằng tương lai của đất nước phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của giới lãnh đạo.Cơ hội đã đến, mọi cánh cửa đã mở. Tiếp tục lối mòn xưa hay chuyển hướng đưa đất nước vào con đường phát triển theo văn minh của nhân loại. 

Dựa trên sự phán đoán các tính toán và cân nhắc của giới lãnh đạo, có thể phác thảo ra ba kịch bản chính cho tương lai Việt Nam, như sau:
1.  Trò chơi cân bằng trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc tiếp tục được áp dụng.
Đây là kịch bản dễ xảy ra nhất. Nó dựa trên sự suy luận rằng giữ chế độ là nhu cầu lớn nhất của giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay.

Theo kịch bản này, quan hệ Việt - Trung không còn ở mức «4 tốt, 16 chữ vàng» nữa, nhưng vẫn giữ ở mức «hai bên cùng có lợi». Lãnh đạo Việt Nam không đặt vấn để thoát hẳn ra khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc mà lợi dụng mối quan hệ này để củng cố chế độ. Đổi lại Trung Quốc không có thêm sự khiêu khích lộ liễu nào nữa ngoài Biển Đông, hoặc nếu có cũng dựa trên những thỏa thuận ngầm với lãnh đạo Việt Nam và được hai bên giữ kín. Trung Quốc không «làm xấu mặt» Việt Nam thêm nữa, để đổi lấy việc làm ngơ trước các kế hoạch xác định chủ quyền  ở những khu vực Trung Quốc đã chiếm. Đợi một thời gian im ắng, Trung Quốc lại tiếp tục xây phi trường và căn cứ quân sự ở Gạc Ma, xây các ngọn hải đăng tại quần đảo Hoàng Sa.

Trong khi đó, những bước xích lại gần nhau giữa Mỹ và Việt Nam chỉ giữ ở mức «đủ để cân bằng với Trung Quốc». Mỹ được đáp ứng để thỏa mãn là Trung Quốc không hung hăng thêm nữa. Tình hình «nguyên trạng» như trước giàn khoan được cam kết giữ, đủ để hài lòng cả ba bên Mỹ, Trung, Việt. Cả Mỹ và Trung Quốc đều ngầm hiểu «mi không đụng đến lợi ích của ta, thì ta không đụng đến lợi ích của mi» như phương châm đã hình thành từ thời Thượng Hải 1972.

Một số lĩnh vực trong quan hệ Mỹ-Việt có thể tiến bộ nhất định. Nhưng không đạt đến mức Mỹ mong đợi, do Việt Nam không đáp ứng được đầy đủ những  điều kiện mà phía Mỹ đưa ra. Những  tiến bộ được giữ ở mức đủ để Mỹ đừng buông tay. Nhịp điệu «bắt thả» rất nhịp nhàng để đổi lấy việc thực hiện cam kết của Mỹ.

Những tiến bộ về dân chủ và nhân quyền, nếu có thì chỉ là hình thức bề ngoài. Tư tưởng đi theo Mỹ là mất đảng, là mắc mưu «diễn biến hòa bình» ít nhiều vẫn đang còn tồn tại trong giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã vừa tuyên bố tại Bộ Công an: «Dứt khoát không để nhen nhóm hình thành tổ chức chống đối phá hoại đất nước». Tuyên bố này đi ngược phát biểu dân chủ đầu năm, đã được ngài John Mc Cain «biểu dương» trong chuyến thăm vừa rồi tại Việt Nam.

2.  «Đường lối mềm dẻo, khôn khéo» bị thất bại. Việt Nam bị kẹt trong xung đột về chủ trương của Mỹ và Trung Quốc. Quan hệ Việt-Trung dần trở nên căng thẳng. Quan hệ Việt-Mỹ được thúc đẩy nhưng không đủ để Mỹ can dự trực tiếp. Có khả năng đụng độ  trên Biển Đông, trong đó Việt Nam được hậu thuẫn bởi vũ khí của Mỹ.

Kịch bản này là hậu quả chính sách «mềm dẻo, khôn khéo», trong khi Mỹ và Trung Quốc đều có tính toán riêng của mình.

Với Trung Quốc, sự kiện đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là một phần của kế hoạch của Trung Quốc vươn ra biển khơi, độc chiếm Biển Đông, hợp pháp hóa đường lưỡi bò và kiểm soát các đường hàng hải huyết mạch.

Những hành động mới đây của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ làm Trung Quốc rất nóng mắt. Họ tiếp tục tiến hành đồng loạt các  biện pháp vừa hăm dọa, cưỡng ép và bắt chẹt đối với Việt Nam. Họ không muốn Việt Nam ngả quá nhiều với Mỹ để ngăn cản chủ trương trên của họ.
Thời gian tới, họ tiếp tục gây sức ép lên giới lãnh đạo để Việt Nam tiếp tục trấn áp các hoạt động chống Trung Quốc, gây rối làm bất ổn cả về kinh tế lẫn xã hội ở Việt Nam, làm các nhà đầu tư nước ngoài không dám tiếp tục đầu tư, dùng các biện pháp về tài chính và thương mại để khống chế Việt Nam chặt chẽ hơn.

Với Mỹ, các chuyến đi liên tiếp vừa rồi đến Việt Nam của Thượng nghị sĩ John Mc Cain và của Tướng George Martin Dempsey chứng tỏ Mỹ đã cảm thấy quá muộn trong những biện pháp ngăn chặn sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc. Việc các quan chức Mỹ có những phát biểu đầy «khích lệ» cho quan hệ Mỹ- Việt chứng tỏ Mỹ thật sự mong muốn có hậu thuẫn cho Việt Nam là mắt xích yếu nhất, nhưng đồng thời cũng là đối tượng chống lại Trung Quốc hiệu quả nhất, nếu được tăng cường sức mạnh. Một quan chức ngoại giao cấp cao của Mỹ cho biết một trong những yếu tố «thú vị» trong quan hệ Mỹ - Việt là «tâm lý chống Trung Quốc sâu sắc» ở Việt Nam.

3.  Lãnh đạo Việt Nam buộc phải thay đổi với một kịch bản tương tự như đã diễn ra ở Miến Điện.

Ít có khả năng giới lãnh đạo Việt Nam tự nguyện thay đổi. Kịch bản này có thể xảy ra khi kịch bản đầu thất bại hoặc do một tác động bên ngoài như: sự nổi dậy của nhân dân, vỡ nợ hoặc sụp đổ về kinh tế, một biện pháp trừng phạt của các nước lớn (thí dụ như dự luật chế tài về nhân quyền Ed Royce HR4254).

Đây là kịch bản duy nhất có lợi cho nhân dân và dân tộc Việt Nam.
Kịch bản này cũng dựa trên suy luận rằng, có một nhân vật hoặc một nhóm lãnh đạo, có tư tưởng cải cách, tập hợp đủ lực lượng tạo ra một diễn biến như đã từng xảy ra ở Liên Xô và Đông Âu.

Tóm lại, phán đoán các kịch bản cho tương lai Việt Nam hầu tìm ra được mấu chốt quan trọng nhằm đẩy nhanh quá trình thay đổi, mau chóng đến với đất nước Việt Nam.

Là nhà lãnh đạo thì nhận cho mình trọng trách cao nhất đối với vận mệnh đất nước. Phải có đủ lòng dũng cảm và thành tâm chính trị, lãnh đạo quốc gia phải thực sự vì lợi ích của dân tộc, của đất nước, chứ không thể vì lợi ích của một đảng, một phe nhóm hoặc chỉ vì lợi ích cá nhân.
Là con dân Việt Nam, thì việc đòi hỏi để có được một cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc trong một quốc gia thịnh vượng, không thể chỉ còn là một lời thỉnh cầu mà phải ý thức tự đứng lên giành lấy nó. Xây dựng một xã hội dân sự mà trong đó mọi công dân Việt Nam quan tâm đến các tổ chức lãnh đạo đang điều hành đất  đất nước, hiểu được cơ chế mà nó đang hoạt động, nắm được những biện pháp, chính sách mà các cơ quan này đang tiến hành. Tương lai, vận mệnh của mình nằm trong đó.
Việt Nam đang có cơ hội tốt để hướng tới một tương lai thực sự độc lập, dân chủ và tự do.

Đặng Xương Hùng
Nguồn: tintuchangngayonline.com
Image

Hồ Sơ Tội Ác CSVN

2 Juin

10325637_648996475192844_38216877303364517_n

Image

CĂN BỆNH SỢ CHÍNH TRỊ CỦA NGƯỜI VIỆT.

26 Avr

Một bài viết ngắn rất hay ! Kính mời các bạn bỏ khoảng 3 phút để theo dõi.

 

CĂN BỆNH SỢ CHÍNH TRỊ CỦA NGƯỜI VIỆT.
« Thực chất chính trị gần gũi với người dân như cơm ăn nước uống hàng ngày »

Người Việt lâu nay vốn sợ chính trị. Nói chuyện với bạn bè trên FB, mình vẫn hay bắt gặp những câu đại loại như: « Thôi, nói chuyện khác đi, đụng tới ba cái chính trị nhức đầu lắm » hoặc « Rảnh quá ha, để thời gian đó làm chuyện khác có ích hơn… ».

Các trang Web giải trí bao giờ cũng đông lượng truy cập hơn hẳn các trang chính trị. Các ngôi sao ca nhạc, hài kịch biếng ăn, cảm cúm… hoặc tậu nhà, mua xe là có hàng vạn người theo dõi, nhưng diễn biến chính trị của đất nước thì rất ít người quan tâm.

Thế nhưng đây là đặc điểm của các nước có nền dân trí thấp. Ngày xưa các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vẫn hay than vãn về sự vô tâm của dân mình. Ngày nay nhiều người vẫn hay tỏ vẻ thương hại trước sự ngu ngơ,khờ dại của dân Bắc Hàn nhưng đâu biết rằng dân các nước phát triển nhìn mình cũng thế. Họ cũng nghĩ dân Việt Nam quá tội nghiệp, chẳng biết gì đến quyền của mình.

Chính trị là một khái niệm dễ gây dị ứng. Nó được hiểu như là một lĩnh vực khô khan, gây nhức đầu, chóng mặt, bất an… Không chỉ người lao động kiêng nói chính trị mà ngay cả giới trí thức cũng tránh xa nó như tránh hủi. Nói chính trị, làm chính trị, tham vọng chính trị… luôn được dùng với hàm ý mỉa mai.  Nó dường như là độc quyền của giới lãnh đạo và người dân chỉ được biết đến chính trị khi nào Đảng cần biến các nghị quyết của Đảng thành « hành động cách mạng ».

Thực chất chính trị gần gũi với người dân như cơm ăn nước uống hàng ngày. Chỉ có điều họ không nhận thức được điều này.

–        Giá xăng, giá điện,giá sữa…tăng liên tục là do đâu ?  Chính là do độc quyền kinh tế. Phanh phui vấn nạn này sẽ lòi ra các nhóm lợi ích. Là một vấn đề chính trị.

–       Cuối tháng nghe con cái xin tiền đóng học phí, bảo hiểm, quỹ lớp, sách giáo khoa, học thêm… Là vấn đề thuộc về ngân sách dành cho giáo dục. Cũng chính trị.

–       Vào bệnh viện bị chặt chém không thương tiếc tiền khám chữa bệnh…Lỗi cơ chế. Cũng chính trị.

Thế nhưng con người ta chỉ cảm thấy hơi thở của chính trị nóng rực bên tai mỗi khi có việc động chạm đến cửa quan. Chầu chực chờ đợi, bị khất hẹn lần lửa, bị lừa phỉnh, mất tiền vì nạn hối lộ tham ô… lúc đó họ mới thấy mình dại, chẳng biết gì về chính trị, về cách thức tổ chức của bộ máy nhà nước để ai nói sao nghe vậy, chẳng khác một con lừa.

Nói đến « dân chủ » người Việt chỉ biết đến một khái niệm mơ hồ là người dân làm chủ đất nước mình. Người ta không biết biểu hiện cụ thể của nó như thế nào. Cũng như người nông dân suốt đời chân lấm tay bùn… đâu biết đến cuộc sống tiện nghi nên chỉ một « nắm xôi » đôi khi cũng đủ để thỏa mãn. Họ đâu biết là nếu nước có dân chủ thực sự, họ sẽ tận hưởng được nhiều cái sung sướng như thế nào.

Trước tiên là lá phiếu của họ có thể quyết định đến các ông tai to mặt lớn mà họ vẫn nghĩ là đang nắm quyền sinh sát vận mệnh của họ. Nếu như dân các nước phát triển bằng mọi cách phải gởi cho được lá phiếu mình đi thì người Việt lại mang tư tưởng: « Không có mợ, chợ vẫn đông », việc mình có hay không tham gia bầu cử cũng chẳng ảnh hưởng gì đến sinh mệnh đất nước.

Dân chủ sẽ thúc đẩy kinh tế tạo ra thặng dư khiến phúc lợi xã hội lớn. Con cái họ đến trường sẽ được thầy cô giáo dục chu đáo. Vào bệnh viện, các bác sĩ sẽ săn đón, lễ phép chứ không đụng một chút là chửi như tát nước vào mặt. Ra đường gặp anh CA cũng được chào hỏi, thưa gửi đàng hoàng chứ không phải là thái độ hách dịch, lỗ mãng… Về già họ cũng sẽ được chăm lo đầy đủ về vật chất, sức khỏe chứ không phải bị bỏ mặc cho đến ngày ra nghĩa trang hoặc lò thiêu.

Như vậy, chừng nào người Việt vẫn sợ chính trị, vẫn chưa biết quyền của mình thì chừng đó họ vẫn còn bị đè đầu, cưỡi cổ, lá phiếu của họ vẫn chẳng hơn gì một tấm giấy đi vệ sinh. Họ vẫn để những ông nghị như Hoàng Hữu Phước làm đại diện cho họ, vẫn để những bà bộ trưởng như Nguyễn Thị Kim Tiến nắm trong tay vấn đề sức khỏe của họ. Cũng chỉ vì họ chưa biết rằng ngòi bút đôi khi sắc hơn lưỡi kiếm. Và mọi chính thể độc tài đều rất sợ tiếng nói chính trị của người dân. Không ai có thể cởi trói cho mình bằng chính mình. Nhưng suy cho cùng không phải ai cũng hiểu được điều này. Bởi nếu không thế nước đã chẳng phải HÈN như bây giờ.

Nguồn: FB Dương Hoài Linh – Hình minh họa: Internet

Những lời phát biểu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm

3 Nov

Những lời phát biểu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Trần Quốc Việt (Danlambao) – Nhân dịp năm mươi năm ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng bào đệ Ngô Đình Nhu bị sát hại trong cuộc đảo chính đẫm máu vào ngày 2 tháng 11, 1963, chúng tôi sưu tầm và trích dịch một số lời phát biểu sau của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Phát biểu tại National Press Club ở Washington, Hoa Kỳ với các nhà lãnh đạo Đông Nam Á thích chủ nghĩa trung lập, tức phong trào không liên kết, Tổng Thống Ngô Đình Diệm nói:
“ Vì cộng sản không trung lập, chúng ta không thể trung lập.”
New York Times, ngày 11 tháng Năm, 1957
Tổng Thống Ngô Đình Diệm phát biểu nhân dịp kỷ niệm bảy năm ngày cầm quyền tại Sài Gòn:
“Liệu ta có thể vẫn còn trung lập khi đối diện với sự quyết tâm hủy diệt có hệ thống này? Ta phải cương quyết bác bỏ và chiến đấu chống lại chủ nghĩa cộng sản cuồng tín hiếu chiến, kẻ thù của nhân loại, thay vì để cho mình bị tê liệt bởi sự tuyên truyền dối trá của cộng sản.”
New York Times, ngày 8 tháng Bảy, 1961
Tổng Thống Ngô Đình Diệm:
 
“Mục đích duy nhất của tôi là nước Việt Nam độc lập thật sự.”
New York Times, ngày 12 tháng Năm, 1957
Tổng Thống Ngô Đình Diệm phát biểu tại Hội đồng Thương mại và Công nghiệp Viễn Đông-Hoa Kỳ ở Detroit về chương trình cải cách ruộng đất qua đó ruộng đất được cấp cho những nông dân không có ruộng:
“Qua chương trình này, chúng tôi đáp lại những lời tuyên bố dối trá của cộng sản về cải cách ruộng đất. Chúng tôi cấp ruộng đất cho nông dân và chúng tôi thực hiện được điều này mà không cần đến những cách thức cưỡng chế và tịch thu vô nhân đạo.”
Harrison E. Salisbury, New York Times, ngày 15 tháng Năm, 1957
Tổng Thống Ngô Đình Diệm phát biểu tại Sài Gòn vào ngày 29 tháng Ba 1957 nhân dịp đón tiếp các đoàn đại biểu tham dự Đại hội lần thứ ba của Liên Minh Các Nhân Dân Chống Cộng Châu Á:
“Đối diện với nỗ lực phá hoại của cộng sản, chúng ta phải tuyên bố rằng những quy luật chi phối sự tiến bộ của nhân loại không chỉ mang tính chất kinh tế, rằng sự tiến bộ như thế cũng và trên hết được chi phối bởi những quy luật về đạo đức.
 
Chúng ta hãy dùng tình thương để chống lại sự căm thù mà cộng sản rao giảng. Lịch sử dạy chúng ta rằng sớm hay muộn cuối cùng chính sẽ thắng tà, sự thật sẽ thắng dối trá, tình thương sẽ thắng hận thù.”

Nguồn: Wilson Center Digital Archive
http://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/118361

Tổng Thống Ngô Đình Diệm phát biểu nhân dịp khánh thành Đập Đồng Cam ở Tuy Hòa vào ngày 17 tháng Chín, 1955:
“Chúng ta hiện nay đang tiếp tục cuộc chiến đấu lớn lao để hoàn thiện nền độc lập của quốc gia chúng ta và để đảm bảo tự do của nhân dân chúng ta. Cuộc đời của chúng ta, tự do của chúng ta, hạnh phúc của chúng ta và cuộc đời, tự do, và hạnh phúc của con cháu chúng ta đều phụ thuộc vào cuộc chiến đấu này. Nếu Việt Minh thắng trong cuộc đấu tranh này, quốc gia thân yêu của chúng ta sẽ biến mất và nước chúng ta sẽ chỉ được đề cập đến như là một tỉnh phía nam của Trung Cộng. Hơn nữa nhân dân Việt Nam sẽ mãi mãi sống dưới ách độc tài do Mạc Tư Khoa tạo ra và sẽ bị tước mất tôn giáo, tổ quốc và gia đình.”
Nguồn: Major Policy Speeches by President Ngo Dinh Diem
Vietnam Center and Archive.

Trần Quốc Việt

__________________________________
Phụ lục:
1. Cộng Sản vui mừng trước cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm
“Nhà báo Úc Wilfred Burchett kể rằng những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam chào đón cuộc đảo chánh như “món quà”. “Người Mỹ đã làm chuyện mà chúng tôi đã không thể nào làm được trong chín năm trời, đó là loại bỏ Diệm.”
Nguồn: Mark Moyar, JFK and the Seeds of Disaster in Vietnam, The Wall Street Journal 11/1/ 2013
2. Lời cảm ơn của Đức Đạt Lai Lạt Ma về sự giúp đỡ của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa sau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng với sáu chục ngàn người Tây Tạng vượt núi Hymalayas sang tị nạn ở Ấn Độ vào năm 1959 sau khi Trung Cộng xâm chiếm Tây Tạng
“Các tổ chức cứu trợ thiện nguyện ở nhiều nước đã giúp đỡ tiền bạc, hay thực phẩm, áo quần, hay thuốc men. Chính phủ các nước Anh, Mỹ, Úc, và Tân Tây Lan đã gởi quà để giúp chúng tôi giáo dục trẻ em, và chính phủ Nam Việt Nam đã gởi cho chúng tôi gạo. Chúng tôi rất cảm ơn tất cả những tấm lòng nhân ái này.”
Nguồn: My Land and My People, Memoirs of the Dalai Lama of Tibet, Potala Corporation, New York 1962, trang 225.
Concevoir un site comme celui-ci avec WordPress.com
Commencer