Bắt quả tang thằng ăn cắp… đảo của người khác đi bán!
22 JanGIẶC TÀU XUYÊN TẠC VÀ KỶ NIỆM NGÀY XÂM LƯỢC 6 TỈNH BIÊN GIỚI VIỆT NAM 17/02/1979
23 FévGIẶC TÀU XUYÊN TẠC VÀ KỶ NIỆM NGÀY XÂM LƯỢC 6 TỈNH BIÊN GIỚI VIỆT NAM
Bọn bành trướng Bắc Kinh xuyên tạc & kỷ niệm ngày xâm lược 6 tỉnh Biên giới của Việt Nam
Đôi lời: Có lẽ đây sẽ là cái tát, câu trả lời rõ nhất, vạch mặt những kẻ vẫn tìm mọi lý lẽ rằng phải giữ hòa bình ổn định, tình « hữu hảo », « 16 chữ vàng, 4 tốt » hòng lấp liếm cho ý đồ rắp tâm bán nước, làm tay sai cho Trung Cộng qua hành động đàn áp, ngăn cấm những người yêu nước khi họ tự tổ chức Lễ tưởng niệm các liệt sĩ Việt Nam đã hy sinh trong cuộc Chiến tranh Biên giới 1979 chống quân Trung Quốc xâm lược, cả những quyết định ngấm ngầm bịt miệng, tự bịt miệng báo chí không được đưa tin, bài mỗi khi tới ngày 17-2 hàng năm.
Bài 1:
News.ifeng.com
NGÀY 17.2.1979 NỔ SÚNG MỞ MÀN CUỘC CHIẾN
PHẢN KÍCH TỰ VỆ ĐỐI VỚI VIỆT NAM
17.2.2013
Nguồn: people.com.cn
Ngày 17.2.1979, theo lệnh của Quân ủy trung ương, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã buộc phải phát động cuộc chiến phản kích tự vệ với quân xâm lược Việt Nam ở vùng biên giới Quảng Tây, Vân Nam.
Ảnh : Trong cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam, các chiến sĩ đang ký tên trên lá cờ đỏ có dán dòng chữ « Tổ quốc trong chúng ta » tự làm
—-
Bài 2:
hxcy1965.blog.163.com
20.2.2013
–
Bài 3:
bbs.tiexue.net
17.2.2013
–
Bài 4:
CUỘC CHIẾN PHẢN KÍCH TỰ VỆ ĐỐI VỚI VIỆT NAM
19.2.2013
Phục hồi Hiệp Định Paris 1973 : Hoang tưởng hay hiện thực ? 40 năm hiệp định Paris: Vinh và Nhục
5 Jan40 năm hiệp định Paris: Vinh và Nhục
- Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được công nhận bởi Hiệp Định Geneva..
- Ngừng bắn trên toàn Việt Nam sẽ bắt đầu từ 27tháng 1 năm 1973: với tất cả các đơn vị quân sự ở nguyên vị trí. Mọi tranh chấp về quyền kiểm soát lãnh thổ sẽ được giải quyết bởi uỷ ban quân sự liên hợp giữa hai lực lượng của Việt Nam Cộng hòa và Chính Phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN. Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ và đồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ ra khỏi Việt Nam Cộng hòa. Các bên không được tăng cường binh lính, nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược hoặc vật liệu chiến tranh vào Nam Việt Nam, trong trường hợp để thay thế thì phải theo nguyên tắc một-đổi-một. Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục can thiệp quân sự vào « các vấn đề nội bộ » của Nam Việt Nam.
- Tất cả tù binh chiến tranh của các bên sẽ được trao trả không điều kiện trong vòng 60 ngày. Các tù nhân chính trị sẽ được trả tự do sau đó theo thoả thuận chi tiết của các phía Việt Nam.
- Miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát. Các bên tạo điều kiện cho dân chúng sinh sống đi lại tự do giữa hai vùng. Nhân dân Nam Việt Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua « tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế » – Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị…
- Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình.
- Để giám sát việc thực hiện hiệp định, một ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế và phái đoàn quân sự liên hợp bốn bên (gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hoa Kỳ, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà) sẽ được thành lập.
- Lào và Campuchia giữ vị trí trung lập và tự chủ, không cho nước ngoài được phép giữ các căn cứ quân sự trong lãnh thổ của hai nước này.
- Hoa Kỳ có nghĩa vụ sẽ giúp đỡ việc tái thiết sau chiến tranh, đặc biệt là ở miền Bắc Việt Nam và trên toàn Đông Dương, để hàn gắn các thiệt hại do chiến tranh.
- Tất cả các bên đồng ý thi hành hiệp định. Và hiệp định được sự bảo trợ của quốc tế thông qua việc các quốc gia ký nghị định thư quốc tế về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt nam.




Sáng kiến phục hồi Hiệp Định Paris 1973
Ủy Ban Luật Gia Việt Nam cũng không nhận được sự tiếp tay của Hoa Kỳ. Trước cuộc hội thảo một ngày, Ông David Steinman, một luật sư Hoa Kỳ và cộng sự viên của TNS Daniel Moynihan, đến gặp GS Vũ Quốc Thúc và cho biết rằng Hoa Kỳ không muốn cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu công khai tham gia hội thảo mà nên đứng sau hội trường. Ông Steinman cũng khuyến cáo rằng:
2. Lê Quế Lâm, “Những Đóng Góp Cho Đất Nước Sau 1975 Của Một Chứng Nhân Lịch Sử: GS Vũ Quốc Thúc,” Thụ Nhân Âu Châu, 16-7-2011.
3. Lê Quế Lâm, “Đọc Hồi Ký của GS Vũ Quốc Thúc,” Việt Thức, 28-12-2010.
4. Nguyễn Hữu Thống, “Hiệp Định Hòa Bình Paris Dẫn Đến Hòa Bình của Những Nấm Mồ,” Việt Vùng Vịnh, 2-6-2010.
5. Nguyễn Quốc Khải, “Sự Thật Phũ Phàng Về Hiệp Định Paris 1973,” RFA, 17-12-2012.
6. Nguyễn Quốc Khải, “Mạn Đàm về Chính Phủ Lưu Vong,” Đàn Chim Việt, 05-12-2012.
7. Nguyễn Thiếu Nhẫn, “Sự Vong Thân Của Một Vị Tôn Sư,” Tin Paris, 2-10-2011.
8. Paris Peace Accords, “Act of The International Conference of Vietnam”, March 2, 1973.
9. Trần Đăng Thanh, “Đại tá Trần Đăng Thanh giảng về Biển Đông cho lãnh đạo các trường Đại học,” Ba Sàm. 19-12-2012.
10. Trần Thị Diệu Tâm, “Buổi Giới Thiệu Sách của GS Vũ Quốc Thúc tại Paris,” 12-11-2010.
11. Trần Thị Diệu Tâm, “Tang Lễ của LS Vương Văn Bắc,” 28-12-2011.
12. U.S. Department of State, “Complaints of Violations of the Cease-fire: United States Note Verbale transmitted April 10, 1973 for delivery to prticipants in the International Conference in Vietnam,” April 10, 1973.
13. Vũ Quốc Thúc, “Thời Đại của Tôi,” nhà xuất bản Người Việt, 2010.
14. Đào Nương, “Chỉ Một Ngày Là Lập Xong Chính Phủ,” Saigon Nhỏ số 1019, 9-11-2012.
Bài diễn văn của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 24 tháng 10 năm 1972 (phần 1)
Bài diễn văn của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 24 tháng 10 năm 1972 (phần 2)
30 January 2013
Hai bức ảnh chụp sự kiện liên quan đến vụ tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết đại úy đặc công VC Nguyễn Văn Lém
Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã được báo cáo về những hành động giết người dã man của Nguyễn Văn Lém và chính ông đã hành quyết Nguyễn Văn Lém ngay tại phạm trường.
Hai bức ảnh chụp sự kiện liên quan đến vụ tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết đại úy đặc công VC Nguyễn Văn Lém ngay trên đường phố SG vào buổi trưa ngày 1/2/68 Tết Mậu Thân.
(NY16-Feb.1, 1968)–South Vietnamese soldiers stand near bodies of a South Vietnamese commander of a training camp and command center and members of his family after the camp was retaken from the Viet Cong. The commander, a colonel, was decapitated and his wife and six children were machine gunned. (AP Wirephoto via radio from Saigon)
Bức ảnh của hãng thông tấn AP gửi đi từ Sài Gòn ngày 1/2/1968, tức là mùng một Tết Mậu Thân. Có lẽ đây là bức ảnh chụp sự kiện liên quan đến vụ tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết đại úy đặc công VC Nguyễn Văn Lém ngay trên đường phố SG vào buổi trưa cùng ngày 1/2/68 Tết Mậu Thân, mà đã được ghi lại trong bức ảnh nổi tiếng của Eddie Adams, một bức ảnh theo nhiều người đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến tranh VN.
Nhân kỷ niệm 45 năm biến cố Tết Mậu Thân 1968, người Việt quốc gia hẳn không bao giờ quên những cảnh tượng tang thương đẫm máu do Cộng Sản Bắc Việt gây nên. Riêng ngành Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa (CSQGVNCH), có một câu chuyện thật, thật 100%. Câu chuyện ấy vang lừng khắp thế giới. Và, được kết thúc với nhiều đau thương, nghiệt ngã. Sau đó, kéo tới việc « người bạn đồng minh » Hoa kỳ bán đứng và VNCH bị bức tử; hàng triệu người Việt nam đã phải bỏ nước ra đi tỵ nạn CS tại các quốc gia Tự do trên khắp thế giới, và hàng vạn quân, cán, chính VNCH phải trải qua bao nhiêu năm tháng tù đày, tủi nhục… trong các trại giam trá hình dưới mỹ từ « trại tập trung cải tạo ».
Thư khẩn của 144 nhân sỹ trí thức kính gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
2 NovTâm Thư cảm ơn gởi các vị Nhân sỹ trí thức đã vận động cho bạn Nguyễn Phương Uyên và thông báo khẩn của sinh viên
– Thư khẩn của 144 nhân sỹ trí thức kính gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
– Khi trời tối đen ta mới thấy các vì sao
– « Đất nước không chiến tranh, sao đau thắt trong lòng »
– Sự khác biệt của thông tin lề Dân và lề đảng qua một bản tin
– Phương Uyên con gái Sông Phan
– Yousafzai và Phương Uyên: “Bút và Thép”
Thư khẩn của 144 nhân sỹ trí thức kính gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
Những sản phẩm bẩn thỉu của những bộ óc khốn cùng
8 AoûtNhững sản phẩm bẩn thỉu của những bộ óc khốn cùng
Khi một đất nước đưa đội quân của mình vào vùng lãnh thổ nước khác mà không được mời, không được sự thỏa thuận thì đương nhiên đó là hành động xâm lược. Tổ quốc đang bị xâm lược, điều đó đã rõ ràng, bọn bá quyền Trung Cộng đã ngang nhiên điều động quân lực, công cụ đến chiếm đóng lãnh thổ đất nước chúng ta.
Cái gọi là Thành phố Tam Sa do Trung Cộng lập nên trên lãnh thổ Việt Nam.
Khi Tổ quốc bị xâm lăng
Tàu Trung Cộng ngang nhiên đánh cá trên vùng biển Việt Nam
Thế nhưng, trên nhiều phương diện, đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam đã tỏ rõ sự khúm núm và ươn hèn trước bọn giặc xâm lược, điều đó không phải chỉ trên bình diện quốc tế mà ngay cả những người dân trong nước đều thấu rõ. Chính vì vậy mà người dân đã thấy trách nhiệm của mình trước sự tồn vong của lãnh thổ, của non sông. Nhiều hoạt động khác nhau biểu lộ tinh thần yêu nước của nhân dân đã tự phát dâng cao làm cho nhà cầm quyền Hà Nội lâm vào thế buộc phải cởi bỏ cái mặt nạ làm lộ ra bộ mặt thật của mình.
Biểu tình yêu nước và chống biểu tình yêu nước tại Bờ Hồ sáng 5.8.2012
Sáng 5/8/2012, dù nhà cầm quyền Hà Nội đã dùng nhiều lực lượng, nhiều món võ bẩn thỉu khác nhau để ngăn chặn người dân tập trung thể hiện lòng yêu nước của mình. Nhưng lòng yêu nước của nhân dân thì có gì có thể ngăn cản được, những người yêu nước vẫn cùng nhau tập trung lên tiếng vì Tổ Quốc. Bất chấp những lòng dân sôi sục, bất chấp mọi ánh mắt căm hờn, ba đợt bắt bớ đàn áp liên tục diễn ra đối với đoàn biểu tình ngay trong sáng 5/8/2012 nhưng tinh thần yêu nước của nhân dân vẫn trào lên như sóng bất chấp hiểm nguy, bất chấp mọi khó khăn.
Họ đã hành động vì điều gì?
Trưa 5/8/2012, Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội (PT-THHN) – được coi là cơ quan của Đảng bộ cộng sản và chính quyền Hà Nội – cô phát thanh viên với vẻ rất nghiêm trọng và hớn hở đưa bản tin như sau: “quần chúng nhân dân và lực lượng an ninh đã phát hiện và bắt quả tang một số đối tượng đang phát trả tiền công cho những người tham gia biểu tình” và còn “sẽ phản ánh rõ nét” chi tiết việc “biểu tình ăn tiền này” trong bản tin thời sự buổi chiều cùng ngày vào lúc 18h30″.
Thế nhưng, kể cả buổi truyền hình lúc 18h30 và cả những buổi sau đó, Đài PT-THHN cũng đã không đưa ra được bất cứ một chứng cứ nào? Đánh giá thế nào về sự lừa đảo nhân dân này?
Tuyên truyền bịa đặt, sản phẩm của những bộ óc bệnh hoạn và dối trá
Những người có kinh nghiệm với những cơ quan tuyên truyền của Hà Nội như Hà Nội mới, Đài PT-THHN, báo An ninh Thủ đô… hẳn không thấy lạ gì với những màn biểu diễn đê tiện, kệch cỡm và thô bỉ kiểu này. Nhiều tấn trò khác nhau đã được sử dụng còn bẩn thỉu hơn, độc địa hơn mà họ đã dùng, nhiều người đã chứng kiến sự thật mà họ còn làm được, thì ba cái màn vu cáo kiểu này hẳn không có gì đáng phải lạ.
Người ta còn nhớ rõ, trong vụ Tòa Khâm sứ, Thái Hà, từ việc giả dạng giáo dân để đưa đến nhà thờ phỏng vấn bị vạch mặt, đến vụ bố trí cởi áo bộ đội giả dạng giáo dân trả lời truyền hình… Rồi những màn truyền thông lấy râu ông cụ cắm cằm ông sư, chuyện dùng hình kiểu này giải thích minh họa kiểu khác nhằm bôi nhọ, đả kích nhân dân làm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc thì mấy tờ báo này thuộc hạng thượng thừa.
Không chỉ có họ dựng chuyện qua vài chi tiết, dựng những người đã chết cách cả… 6 năm để phỏng vấn mà thậm chí còn có cả những bài báo giả danh giáo dân để nói về những việc liên quan đến giáo hội, nhưng thủ đoạn này đã bị vạch mặt.
Cứ tưởng rằng với một bộ phận giáo dân nhỏ bé, hiền lành thì đám truyền thông bịp bợm này mới thò ngón nghề này ra, nào ngờ với cả những người dân yêu nước, với vận mệnh dân tộc họ cũng chẳng từ. Mà việc đó không chỉ một mà là nhiều lần. Nhiều người nói rằng, sự bịa đặt dối trá hiển nhiên như vậy, tại sao vẫn cứ để xảy ra? Trả lời câu hỏi này không khó, chỉ cần biết rằng đó là đặc trưng của nền báo chí định hướng XHCN là có thể giải thích mọi điều. Với nền báo chí đó, thì mọi chuyện luật lệ, khiếu kiện, tố cáo v.vv. đều là chuyện đùa của trẻ con. Giáo dân Thái Hà đã có thừa kinh nghiệm khi vấp phải ván bài cùn của các cơ quan này. Ngay cả với những người biểu tình yêu nước, chống Trung Cộng xâm lược, đây cũng không phải là lần đầu tiên.
Tuy nhiên, đằng sau việc bêu riếu, bôi nhọ và bịa đặt về những người yêu nước trước dư luận là gì?
Chỉ cần một logic suy luận đơn giản như sau: Trước họa xâm lăng, những công dân Việt Nam thể hiện lòng yêu nước bằng hình thức biểu tình chống Trung Cộng xâm lược. Những kẻ chống lại người yêu nước là ai? Họ đang đứng về phía nào trong cuộc chiến xâm lược và chống xâm lược? Mục đích của việc kết án người yêu nước là gì, họ đang làm việc cho tổ chức nào? Có phải vì Tổ Quốc Việt Nam đang lâm nguy?
Học tập và làm theo… được gì?
Mấy năm nay, đảng CSVN và nhà nước VN tập trung hô hào và tổ chức rầm rộ cái gọi là “Học tập và làm theo Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”. Một cuộc vận động hết sức tốn kém và hình thức. Vậy họ đã học tập được những gì qua đó?
Chưa cần đi sâu, nói đến Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng biết rằng đó là tư tưởng Cộng sản mà thế giới đã nói đến quá nhiều. Cũng chưa cần nói đến cái đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm những mục nào như với gia đình ông bà bố mẹ thì đạo đức ra sao, cần học tập điều gì ở đạo đức Hồ Chí Minh khi đối xử với vợ con v.v… Chỉ cần kiểm tra lại mấycâu nói được cho là của Hồ Chí Minh cũng đã thấy rằng nhà cầm quyền Hà Nội đã không thuộc bài, ngược lại những cuộc vận động học tập và làm theo kia hình như không có tác dụng lắm. Chẳng hạn:
Khi Tổ Quốc bị xâm lăng, công dân biểu thị lòng yêu nước của mình đã bị công an truy bức rằng “Ai xúi giục”? Đặc biệt Truyền hình Hà Nội, báo HNM… nhằm thóa mạ tinh thần yêu nước của nhân dân đều nằng nặc cho rằng các cuộc biểu tình đó đều do các thế lực xấu kích động và lợi dụng. Có lẽ những công an, cán bộ công quyền đã không thuộc câu nói của Hồ Chí Minh tại Đền Hùng là: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Nếu cho rằng có ai xúi giục lòng yêu nước, đi biểu tình chống Trung Quốc, thì câu nói này là câu trả lời cho hệ thống công an, chính quyền HN. Đây đích thị là những sự kích động lòng yêu nước của nhân dân chứ cần tìm đâu cho mệt.
Thậm chí, khi những người biểu tình hô vang Đả đảo Trung Quốc xâm lược thì bị bắt? Vậy câu nói “Hễ còn một tên xâm lược nào trên đất nước chúng ta, thì ta còn phải chiến đấu, quét sạch nó đi” của Hồ Chí Minh có còn ý nghĩa?
Nhận tiền biểu tình yêu nước và nhận tiền đàn áp biểu tình yêu nước. Ai có tội?
Một con bài khá quen thuộc trong hệ thống báo chí nhà nước VN là dùng vấn đề tiền bạc, kinh tế để bôi xấu những ai họ cần bôi xấu. Cách thường là tung tin rằng những đối tượng nọ, đối tượng kia đã nhận tiền bạc của nước ngoài để làm những việc như họ muốn kết tội. Trong cuộc biểu tình yêu nước ngày 5/8/2012, Đài PT-THHN cũng đã dùng đến con bài bẩn này. Đài PT-THHN lớn tiếng tuyên bố rằng: “quần chúng nhân dân và lực lượng an ninh đã phát hiện và bắt quả tang một số đối tượng đang phát trả tiền công cho những người tham gia biểu tình”.
Tiếc rằng đó chỉ là những lời nói làm trò cười cho thiên hạ mà không có một bằng chứng nào dù đã trịnh trọng hứa trước nhân dân. Thật đểu khi chuyện đó lại xảy ra ở một Đài truyền hình Thủ đô.
Chuyện này cũng tương tự khi nhà cầm quyền Hà Nội cướp đất của Giáo xứ Thái Hà phân lô chia chác. Khi bị giáo dân ngăn cản đòi lại, thì giở bài cù nhầy bạo lực. Cũng những cuộc đọc kinh cầu nguyện của giáo dân buộc nhà cầm quyền phải biến thành vườn hoa, liền bị tuyên truyền rằng “đi cầu nguyện được phát tiền”. (Sic).
Rõ ràng, những điều bịa đặt từ các cơ quan tuyên truyền nói trên là không thiếu. Chỉ có điều, nhiều khi tôi cứ nghĩ về phương diện cá nhân, những người đã làm công việc bẩn thỉu đổi trắng thay đen đó có bao giờ họ nghĩ về hậu quả của những việc làm hôm nay? Điều băn khoăn này tôi đã có lần viết trong “Thư gửi một nữ phóng viên Truyền hình“.
Nhưng, nếu như có chuyện nhận tiền bạc thì sao? Họ sẽ có tội gì?
Rõ ràng, kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay, nhà nước này gắn liền với chuyện nhận tiền bạc của nước ngoài chứ không ai khác. Kể từ thời Chống Pháp rồi đánh miền Nam, đến khi đánh Trung Cộng và kể cả những khi đánh dân, vũ khí, đạn dược, tiền bạc đều có liên quan đến nước ngoài. Sự liên quan đó đến mức mà chính Hồ Chí Minh – lại cũng là Hồ Chí Minh – đã tự hào rằng: “Nhân dân dũng cảm và cần kiệm, các nước anh em giúp đỡ nhiều”.
Thế rồi sau những năm hệ thống cộng sản sụp đổ mà không biết nương tựa vào đâu, nhà cầm quyền HN đã hướng đến những ông chủ nợ mới. Rồi cứ thế, hàng năm, hàng tháng các khoản tiền nước ngoài cứ chảy vào Việt Nam để gánh nợ lên đầu nhân dân ngày càng chất cao như núi và quan chức thì cứ tham nhũng như rươi. Thậm chí những ai kêu gọi nhận được nhiều tiền nước ngoài còn được tung hô và vinh danh. Còn khi bọn “nước ngoài” cắt viện trợ đối với Việt Nam, thì báo chí la oai oái. Đó là chưa nói đến khoản kiều hối hàng năm gửi vào Việt Nam là một con số khổng lồ mà Thông tấn xã VN còn cho rằng đó là những “mùa vàng bội thu”, nếu thiếu nó, chắc không tránh khỏi những khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam.
Không chỉ là phương diện nhà nước, về phương diện cá nhân, đã có thời có tin đồn rằng Thủ tướng đã nhận 150 triệu đola trong vụ đưa Trung Cộng vào khai thác Boxit Tây Nguyên. Tuy nhiên, sau đó cơ quan nhà nước đã thông báo bác bỏ tin đó. Vậy còn bao vụ cũng tin đồn khác nhưng không thấy cơ quan nhà nước ra thông báo bác bỏ thì sao? Chẳng hạn tin đồn về vụ một cựu Tổng Bí thư nhận 1 triệu đôla của Tập đoàn LG Hàn Quốc, sau đó không thấy thông tin nào cải chính mà người ta chỉ thấy ông Đỗ Mười đã tặng một ngôi trường trị giá 9 tỷ đồng tại Hà Nội.
Vậy nhưng chưa có điều luật nào cấm nhận tiền hoặc nhận tiền từ nước ngoài. Vậy nhận tiền hoặc nhận tiền nước ngoài có tội gì? Tại sao Truyền hình HN cố tình bịa đặt chi tiết đó để bôi xấu người yêu nước.
Đã từ lâu, ở Việt Nam cả hệ thống tuyên truyền đã hùa nhau gây nên một cảm giác cứ nước mình là vĩ đại, là tốt còn nước ngoài thì chỉ có xấu trở lên. Nếu nước ngoài có tốt, thì chỉ là “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ” – (Việt Phương) – mà thôi. Vì thế việc có quan hệ với nước ngoài là một trọng tội không cần kết án. Như trên đã nói, đó là hậu quả của truyền thông tuyên truyền méo mó theo kiểu “người ghét nhưng của thì ưa” ở Việt Nam đến nay.
Nhưng, trong một nhà nước pháp quyền, điều đó không thể cứ lập lờ đánh lận con đen nhằm bưng bít sự thật và lừa bịp dư luận.
Sự thật là gì? Người ta chưa thấy việc có người đi biểu tình yêu nước cũng như đi cầu nguyện được phát tiền, nhưng rõ ràng là cả hệ thống công an, an ninh, dân phòng, thanh niên xung kích và kể cả đám “xã hội đen” đóng vai quần chúng tự phát đến phá rối, bắt bớ, thậm chí cả hệ thống báo chí, truyền hình Hà Nội… đều đã nhận tiền từ túi tiền của nhân dân để chống phá những người yêu nước.
Ngược lại, nếu có ai dùng tiền bạc của mình để nhân rộng lòng yêu nước, thì đó là những việc làm phải được hoan nghênh.
Những đồng tiền từ túi tiền của nhân dân đóng thuế, chắc chắn chỉ để xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ Quốc, nhất định không phải dùng để trấn áp những người yêu nước. Hành động đó là phản bội lại chính nhân dân và đất nước này.
Những kẻ phụ họa cho hành động đó, không khác gì hơn là những kẻ đã bán đứng linh hồn mình cho bọn giặc xâm lược.
Những hành động đó không đánh lừa được ai, ngược lại chỉ thể hiện sự khốn cùng của trí tuệ những kẻ bịp bợm mà thôi.
Hà Nội, ngày 8/8/2012
J.B Nguyễn Hữu Vinh
42 công dân đề nghị tổ chức cuộc biểu tình tuần hành phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc
31 Juil31/07/2012
42 công dân đề nghị tổ chức cuộc biểu tình tuần hành phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc











































Khối 8406 tuyên bố về hiện tình Việt Nam 30/07/2012
30 JuilKhối 8406 tuyên bố về hiện tình Việt Nam
Ngày 22/7 – Toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước xuống đường bảo vệ quê hương
21 JuilNgày 22/7 – Toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước xuống đường bảo vệ quê hương
David Thiên Ngọc (Danlambao) – Không còn chần chừ hay nghi ngại gì nữa. Giặc ngoại xâm Bắc phương đã ngang nhiên xâm lấn cõi bờ đất nước, biển đảo quê hương VN ta. Ta phản đối một thì chúng lấn lướt hai, ba.
Vài lời với lãnh đạo công an Sài Gòn trước lời kêu gọi tổng biểu tình ngày 22/7/2012
Nguyễn Chí Đức – Đối với một người có lý trí tối thiểu, lòng tự trọng khiêm tốn, bất kì ai dù có hâm mộ cuồng nhiệt Hồ Chí Minh cỡ nào cũng nên đồng ý với tôi rằng: tên tuổi cụ Hồ không nên và không thể được đặt cho bất kì một tỉnh lỵ nào trên lãnh thổ Việt Nam…
Biển động gợn sóng
19 JuilThứ năm, ngày 19 tháng bảy năm 2012
Biên tập viên Tân Hoa xã phản đối ‘thành phố Tam Sa’
|
Việc thiết lập “thành phố Tam Sa” là bước đi sai lầm nhất và không sáng suốt nhất của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Nam Hải (Biển Đông). Cách làm sai trái ấy không chỉ tạo ra tiền lệ quốc tế, mà còn trở thành trò cười quốc tế, tất sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh quốc tế của Trung Quốc
Biên tập viên Tân Hoa XãChu Phương
|
Theo Sina.com, Zhoufang.blshe.com
Ngư dân VN bị tàu nước ngoài tấn công
![]() |
| Việc bị tấn công, uy hiếp trong thời gian gần đây khiến đời sống các ngư dân Việt Nam ngày trở nên khốn khó |
Cả hai tàu cá mang số hiệu CM 95842 TS và CM 91088 TS chứa tổng cộng 11 ngư dân đang hoạt động đánh cá ở khu vực Vịnh Thái Lan tại thời điểm bị tấn công hôm thứ Ba 17/7.
Trả lời phỏng vấn BBC ngày 19/7, ông Lưu Văn Sơn, Chính ủy bộ đội biên phòng tỉnh Cà Mau cho biết: “Ngư dân cho biết tàu nước ngoài xuất hiện, tiến gần và dùng súng bất ngờ tấn công họ”.
“Những viên đạn cắm trên người các nạn nhân là loại đạn ria, sử dụng trong các loại súng dùng để đánh bắt cá.”
Ông Sơn cho hay, cả năm thuyền viên bị thương nặng đang được điều trị tại bệnh viện trên đảo Phú Quốc, Kiên Giang và hiện đã qua cơn nguy kịch.
“Cả năm người hiện đã tỉnh táo và chúng tôi sẽ bắt đầu lấy lời khai để phục vụ công tác điều tra vào ngày 20/7” – ông nói.
Theo ông chính ủy, các ngư dân cho rằng tàu nước ngoài tấn công họ là của Thái Lan.
Bộ đội biên phòng tỉnh Cà Mau hiện đã đưa hai tàu bị nạn về thị trấn Sông Đốc, Khánh Hội, quận U Minh.
Lực lượng này cũng cho hay đang gấp rút tiến hành lấy lời khai cũng như khám xét vật chứng để phục vụ cho công tác điều tra để có thể công bố kết quả sớm nhất lên phía Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau.
Thời gian gần đây, các tàu cá Việt Nam liên tục bị uy hiếp, tấn công bởi các tàu nước ngoài khiến đời sống ngư dân Việt Nam trở nên khốn đốn và việc đánh bắt cá xa bờ càng lúc càng trở nên nguy hiểm.
Hiện Tượng “Con Đường Việt Nam”
12 JuinChính Trị không hề là một Đặc Quyền của bất cứ một ai. Mọi con dân trong một xứ sở đều có trách nhiệm tham gia Chính Sự sao cho đất nước khả dĩ đạt được một chế độ cai trị nhẹ nhàng và phù hợp với nhân tính nhất, trong đó Quyền Tự Do Tư Tưởng và Bổn Phận Tôn Trọng Tự Do của kẻ khác phải được đề cao nhất. -LTC-
TỔ QUỐC TRÊN HẾT
Wednesday, June 20, 2012
Hiện Tượng “Con Đường Việt Nam” và Thực Trạng Nham Nhở Của Giới Đối Kháng Việt Nam – Lê Tùng Châu
…Trên đây là một vài nhận định trực tiếp từ hiện tượng Con đường Việt nam này, đọc tới đây hẳn bạn đọc không khỏi tạm kết luận là: ông Long không phải là tác giả thực của Con đường Việt nam.
Tác giả thực là kẻ khác, dấu mặt và có dụng ý gì, tiến trình ra sao, sẽ đi đến đâu…đòi hỏi chúng ta phải thận trọng tỉnh táo chờ thời gian tới với các diễn biến mới sẽ giúp ta nhận rõ sự thực. Không thể chỉ mới ngày một ngày hai mà đã có thể có câu trả lời gì cho Hiện Tượng Con đường Việt nam này.
Lê Tùng Châu
Phân Tích và diễn dịch từ sự kiện
Nếu tạm chấp nhận “Con đường Việt Nam” là do ông Lê Thăng Long viết và phát động, chúng ta hãy đi từ chính sự kiện này, và bằng phương pháp diễn dịch một cách thận trọng, ta sẽ thấy nhiều điều.
Bản Văn
Đọc “Con đường Việt Nam”, tôi thấy văn phong của bản văn này có gì đó chung chung, mơ hồ.
Giả thử chúng ta đang ở trong bối cảnh Việt Nam Hậu Cộng Sản, và cả nước đang trên đường tạo lập tự do dân chủ, mà các thế lực mới đang còn tranh chấp, trong đó đảng CS chưa bị giải tán hoàn toàn, thì bản văn này có vẻ hợp cảnh hợp tình chút ít.
Còn hiện tại, đảng CS vẫn ngồi lù lù án ngữ đó, thì đọc “Con đường Việt Nam” thấy có cái gì lạc lõng, mù mờ, có cái gì cố ý lạc đề, tránh né ở đây! Ngôn phong cũng nhiều chỗ tối nghĩa, kỳ cục, chữ quen nghe và quen dùng là Nhân Quyền thì được né tránh bởi “quyền con người” (theo lối nói “tụ tập đông người” thay vì Biểu Tình rất đuợc Hanoi ưa dùng!!!)
Coi kỹ sẽ thấy trong đó không nêu rõ ai phải đấu tranh với ai, dẹp bỏ cái gì? tạo dựng cái gì? Ai nhũng lạm quyền hành để chiếm đoạt nhân quyền? Ai có tội gây ra bất công (vốn ngày càng dày đặc và đầy dẫy trong đất nước Việt Nam)? Ai phải bị xử? Ai sẽ được minh oan, phục hồi? Ai sẽ được đền bù vì đã chịu quá nhiều bất công bởi bạo quyền CS??? Hoàn toàn không có trong bản văn này.
Một dân oan, hay một nạn nhân của một đất nước vô luật (luật rừng), bất công và giả trá, tham nhũng… mà đọc bản văn này sẽ chẳng thích, chẳng có gì hấp dẫn họ vì nó né tránh và nhạt nhẽo trước thực trạng bi đát quá trầm trọng của xã hội hiện tại.
Cơ cấu thể chế, pháp lý và sự vận hành “con đường” ấy ra sao? Nên nhớ, khi bước vào lĩnh vực chính trị điều hành 1 quốc gia thì lập trường trong hiểu biết tối thiểu của 1 trí thức như ông Long đã phải có sẵn trong đầu là Việt Nam không còn cộng sản (thì mới có nhân quyền, dân quyền!) sẽ theo Thể Chế gì?
Bản văn na ná một bài Giáo Khoa nhạt nhẽo nặng vẻ Lý Thuyết cho sinh viên quốc gia hành chánh năm dự bị chứ không phải lời hiệu triệu trong 1 công cuộc đầy máu và nước mắt bỏng sôi này của dân tộc.
Con Người
Giả định, ông Lê Thăng Long là người viết “Con đường Việt Nam”, rồi lập 2 Weblog (1 ở blogspot, 1 ở wordpress) để khởi xướng phong trào “Con đường Việt Nam”, khi trình làng, đã có hơn chục bài viết dưới dạng biên khảo nhỏ -có cả bản dịch ra Anh ngữ, nhiều thư gởi các nhân vật chóp bu của Hanoi hiện tại, và nhất là danh sách nhiều người được mời “tham gia sáng lập” phong trào…, ta thấy gì? Đó là ông Long ra tù ngày 4/6, đến ngày 10/6 là hoàn tất 2 Weblog và hàng loạt bài viết, lên danh sách người được mời…
Ông Long có thể làm được như thế chăng trong 1 thời gian quá ít ỏi?
1- Mới ra tù, thường thì như BS Lê Nguyên Sang hay Mr. Nguyễn Bắc Truyển, hay LS Lê Thị Công Nhân, hay LS Nguyễn Văn Đài…thảy họ đều im, không phải vì họ ngưng đấu tranh, mà vì bạo quyền cấm nói. BS Lê Nguyên Sang vừa vào tới Sài Gòn (10/6/2011 ) cho biểu tình 12/6/2011 thì đã bị Công an cộng sản hốt về Đà Nẵng là 1 ví dụ.
Một thực tế gần gũi nhất, là một người ở tù CS từ 4/6/2009 (đã 3 năm qua), mới ra tù, người đó cần bao lâu để phục hồi sức khỏe và phong độ để tiếp tục trên đường đấu tranh? Phải mất hàng tháng trời cho việc ăn ngủ, tẩm bổ phục hồi cho cơ thể, và nhiều ngày tháng nữa để lấy lại tinh thần, cập nhật tình hình xã hội biến động bên ngoài mà 3 năm qua người tù kia đã bị lạc nhịp. Cho dù có “bàn trước với 2 anh Thức và Định” như ông Long nói, thì làm sao Lê Thăng Long có thể nhảy ra lập ngôn lung tung chỉ mới 7 ngày trong khi gọng kìm của “bầy sói hoang” vẫn đang chực chờ kia?? (*). Và làm sao bảo đảm là 2 anh Thức, Định đã đồng ý cùng Lê Thăng Long cho việc phát động này? Chỉ nghe ông Long nói mà thôi!
2- Trên thực tế, một người tự do ở ngoài này, mà chịu khó học hỏi và làm việc quen tay với Net, Computer, html…cho quen thuộc tính ý của blogspot, wordpress…vừa viết các bản văn, vừa lập Blog, chỉnh sửa giao diện cho đẹp mắt, viết bài chỉnh sửa câu chữ từng dấu phẩy cho chỉn chu, lại còn dịch sang Anh ngữ nữa…phải mất hơn 2 tuần mới hoàn thành tạm những gì mà Lê Thăng Long trình làng vừa rồi, đó là nếu anh ta dành toàn thời gian để chỉ làm việc ấy mà thôi. Đó là kinh nghiệm từng làm việc của chính tôi khi phát biểu như vậy.
Một người ở tù đã 3 năm, vốn là doanh nhân chớ không phải chuyên viên IT thì ra tù ngày 4/6/2012, đến ngày 10/6/2012 cho publish tất cả những gì như Lê Thăng Long làm vừa rồi kể cả email mời hàng trăm « người đồng sáng lập » …theo tôi là bất khả.
Có rất nhiều tên tuổi trong List mời của Lê Thăng Long vào tháng 6/2009 chưa nổi lên, mới trở về từ hỏa ngục CS (thì ngay cả giá hiện thời của 1 tô phở, 1 lit xăng chưa chắc đã biết) làm sao mà ông Long lại biết tất tần tật mọi người đang sinh động hoạt động kể cả địa chỉ email của họ để gởi thư?
Hẳn là phải có 1 « bộ sậu » làm sẵn những thứ này nếu “Con đường Việt Nam” là thực và Lê Thăng Long có đồng chí ở ngoài làm sẵn. Nhưng ông Long có đồng chí như thế không?
Nếu có, một hay nhiều người ấy có chường mặt ra ngay gặp ông Long để bàn bạc và tiếp nối thống nhất mọi thứ khi công bố có 7 ngày sau khi ra tù vậy không? Chắc chắn là không vì họ đã giữ bí mật bấy nay, thì không dưng lại ló mặt ra ngay? Họ sẽ dò xét và sẽ « làm tiếp » một cách dè chừng thận trọng hơn.
Nếu không, thì hẳn phải do Ai Đó làm và Lê Thăng Long đồng ý (hoặc bị áp lực) đứng tên tác giả cho cái phong trào “Con đường Việt Nam” như thế.
Với một người tù trong vụ “lật đổ chính quyền” nổi tiếng 3 năm trước với các tên tuổi Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, mà cái gọi là “Tòa án” của Hanoi cáo buộc các anh và tống giam từ 4/6/2009, nay Lê Thăng Long ra tù trước hạn 6 tháng và vội vã trình làng « Con đường Việt nam » chỉ vẻn vẹn trong thời gian không tưởng 7 ngày như đã nói, thì Ai Đó chỉ có thể là ai?
Với lập luận vắn tắt trên, cho dù ông Long hay thân phụ của anh Trần Huỳnh Duy Thức lên tiếng xác nhận đi nữa, làm sao người ta tin được??? Vì nó phi lí!
3- Tự thân việc viết « Con đường Việt nam » với ý nghĩa mù mờ (như đã trình bày ở trên) lẫn việc mời số quá đông người vào vai « đồng sáng lập » là ngớ ngẩn nếu không nói là vô nghĩa vì làm sao (và buồn cười thay!) GS Nguyễn Quang A có thể đứng chung với tên hề thế kỷ Ng minh Triết hay Mss Ng Cao Kỳ Duyên?
Thư mời có mẫu chung là: « …Tôi viết thư này thay mặt cho những người khởi xướng phong trào CON ĐƯỜNG VIỆT NAM mời Ông trở thành người sáng lập của phong trào này để giúp nó lớn mạnh nhằm góp phần vì một Việt Nam dân chủ và thịnh vượng…. » ngoài cái nghĩa chung chung, mơ hồ, nó còn cho ta thấy là vô duyên vì bất khả!
Nan đề chính của mọi nan đề tại Việt Nam hiện tại là độc tài và bất công. Chính quyền hiện tại là bất hợp pháp vì không do dân bầu. Việt Nam cần vùng thoát ra khỏi kiếp nạn cộng sản độc tài chớ không phải đang thái bình yên ổn rồi cần « Con đường Việt nam » để dân chủ và thịnh vượng…!!! Trong hoàn cảnh thực tế tại VN lúc này, 2 chữ dân chủ và thịnh vượng là mơ hồ, cố ý lạc đề, tránh né. (Ai lại đi gầy nên 1 phong trào mù mờ như thế nhỉ???)
Vì làm sao trong gọng kìm đàn áp bằng bạo lực và chà đạp, bất chấp pháp luật của chính chế độ này, một phong trào như thế có thể hình thành chứ đừng nói là lớn mạnh được? Giáo Sư Nguyễn Quang A mới vừa lội ra Hồ Gươm để biểu tình chống Trung cộng thôi mà đã 3, 4 công an CS bám theo ngăn trở đòi xét giấy tờ xe gắn máy do con trai ông chở đi? Thế là ông bỏ mặc đấy và đành phải lội bộ ra nhập vào đoàn biểu tình.
Trong trận chiến không cân sức giữa bạo quyền có tổ chức với 1 tốp trí thức tiên phong ô hợp mà chúng nó muốn bẻ gãy ai, bẻ cái gì…là chả ai ngăn cản (như việc chị Bùi Hằng hay vụ NX Diện, cụ LH Đức…) thì những gì mà « Con đường Việt nam » gào lên có gì mới? có gì hiệu quả? và làm sao mà Tổ Chức Đội Ngũ trước bầy sói hoang đang chực chờ như thế????
Và giả thử nếu tất cả gần 250 người được mời mà đồng ý hết thì số đông này sẽ gặp nhau ở đâu để hội họp, bàn bạc? khi làm việc chung như thế (…để giúp nó lớn mạnh nhằm góp phần vì một Việt Nam dân chủ và thịnh vượng…) thì ngân quỹ ở đâu? Địa điểm nào đủ to rộng chứa hết số đông ấy? chưa kể sẽ có các hãng tin ngoại quốc tác nghiệp lẫn bầy đàn “báo” đỏ đến cùng “chung vui” nữa, thì lúc ấy ai bảo vệ họ khỏi bị đánh hộc máu như 2 ông Ngọc Năm và Phi Long của VOV trong vụ cướp đất Văn Giang 24-4-2012 vừa qua?
Giả thử (lại giả thử) tổ chức được cuộc họp bàn với hai trăm mấy chục người như thế đi, thì để tiến hành « Con đường Việt nam », sẽ phải thống nhất bầu bán, hoàn thiện cơ cấu tổ chức để đi vào hoạt động, sẽ phải mất rất nhiều ngày, thế lúc ấy chế độ Hanoi nó để yên cho các ông làm sao? Hãy xem Thượng Tọa Thích Không Tánh (Vụ Trưởng Vụ Từ Thiện của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất) chỉ mở cửa chùa cho một ít dân oan từ miền Tây lên Saigon kiện tụng đất của họ bị cướp vào trú tạm, có chỗ nghỉ ngơi cơm nước qua đêm rồi mai lại đi, thế mà ngay tức khắc, một bầy chó săn công an cộng sản xúm lại trước cổng chùa lớn tiếng đe dọa đòi Thượng Tọa phải mở cổng để chúng vào chùa mà bắt bớ nông dân, thì thử hỏi cái tính kém tưởng tượng của tác giả thực của “phong trào Con đường Việt nam » kia nó tệ hại như thế nào???
Hơn nữa, số người được mời “đồng sáng lập” có rất nhiều khuynh hướng, cương lĩnh khác nhau, làm sao họ chịu dẹp bỏ hết những cái riêng của mình lâu nay để về đứng cùng nhau một cách ngoan ngoãn như trong mơ vậy?
Một phong trào cách mạng chính trị hay xã hội thường hoạt động gần như một đảng phái, bên dưới có nhiều thành viên, thường do một vài nhân sĩ đứng đầu tiên phong, dẫn dắt, trình bày đường hướng, cương lĩnh và thường chỉ hiện hữu trong các quốc gia tự do dân chủ nhằm tự vận động để thủ đắc lá phiếu của cử tri trong các cuốc bầu cử Hành Pháp hay Lập Pháp. Đó là cách thế hợp pháp, chính danh duy nhất để tham chính, đem tài sức của mình ra phụng sự xã hội.
Tại Việt Nam, các em SVHS mới ra « biểu tình ngồi » bệt chống Trung cộng ở nhà thờ Đức Bà Saigon thôi, đã bị an ninh cộng sản giả dạng dân phòng xông tới hỏi giấy tờ, đòi xua đuổi, giải tán…thì việc 1 phong trào vận động tới những gần 250 người là một cái gì bất thường, phi lí và khôi hài.
Chỉ Ra Kết Luận Tạm
Trên đây là một vài nhận định trực tiếp từ hiện tượng Con đường Việt nam này, đọc tới đây hẳn bạn đọc không khỏi tạm kết luận là: ông Long không phải là tác giả thực của Con đường Việt nam.
Tác giả thực là kẻ khác, dấu mặt và có dụng ý gì, tiến trình ra sao, sẽ đi đến đâu…đòi hỏi chúng ta phải thận trọng tỉnh táo chờ thời gian tới với các diễn biến mới sẽ giúp ta nhận rõ sự thực. Không thể chỉ mới ngày một ngày hai mà đã có thể có câu trả lời gì cho Hiện Tượng Con đường Việt nam này.
Những Trò Lừa Lịch Sử của Cộng Sản
Cho đến nay, ai quan tâm và có hiểu biết về các chế độ độc tài cộng sản đều không quên những lừa bịp của nó, đơn cử một vài như dưới đây:
– Thời Staline thanh trừng nội bộ ở Nga 1936, 1937, 1938, cả thế giới tự do vô cùng ngạc nhiên khi những đồng chí cũ một thời lẫy lừng chiến công với Lénine gậy dựng nên Bolshevik cướp chính quyền từ tay Nga Hoàng 1917 như Zinoviev, Kamenev, Smirnov, Evdokimov, Radek, Bakaev, Dreitser, Piatakov, Sokolnikov, Sérébiakov, Toukatchevsky (Thống chế, chỉ huy hồng quân Nga), Yagoda, Boukharine, Kretensky, Rakovsky…đều lần lượt bị đưa ra các phiên tòa đặc biệt (đều cùng do 1 Công cáo Ủy viên Vychinsky) và đều bị xử bắn.
Tất cả họ đều bị buộc tội phá hoại kinh tế hoặc đồng lõa làm phản cùng với Trotsky (lúc này đã bị lưu đày biệt xứ và sống tại Mễ Tây Cơ (Mexico), cho đến tháng 8/1940 thì bị người của Staline sang tận nơi ám sát (Ramón Mercader, nhân viên cục tình báo Nga NKVD).
Đó là cả những “vụ án” đẫm máu, kỳ quặc lẫy lừng của của chế độ Soviet thời Staline. Ngày nay nhiều quan sát viên hoặc sử gia đã tìm thấy nhiều bằng chứng cho thấy các “tội trạng” do các phiên tòa nói trên là bịa đặt. Nhưng điều kỳ quặc nhất là trong các vụ án đó, hầu hết bị can đều thú tội trước tòa. Cũng có 1, 2 người chối, chống tội áp buộc nhưng lại cũng kỳ lạ thay, sau một đêm suy nghĩ, sáng mai họ lại ngoan ngoãn nhận tội trước tòa. Lạ lùng hơn, không hiếm những phiên đối chất, Công cáo Ủy viên buộc tội thì ít mà các bị can tự nhận thêm tội là nhiều??!!! Tấn tuồng thật quái đản khiến thế giới văn minh phương Tây không sao hiểu được.
Trong cuốn tiểu thuyết lừng danh “Ngày và Đêm” (nguyên tác Đức ngữ: Sonnenfinsternis, tựa Anh ngữ: Darkness at Noon, tựa Pháp ngữ: Le Zéro et L’infini, by Arthur Koestler, nhà văn Hungary, xb 1940), tác giả đã lấy vụ Piatakov làm điển hình để cố phân tích tâm lý, tìm hiểu vì sao các lãnh tụ Bolshevik cừ khôi một thời lại nhận chịu sự ô nhục, nhận chịu đã phản bội, và tự thú tội để rồi bị đem bắn??!!! Staline quả đã phát minh ra những kỹ thuật phi nhân tân kỳ nhằm hạ nhân phẩm con người mà trước ông ta chưa từng thấy trong lịch sử?!!! Và đồng thời đã che mắt được cả thế giới vì chẳng thể nào phản kháng hoặc bêu rếu Staline được vì rõ ràng bị can tự nhận tội rất là “thành khẩn”. Thế giới phải mất bao công sức và bao nhiêu thời gian mới lật hết được mặt thật của những trò lừa che dấu giả trá đó?
– Thời 1945, chuyện Marshall (đặc phái viên của TT Mỹ Truman) bị Mao lừa nhiều lần. Ôm sứ mạng « hòa giải » sang Trung Hoa, Marshall ngây thơ đến nỗi không biết bộ mặt gian trá của Mao, không biết Mao là cộng sản, (thực chất đang là 1 cánh tay mặt của Staline) bỏ về Mỹ khi nhiều lần hòa giải « nội chiến Mãn Châu » không thành, và khuyên Truman đừng giúp Tưởng Giới Thạch, vì nhận định Tưởng « hiếu chiến », còn cộng quân của Mao là quân lính có tinh thần dân tộc, ái quốc!!!
– 1952, Nga sô thao diễn quân đội mời các đại biểu Tây phương đến dự, Nga cho trình bày loại oanh tạc cơ khổng lồ Bisons lúc đó Nga mới có 9 chiếc nhưng làm giả tới 50 chiếc và dùng gián điệp tung tin là sang 1954 Nga sẽ có tới 500 chiếc. Mỹ hoảng, quốc hội bàn cãi đả kích chính phủ, chính phủ vội cho cấp tốc sản xuất loại oanh tạc cơ khổng lồ đặt tên là B52 ngày nay. Biết Mỹ mắc đòn lừa, Nga bỏ sản xuất Bisons và dồn tiền vào nghiên cứu hỏa tiễn không gian.(**)
Có ai thông thái bằng các triết gia, họa sĩ, thi sĩ như ông Bertrand Roussel, Jean Paul Sartre, Pablo Picasso, Tagore (Rabindranath, 1861-1941) v.v…của thời thập niên 60 hãy còn hết lời ca tụng cộng sản, chống chiến tranh Việt Nam, có cảm tình với cộng sản Hanoi; hay cô đào cởi truồng Jane Fonda của Mỹ còn qua Hanoi mặc quần xì với áo bộ đội do Trung cộng viện trợ, đội nón cối, chụp ảnh chung với khẩu cao xạ và lính phòng không VC…năm 72.
Để rồi mười mấy năm sau đó, khi chiến tranh Việt nam kết thúc, bộ mặt tàn ác gian trá lạnh lùng của Hanoi lộ diện hẳn, đám Mặt Trận GPMN bị vắt chanh bỏ vỏ phải bỏ chạy tan tác, người Việt miền Nam vượt biển tìm tự do hàng loạt, thế giới lúc ấy mới nói lên lời thống hận muộn màng. Ông triết gia khả kính Bertrand Roussel tự thú tội, trùm hiện sinh J. P. Sartre âm thầm vận động đóng 1 tàu nhỏ tình nguyện băng ra biển đông vớt người Việt Nam vượt biên, còn Jane Fonda có nguy cơ bị ra trước tòa án binh Mỹ vì tội thân thiện với quân địch trong khi Mỹ lâm chiến và mới đây cô đã tự nói lên lời thú tội)……….
Vài đơn cử trên để thấy rằng, lừa dối là vũ khí chính yếu của địch. Tuy tung ra nhất thời và nhuốm vẻ “hot”, nó sẽ chuyển biến, muôn hình vạn trạng và hãy bình tĩnh chú ý, nó chỉ có thể lừa được những ai quá ham hố, nóng vội nông nổi và nhiều lười biếng suy tư, ít chịu khó tự vấn tự hỏi trước một “hiện tượng lạ” để tự kết luận một cách hồ đồ cảm tính cho xong 1 nan đề rối rắm.
Còn nhớ trước người tù Lê Thăng Long, còn những Đỗ Nam Hải, Lê Công Định, Nguyễn Minh Hoàng.
Đỗ Nam Hải bị công an CS đem cha mẹ, con, cháu tới đồn công an khóc lóc để áp lực anh “ký” vào giấy ngưng hoạt động trong Khối 8406 VN. Khi anh ký, thì 1 tờ báo web hải ngoại mau mắn cho chạy bản tin: « Thủ Lĩnh Dân Chủ đầu hàng ».
Ls Lê Công Định khi bị cộng sản tung video clip (lúc ấy chưa có ra “tòa” CS, chưa có “bản án”), thì 1 “nhà dân chủ” hải ngoại đã viết:
« Tôi vừa viết bài thơ tặng Lê Công Định trên Talawas mới chỉ cách đây hai tiếng đồng hồ.
Vừa đi về, lướt trên mạng, đọc ít dòng thấy bán tin bán nghi, liền ngó vào Vietnamnet, thì đúng vậy. Lê Công Định đã thú nhận tội và xin khoan hồng!
Lê Công Định đã khiếp nhược quá nhanh, ngoài trí tưởng tượng của bao nhiêu người. (Talawas, 18/06/2009 | 11:33 chiều |) »
Tôi không muốn nêu tên báo web hay người viết những dòng trên vì không cần thiết, nhưng ai có theo dõi chặt chẽ diễn trình đấu tranh kháng cộng tại Việt Nam trước nay đều biết là đã có thật. Có một cái gì đó bạc bẽo, vội vã và phản phúc của quần chúng trước biết bao khó khăn, áp lực mà người tù đang phải gánh chịu.
Cả người chủ mưu lẫn kẻ bị lừa đều ấu trĩ khi nghĩ rằng ký tên, nhận tội là xong, là hết, không đấu tranh nữa. Nếu như vậy thì làm gì có cách mạng, làm gì có lật đổ, làm gì có liên tiếp nhưng chế độ độc tài bị lật đổ (sau sụp đổ của cộng sản thế giới) trong Arabe Spring vừa qua và đang còn diễn ra?
Tôi tin chắc ngày sắp tới đây, khi chế độ Hanoi đã cáo chung, ta sẽ biết rõ sự thực những vụ vừa nói: Lê công Định, Trần anh Kim, Nguyễn tiến Trung, Nguyễn Minh Hoàng (thảy họ đều nói “lời khoan hồng” bị quần chúng bạc bẽo khinh khi). Và chắc chắn rằng những sự thực đó phức tạp và đau lòng lắm. Có ai tự hỏi chính mình rằng, nếu mình ở vài hoàn cảnh đó của mấy anh, mình có làm gì khác hơn mấy anh không?
Nên nhớ, còn bước trong trường chính trị thì trò lừa còn theo ta dài dài. Một gương bị lừa dài và đau thương bởi cộng sản Hanoi với màn công diễn Mặt Trận GPMN -nhóm Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát thuở nào chưa nguôi quên sao? Những kẻ già tuổi, sõi đời như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát mà còn tức hộc máu khi bị Duẩn Thọ đá đít sau khi chiếm được miền Nam, thế mà bài học lịch sử còn mới toanh đó có ai chịu học không?
Những trò lừa ấy càng tinh vi thì càng đưa đối tượng nhắm tới để lừa là quần chúng…vào mê hồn trận. Là người có học, là “chiến sĩ”, chúng ta phải biết cách thoát ra mê hồn trận đó, kẻo không, chúng ta đã vô tình tiếp tay cho kẻ thù mà triệt hạ người anh em của mình, và đó mới chính là mục tiêu của địch. Khi biết ra sự thật thì ân hận, dày vò lương tâm bao nhiêu cho vừa??? Mà có ích gì không???
Cách Thế chia rẽ của Giới Đối Kháng
Hiện đa số anh em góp tiếng vụ Con đường Việt nam bằng cảm tính chứ không có phương pháp và đọc trong hầu hết các phê bình nhận định, nó tố cáo người viết đứng ở mảnh đất riêng tư chứ không cùng nắm tay đoàn kết trong một thể thống nhất ý chí chống lại bạo lực bịt miệng và bất công. Đó là điều đáng buồn.
Ngay cả vài người ở hải ngoại vẫn thiếu cung cách làm việc hợp lý: tham gia ý kiến trong 1 sự kiện chính trị, xã hội, thì phải bằng phương thức tranh biện, nghĩa là những ý kiến của mình phải có « chân », tức là có kèm dẫn chứng, suy diễn một cách hợp luận lý, chớ mà nói suông!!!
Không thể vì yêu vì ghét mà nói một cách tùy tiện, vô bằng. Nói bậy tùy thích thì hạ mình xuống hàng mấy bà bán cá ngoài chợ ghen ghét nhau chửi bố này mẹ kia…như kiểu những dòng của tay tự xưng là “nhạc sĩ và nhà thơ” mắng là “Con đường vô liêm sỉ của Lê Thăng Long (17/06/2012)”. Nó thấp hèn và chẳng có ích gì hết!
Kẻ thì ngày trước vỗ tay hoan hô ngày sau mắng người ta “LTLong là con cờ của CSVN để hạ cánh an toàn”??? Kẻ thì « tin LTLong và bằng hữu của anh », kẻ thì mắng lời mời là « rác » “quăng bom”, “trò mèo”, v.v…toàn là lời lẽ cảm tính vô bằng chứ không trưng ra dẫn chứng mang tính luận lý! Chắc gì các ngài đúng không? Sao các ngài cứ coi ông Long là riêng mà chẳng dính dáng gì tới các ngài hết vậy, trong khi tất cả chúng ta đang làm việc chung trên 1 trận tuyến là chống độc tài lừa dối và áp bức bất công?
Những loại góp tiếng ấy khi đọc xong, người ta quên ngay, vì nó là ý riêng của một người, chả phải cái chung cần và ắt có trong trận địa này.
Nếu bạn tin Con đường Việt nam, tin các anh Thức, Định …thì cũng có khối kẻ không tin hoặc phát ngôn là không tin vì chúng là Công an tép riu chuyên ngồi mạng để lung lạc bạn đọc. Hoặc ngay cả nhiều người VN hiện tại tuy tuổi lớn nhưng trí thấp và họ sẽ chẳng trả lời được là tin hay không tin.
Thời buổi này muốn nói gì phải có chứng lý chặt chẽ, nói tin hay không tin suông thì vô nghĩa.
Riêng tôi thấy, mới chưa tới 1 tuần mà kẻ chủ mưu thực vụ Con đường Việt nam này đã gặt hái được quả mà họ mong muốn: đó là gây xung đột, mâu thuẫn và nhiễu loạn các chiến sĩ trên mặt trận Dân Chủ.
Qua việc bày tỏ ý kiến về Con đường Việt nam và ông LTLong, tự nhiên ta thấy bày ra 1 thực tế chia rẽ và manh mún, riêng tư của giới trí thức tiên phong đối kháng tà quyền Hanoi hiện nay.
Tham gia việc dân việc nước mà tâm thế thì vẫn là riêng tư nhà tao nhà mày thì cộng sản nó còn ngồi đó thống trị dài dài!
Đừng quên rằng việc nước là việc của 90 triệu dân, do vậy khi nói gì làm gì phải nghĩ tới khối lượng lớn đó đang bị 1 nhúm có mười mấy thằng vô học chăn dắt bằng dùi cui và họng súng.
Đó là 1 sự thua thảm hại, cho nên hãy cảnh tỉnh ngay đi kẻo làm trò cười cho địch!
Đấu trí mạnh hơn đấu sức, chớ quên điều đó. Họ chỉ cần giải phẫu “mặt trận dân chủ” là lòi ra thực tế ngay! chả cần tung đám CA an ninh ruồi bu đi chận, bắt người biểu tình cho mệt và tốn cơm!
Vậy, hãy từ từ cái mồm lại kẻo sa đà vào đó rồi trúng kế của giặc mà không hay!
Tôi van các ngài quá ư là thông thái hãy ngậm bớt cái mồm lại!
Saigon, June 20, 2012
LTC
Chú Thích:
(*): chữ của AnhBaSam
(**): trích THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ -Biên Khảo- Vũ Tài Lục
Quá trình hình thành Phong trào Con đường Việt Nam
Lời phát động Phong trào Con Đường Việt Nam
Tổng hợp thông tin trước cuộc cưỡng chế tại Văn Giang-Ecopark 24/04/2012
24 AvrNguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Thanh Phượng và Ecopark
Dân Làm Báo – Nguyễn Thanh Phượng là Chủ tịch của 4 công ty: VietCapital Bank, công ty quản lý quỹ Bản Việt, công ty chứng khoán Bản Việt và công ty bất động sản Bản Việt. Đó là thông tin chính thức được công bố.
917. Tổng hợp thông tin trước cuộc cưỡng chế tại Văn Giang-Ecopark
Posted by basamnews on 24/04/2012
0 h10′ ngày 24/4/2012 – Tin từ CTV:
– Tin từ nội bộ quan chức: có khả năng 12h đêm nay phá sóng điện thoại di động, 3h sáng bắt đầu triển khai quân cưỡng chế.
– Tin từ bà con: Đêm nay hàng nghìn bà con thức túc trực tại các vị trí trên cánh đồng. Nếu lực lượng cưỡng chế tiến vào sẽ có nổ/cháy.
– Tất cả chờ vào tình hình thực tế sáng sớm mai.
– Bác Lê Hiền Đức đã có mặt tại Văn Giang để sáng mai cùng bà con đấu tranh.
0h25′ – “Một khu lán trại rất lớn với cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc được dựng lên từ chiều bên đất Phụng Công, giáp ranh với Xuân Quan. Đó là khu trại của dân Phụng Công dựng lên để trực chiến và tiếp sức cho Xuân Quan. Có khoảng 500 người đang tập trung ở khu vực này. Ngoài ra còn rất nhiều bà con khác cắt cử nhau đi tuần trong mọi ngõ ngách đường làng có thể tiếp cận khu ruộng sẽ bị cưỡng chế. Có khả năng hướng tiến công rạng sáng mai sẽ theo đường vào khu Phụng Công này trước vì ở đây có đường đã san ủi rất lớn, có thể đổ quân ồ ạt.”
0h50′ “Xung quanh trận địa mà người dân đang giăng ra để chờ nghênh chiến, rất nhiều phương án tác chiến được thảo luận và có tính khả thi rất cao. Người nông dân ba xã này có rất nhiều cựu chiến binh, có trình độ lý luận và khả năng tác chiến tuyệt vời. Rất nhiều thanh niên khỏe mạnh, vạm vỡ với tổ chức chặt chẽ, khoa học… không thể coi thường họ.
1- NÓNG: QUYẾT CƯỠNG CHẾ ĐẤT CỦA BÀ CON DÂN OAN Ở VĂN GIANG? (Yahoo Việt Nam, tối 23/4/2012).
2- UBND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên: Ra quyết định cưỡng chế trái luật (Người cao tuổi, 19/4/2012).
3- Vì sao các hộ dân ở huyện Văn Giang (Hưng Yên) khiếu nại kéo dài?(Người cao tuổi, 29/3/2012).
NÓNG : QUYẾT CƯỠNG CHẾ ĐẤT CỦA BÀ CON DÂN OAN Ở VĂN GIANG?
Sáng nay Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng yên tổ chức họp báo tại với Huyện Văn Giang, thông báo về quyết định cưỡng chế, phổ biến kế hoạch cưỡng chế 70 hecta vào sáng mai 24 tháng 4 năm 2012.
Hơn chục phóng viên, nhà báo tới dự họp đã bỏ về mà không ăn cơm mời của Huyện.
Chi bộ họp rất căng thẳng với các lực lượng chuẩn bị cho cưỡng chế, Huyện đang bị đá quả bóng trách nhiệm, có thể sau vụ cưỡng chế thì có vài con tốt bị thí vì mọi vấn đề pháp lý để cưỡng chế đất của dân đều sai phạm như các báo đã đăng. Báo người cao tuổi đã đăng bài về các sai phạm nhưng cán bộ Huyện cũng không đọc, không quan tâm, có thể Huyện đang bị dồn vào thế kẹt, phải hy sinh ?
Các cán bộ thôn, xã đều bị mời họp, quán triệt việc cưỡng chế.
Học sinh các cấp từ phổ thông trung học xuống tới mẫu giáo được thông báo đều phải đi học, cô giáo thông báo ốm cũng phải đi học, chính quyền lo con em cùng Bố Mẹ cho ra cánh đồng phản đối việc cướp đất.
Có 1900 nhân viên công lực gồm công an, bộ đội, phòng cháy, cứu thương, dân phòng, cơ động…đã tập hợp tại Huyện Văn Giang để ăn chực nằm chờ từ sáng nay để sẵn sàng để dàn trận.
Gần ba chục xe ủi và máy xúc đã tập kết tại huyện.
An ninh đã mang chó rà soát khắp mặt bằng để dò mìn, dò các thiết bị cháy nổ, vũ khí.
An ninh của huyện, tỉnh đang rải quân đi đến các nhà của nông dân từng đứng đơn đi gặp các cơ quan nhà nước như Thanh tra, Tiếp dân Trung ương Đảng và Nhà nước để khiếu nại, khiếu kiện.
Bà con nông dân Văn Giang đã làm lều trại tại cánh đồng, cờ đỏ đã cắm trên nóc, bay phần phật như báo trước một trận chiến căng thẳng giữa Nông dân và kẻ cướp. Trống chiêng, cuốc xẻng đòn càn …đã sẵn sàng để ra đồng giữ đất.
Ảnh lều bạt, các chiến lũy cây củi, được lập trên các lối đi để sắn sàng cho việc phản đối cướp đất.
http://3.bp.blogspot.com/-qL_oUjGDHUQ/T5…
http://1.bp.blogspot.com/-lLc9eQipnYA/T5…
Các chiến lũy do Dân lập lên.
An ninh đã mang chó rà soát khắp mặt bằng để dò mìn, dò các thiết bị cháy nổ, vũ khí.
An ninh của huyện, tỉnh đang rải quân đi đến các nhà của nông dân từng đứng đơn đi gặp các cơ quan nhà nước như Thanh tra, Tiếp dân Trung ương Đảng và Nhà nước để khiếu nại, khiếu kiện.
Bà con nông dân Văn Giang đã làm lều trại tại cánh đồng, cờ đỏ đã cắm trên nóc, bay phần phật như báo trước một trận chiến căng thẳng giữa Nông dân và kẻ cướp. Trống chiêng, cuốc xẻng đòn càn …đã sẵn sàng để ra đồng giữ đất.
Ảnh lều bạt, các chiến lũy cây củi, được lập trên các lối đi để sắn sàng cho việc phản đối cướp đất.
Theo nguồn tin của Nhân dân cho biết, họ đã sẵn sàng phản đối cưỡng chế và sẵn sàng cho các tình huống xấu.
Bỏ qua tất cả các văn bản trái phép, các sai phạm đã được báo chí vạch ra, Dân thì vẫn đang tiếp tục khiếu kiện các nơi từ Trung ương đến địa phương, các cuộc đối thoại của các cơ quan công quyền với Dân đều thất bại vì chỗ nào cũng có sai phạm. Chính quyền vẫn quyết định cướp đất !
Nhưng hãy cẩn thận ! phóng viên đã có được những tin rất nặng ký từ phía người Dân Văn Giang.
KHẨN !!! – Có chỉ đạo từ Chính phủ đã chỉ đạo xuống Huyện : ” Phương án cưỡng chế phải linh hoạt, tránh diễn ra tình trạng như Tiên lãng Hải Phòng ! “
– Lúc 6 pm 11, phóng viên được biết : tất cả các nhân viên bảo vệ, an ninh phía Chủ đầu tư đều phải nộp điện thoại di động và chờ chỉ đạo nóng của Chủ đầu tư và Chính quyền.
– Các phóng viên của các báo trong nước và Quốc tế đang kéo đến Hưng yên.
– Một Cụ Bô lão 80 tuổi cho biết : Chủ đầu tư lợi dụng chính quyền, dùng danh nghĩa danh nghĩa luật pháp để vơ vét, cướp đất của Dân, chủ đầu tư là trùm xã hội đen tên Dũng ” Air line”, chuyên buôn bán xuyên Quốc tế qua đường hàng không, vợ của chủ là Bích, có khách sạn lớn tại Trần Hưng Đạo Hà nội – Khách sạn Cây cau.
Một cổ đông trẻ là con gái của một lãnh đạo cấp cao đã được lôi kéo vào dự án để cùng xẻ đất của nông dân lấy tiền.
Cụ Bô lão cho hay : tôi đã hoàn thành các nghĩa vụ với Đất nước, đã già rồi và không còn gì để mất, sẽ dùng nốt chút sức tàn cuối cùng để giữ lại mảnh đất cho con cháu !
http://4.bp.blogspot.com/-618wvwbtCZA/T5…
Quang cảnh buổi họp báo do UBND tỉnh Hưng Yên tổ chức, sáng 23.4.2012
http://3.bp.blogspot.com/-vBOL8OgDutQ/T5…
Ông Bùi Huy Thành, Chánh VP UBND tỉnh Hưng Yên
http://4.bp.blogspot.com/-qh2ZP6oxbso/T5…
Bà Đặng Bích Thủy, Chủ tịch huyện Văn Giang tuyên bố: Mọi việc làm của chính quyền đều đúng.
Bổ sung lúc 17h30: Họp báo tại UBND tỉnh Hưng yên. Bùi Huy Thành, Chánh VP UBND tỉnh Hưng Yên và Đặng Bích Thủy Chủ tịch huyện Văn Giang tuyên bố: Mọi việc làm của chính quyền đều đúng. Dân chống lại thì phải cưỡng chế. Lực lượng gồm công an viên của tất cả các xã trong huyện – trừ 3 xã bị cưỡng chế.
Chi tiết thêm
Bộ CA đưa toàn bộ Học viên của 2 trường Cảnh sát. Tất cả mặc cảnh phục để không nhầm lẫn trong cưỡng chế. Sẽ đào một con hào ngăn cách giữa khu dân cư và đất dự án. Muộn nhất là sẽ tiến hành vào sáng mai. Tỉnh thông báo sẽ huy động mọi nguồn lực và sức mạnh trong đêm nay và rạng sáng mai để cưỡng chế bằng được khu vực ba xã Cửu Cao, Phụng Công và Xuân Quan thuộc huyện Văn Giang cho dự án Ecopark.
—–
UBND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên: Ra quyết định cưỡng chế trái luật
Ngày 4-4-2012 và 5-4-2012, UBND huyện Văn Giang ra một số quyết định cưỡng chế đối với một số hộ dân ở xã Xuân Quan để giải phóng mặt bằng, bàn giao đất cho chủ đầu tư. Đáng tiếc đó lại là những quyết định trái luật.
Theo UBND huyện, quyết định cưỡng chế này áp dụng cho 166 hộ gia đình ở xã Xuân Quan để thi hành quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai, giải toả mặt bằng thực hiện bàn giao đất. Các gia đình bị cưỡng chế đều nhận được một quyết định có nội dung giống nhau, thời gian thực hiện từ ngày 20-4-2012, tại xứ đồng Cầu Ván, xã Xuân Quan, huyện Văn Giang.
Các hộ dân cho biết, ngày 4-4-2012, họ nhận được một quyết định cưỡng chế của UBND huyện Văn Giang do Phó Chủ tịch UBND huyện Chu Quốc Hiệu kí. Quyết định gửi cho từng hộ gia đình và lưu văn thư (huyện), căn cứ vào Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18-3-2005 của Chính phủ.
Tuy nhiên, theo Điều 4, Nghị định 37 thì thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế là của Chủ tịch, không phải của Phó Chủ tịch, và theo Khoản 2, Điều 6 Nghị định 37 thì quyết định UBND cấp dưới phải gửi cho UBND cấp trên (UBND tỉnh). Hôm sau, 5-4-2012, các hộ nói trên nhận được quyết định mới với nội dung giống như hôm trước, do Chủ tịch UBND huyện Đặng Thị Bích Thuỷ kí. Như vậy, sai lầm về mặt văn bản, phải do Chủ tịch UBND huyện kí đã được sửa, nhưng yêu cầu gửi cho UBND tỉnh thì chưa sửa, văn bản mới vẫn chỉ lưu văn thư mà không gửi cấp trên.
Trong các quyết định gửi đến hộ gia đình có những hộ gặp phải quy định trái khoáy: Quyết định số 629/QĐ-CCK ngày 5-4-2012 gửi ông Lê Văn Tuệ, nhưng mọi chi phí liên quan đến việc cưỡng chế lại do ông Đàm Văn Lâm chi trả(?). Điều này cho thấy UBND huyện Văn Giang cương quyết cưỡng chế, không cần kiểm tra xem việc cưỡng chế có đúng đối tượng không, có phù hợp với pháp luật hay không?
Trở lại Dự án xây dựng Khu đô thị – thương mại – du lịch Văn Giang (Ecopark), trong bài “Vì sao các hộ dân ở Văn Giang (Hưng Yên) khiếu nại kéo dài?”, Báo Người cao tuổi số 38, ngày 30-3-2012 đã chỉ ra nhiều sai phạm của dự án.
Bài báo nêu bật nội dung Thông báo số 168/TTCP-V4 ngày 26-1-2007 của Thanh tra Chính phủ, chỉ đạo UBND tỉnh Hưng Yên phải “giải quyết kịp thời kiến nghị chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận của nhân dân trong quá trình đầu tư xây dựng khu đô thị…”. Ngày 12-4-2012, huyện Văn Giang tổ chức cuộc đối thoại của Thanh tra Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung ương, các cơ quan hành chính ở Hưng Yên với nhân dân Văn Giang.
Những tưởng đây là dịp để các cơ quan có thẩm quyền ở Hưng Yên “giải quyết kịp thời kiến nghị chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận của nhân dân” như chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ thì bà Chủ tịch UBND huyện lại nói rõ “chỉ đối thoại với 166 hộ gia đình liên quan đến việc cưỡng chế 72 ha đất để bàn giao cho chủ đầu tư”, không chấp nhận đối thoại với những hộ không nằm trong khu vực cưỡng chế vào ngày 20-4-2012 sắp tới. Thực chất đã rõ, huyện Văn Giang không “đối thoại”, chỉ “cưỡng chế”!
Để ra quyết định cưỡng chế đúng luật, quá trình thực hiện bất cứ dự án nào cũng phải tuân theo các quy định của nhà nước: Họp dân phổ biến nội dung dự án, ra quyết định thu hồi đất, quyết định giao đất, thảo luận với các hộ dân về phương án đền bù, tái định cư. Những dự án kinh doanh (như dự án Ecopark) thì Nhà nước không thu hồi đất, mà chỉ làm trọng tài để nhà đầu tư thoả thuận với dân. Nguyên tắc là khi giải phóng mặt bằng, người dân khi đến nơi ở mới phải có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ…
Nhìn vào dự án Ecopark những điều nói trên hoàn toàn vắng bóng. Quyết định cưỡng chế của UBND huyện Văn Giang không đúng luật, không hợp lí, không hợp tình, không vì lợi ích của nhân dân mà chỉ phục vụ “lợi ích nhóm” nào đấy, trong đó có chủ đầu tư dự án.
Phan Hương – Ngọc Phi
——
Vì sao các hộ dân ở huyện Văn Giang (Hưng Yên) khiếu nại kéo dài?
Khi thực hiện Dự án, người dân không được thông báo về lí do thu hồi đất, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại trước khi thu hồi.
Tại cuộc họp tiếp dân của Chủ tịch UBND xã Phụng Công ngày 17-8-2006 khi người dân hỏi vì sao không được biết về dự án thì ông Nguyễn Văn Tắng, Chủ tịch UBND xã nói: “Về quy hoạch dự án thì cả tôi cũng không được biết hoặc tham khảo gì…”. Có người hỏi thêm: Vậy Điều 28, Luật Đất đai không có ý nghĩa gì hay sao? Câu này không có ai trả lời.
Các hộ dân cho biết: Toàn bộ các hộ sử dụng đất đều có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng tỉnh Hưng Yên đã giao đất cho chủ đầu tư mà không ra quyết định thu hồi đất. Điều 21 Luật Đất đai 1993 quy định: “Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó”. Xem ra, UBND tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang đã bỏ qua rất nhiều quy định pháp luật mà Nhà nước đã ban hành.
Do việc thực hiện Dự án có nhiều điều vi phạm pháp luật, các hộ dân ở ba xã kiên trì, liên tục khiếu nại lên các cấp ở Trung ương. Ngày 26-1-2007, Thanh tra Chính phủ ra Thông báo số 168/TTCP-V4 chỉ ra một số sai phạm trong quá trình thực hiện Dự án và chỉ đạo tỉnh Hưng Yên “Tập trung chỉ đạo tốt việc tuyên truyền nhân dân ba xã vùng dự án về chủ trương đầu tư dự án, bảo đảm lợi ích hài hoà của Nhà nước, nhân dân và nhà đầu tư, giải quyết kịp thời kiến nghị chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận của nhân dân trong quá trình đầu tư xây dựng Khu đô thị Thương mại – Du lịch Văn Giang…”.
Tuy nhiên, các hộ dân cho biết, chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ không được tỉnh Hưng Yên tiếp thu và thực hiện nên nhân dân vẫn phải tiếp tục đội đơn khiếu nại ở các cơ quan có thẩm quyền.
Ngọc Phi
Nghe Trịnh Công Sơn, nghe Việt Khang
22 MarTHỨ SÁU, NGÀY 30 THÁNG BA NĂM 2012
BỐN CÔ GÁI VIỆT NAM XINH ĐẸP
Có những cô gái Việt Nam bị khinh bỉ, xăm soi khi trình hộ chiếu VN để nhập cảnh vào Mã Lai, Singapore, Hàn Quốc…
Có những cô gái đáng thương khác phải bán mình kiếm sống trong những điểm mát xa trá hình, trong những quán bia ôm dâm loạn…
Có những cô gái phải cam phận làm nô lệ tình dục ở quê người thông qua các đường dây buôn bán phụ nữ qua biên giới.
Có những cô gái làm đĩ cao cấp bằng cách khoe mông, khoe ngực, tạo xì căng đan để mồi chài các đại gia lắm tiền nhiều của.
Có những cô gái khóc ngất lên khi gặp được sao Hàn.
Có những cô gái còn ở tuổi học trò đã sẵn sàng xông vào cấu xé, lột truồng, nhục mạ nhau chỉ vì ganh ăn, ghét ở.
Có những cô gái thí đời vào những cuộc vui thâu đêm suốt sáng trong những tụ điểm ăn chơi để quên đi thực tại.…
Những cô gái như vậy sẽ luôn hiện lên trên các dòng tin của hệ thống báo đài. Những dòng tin nhói đau ấy như những nhát bút tối màu tạo nên những gom u ám trên bức tranh toàn cảnh của một xã hội vôn không mấy sáng sủa.
Tuy vậy vẫn có những cô gái trẻ khác mà vẻ đẹp của họ như những tia sáng chiếu xuyên qua bức màn đêm mang lại niềm tin tươi sáng vào thệ trẻ trong chúng ta.
Cô gái đầu tiên mà không hiếm người biết đến là luật sư Lê Thị Công Nhân. Hãy hiểu về cô qua những gì ghi trên tự điển bách khoa Wikipedia:
Tiểu sử
Lê Thị Công Nhân sinh tại Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, Việt Nam; trú tại tập thể Văn phòng Chính phủ, phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội, xuất thân trong một gia đình công nhân viên chức và tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội năm 2001.
Năm 2004, cô tốt nghiệp lớp luật sư và công tác tại bộ phận thư ký quan hệ quốc tế, Văn phòng Đoàn Luật sư Hà Nội. Năm 2005, thôi việc tại Văn phòng Đoàn Luật sư Hà Nội để về làm việc tại văn phòng Luật sư Thiên Ân.
Lê Thị Công Nhân là thành viên của Khối 8406 và đồng thời là đảng viên của Đảng Thăng Tiến Việt Nam.
Lê Thị Công Nhân bị bắt tạm giam tại Hà Nội vào ngày 6 tháng 3 năm 2007 vì bị cáo buộc hoạt động « tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam », và bị xóa tên khỏi danh sách Đoàn Luật sư Hà Nội.[1]
Vào ngày 11 tháng 5 năm 2007, sau hơn hai tháng tạm giam, cô và Nguyễn Văn Đài được đem ra xét xử, bị kết án 4 năm tù giam và 3 năm quản chế[2]. Ngày 06 tháng 03 năm 2010, Lê Thị Công Nhân đã thi hành xong 3 năm tù, cô được thả về và chịu sự quản chế tại địa phương.
[sửa]Hoạt động
Lê Thị Công Nhân tham gia phong trào đòi đa nguyên, đa đảng. Lê Thị Công Nhân đã từng viết tham luận, nội dung tố cáo Tổng Công đoàn Việt Nam hiện nay không bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền và kêu gọi thế giới hỗ trợ cả tinh thần lẫn vật chất để lập ra những công đoàn độc lập cho công nhân Việt Nam, thể hiện đúng chức năng của Đảng Cộng sản Việt Nam được nêu trong điều 4 Hiến pháp Việt Nam 1992[3]. (« Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. »)
Cô là phát ngôn viên công khai của Đảng Thăng Tiến Việt Nam[4][5], cô đã trả lời một số cuộc phỏng vấn của các đài và báo chí ngoại quốc và viết bài nói về thực trạng của Việt Nam[6]. Vào tháng 12 năm 2006, trả lời cuộc phỏng vấn hội đoàn Lên Đường ở hải ngoại với những lời lẽ phê phán chỉ thị số 37/2006/CT-TTg củaThủ tướng chính phủ về việc quy định một số biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí, cô nói: « Là một luật sư thì tôi xin khẳng định với những hiểu biết cá nhân của mình rằng chỉ thị 37-TTG ngày 29/11/2006 là hoàn toàn vi hiến ». [7]
Cô đã được mời tham dự Hội nghị Công đoàn Tự do tổ chức tại Warszawa, thủ đô của Ba Lan, (28 – 30 tháng 10 năm 2006), nhưng cô không tham dự được vì bịcông an giữ lại trước khi lên máy bay. [8]
Từ đầu tháng 12 năm 2006 đến tháng 2 năm 2007, cô đã cùng luật sư Nguyễn Văn Đài tổ chức các lớp học về dân chủ và nhân quyền, vận động giới thiệu các tổ chức như Đảng Dân chủ, Đảng Thăng Tiến Việt Nam, Khối 8406… cho một số sinh viên, trí thức và người khiếu kiện, tại văn phòng luật sư Thiên Ân…
Người con gái thứ hai là Đỗ thị Minh Hạnh.
Hãy biết về cô qua ghi chép của Bác 8 Bến Tre:
Minh Hạnh (MH) sinh ngày 13-3 năm 1985 trong một gia đình cả cha mẹ đều là cán bộ Cộng Sản ở Di Linh, Lâm Đồng. Năm 18 tuổi cô đã bắt đầu hoạt động bênh vực cho những người dân oan Lâm Đồng làm đơn khiếu kiện đât đai. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, MH vào Sài Gòn tiếp tục học trường Cao Đẳng Kinh tế.
Năm 2005 cô đến Hà Nội giúp đỡ dân oan khiếu kiện đất đai và bị án 3 tháng tù giam. Khi hay tin chánh quyền CSVN cho Trung quốc đầu tư khai thác Bauxit tại Tây nguyên, cô đã bí mật cùng Nguyễn Hoàng Quốc Hùng đến tận nơi chụp ảnh các nông trường của TQ tại đây và chuyển đi toàn cầu qua mạng Internet.
Năm 2007 MH đã tổ chức cho công nhân người Việt bị áp bức tại công ty nước ngoài để biểu tình và đình công để được tăng lương và an toàn lao động. Tháng 12 năm 2009 cô đã bí mật đi đường bộ sang Cambuchia, Thái Lan để đến Malaysia tham dự đại hội kỳ 2 của Ủy ban về người lao động Việt nam.
Những hoạt động yêu nước đó của Minh Hạnh đã đẩy cô vào tù. Vào ngày sinh nhật thứ 27 của Minh Hạnh, tác giả Ngô An viết những giòng sau đây về cô:
Hôm nay – ngày 13 tháng 3 – sẽ là một ngày rất bình thường nếu tôi không biết Hạnh. Tôi còn nợ cô bé ấy nhiều lắm. Có nhiều điều còn nhớ mãi, có những chuyện sẽ không thể nào quên. Thế nhưng, Hạnh vào tù đã được 3 năm, tôi chưa bao giờ viết được một bài trọn vẹn cho em. Có lẽ, tình càm tôi dành cho Hạnh đã bão hòa, đã đầy ắp để mỗi con chữ về Hạnh cũng là thừa. Có lẽ, tôi nhìn thấy sự thừa thãi trong những dòng chữ của mình vì đã có nhiều người viết về Hạnh mặc dù họ chưa được gặp em một lần. Mặc dù họ chưa được một lần nghe Hạnh hát, những bài hát do em tự đặt lời, giọng tự nhiên, trong sáng, không chải chuốt. Nhưng, quả thật, những dòng chữ họ dành cho Hạnh thật ấm áp, thật nghĩa tình như đã quen Hạnh từ lâu.
……………
Những ai đã có lần biết Hạnh, có lẽ sẽ nhớ mãi đôi mắt long lanh sáng của em chứa cả một bầu tâm huyết, Hạnh tin ở con người, cuộc sống, Hạnh tin mãnh liệt ở lý tưởng và điểm đến trên con đường chông gai mà em đã chọn. Bởi đó là hoài bão của em. Hoài bão của Hạnh không phải là một người chồng giàu, một căn nhà đẹp mà là một cuộc sống công bằng, cơm no cho người nghèo, áo ấm cho kẻ không nhà. Và em đã chọn một lối đi riêng cho mình – không giống những cô gái đồng trang lứa – để thực hiện hoài bão đó.
Tác giả Vũ Đông Hà viết về Minh Hạnh: « Hạnh đã cùng với Hùng lên đường, phẫn nộ nhưng không hận thù, hiền hòa nhưng dũng cảm, chông gai nhưng không khiếp nhược, thất bại nhưng không sờn lòng »
Thi sĩ Trần Trung Đạo đã viết « Mấy vần thơ cho Đỗ thị Minh Hạnh »:
Đất nước mình không có hôm nay
Nếu hai ngàn năm trước không có bà Trưng, bà Triệu
Và sẽ tiếp tục sống trong độc tài nô lệ
Nếu không có những người con gái như em
Dòng sông dài và phiến đá chông chênh
Nhưng nếu tất cả đều co ro, sợ hãi
Nếu tất cả đều đứng nhìn, e ngại
Dân tộc này rồi sẽ ra sao?
……….
Lịch sử đang chờ em để bước sang trang
Dân tộc vịn vai em để đi cùng nhân loại
Những người chết đang bắt đầu sống lại
Những người đi đang lần lượt quay về
…………….
Và Hạnh đã viết trong thư gởi mẹ từ trong tù:
“Má ơi, con rất là đau buồn, con không buồn thân thể con, ở tù bao nhiêu năm cũng được… Họ bảo con hãy nhận tội đi rồi sẽ được giảm xuống 4 năm, nhưng không, ở đời thì chết chỉ có một lần mà thôi… để cho họ thấy rằng, họ không được phép coi thường tinh thần bất khuất của dân tộc. Mỗi dân tộc, mỗi một con người, nhất là người lãnh đạo đất nước phải biết rằng « Đặt quyền lợi và danh dự của tổ quốc lên trên quyền lợi cá nhân của mình chứ…”
Người con gái thứ ba tôi muốn nói đến là Trịnh Kim Tiến. Cha già bị công an vô cớ đánh chết, cô gạt những giọt nước mắt bi thương, lao ra đường cùng bạn bè tham gia hầu hết những cuộc biểu tình chống Trung Cộng xâm lược.
Sắp bước lên xe hoa về nhà chồng nhưng cô gái trẻ vẫn đau đáu với quê hương. Bài viết mới nhất của cô đăng trên Face book:
Chắc chắn rằng không chỉ mình tôi mà tất cả mọi người, ai cũng đều mong mỏi đất nước của mình một ngày nào đó “sánh vai cường quốc năm châu”, vươn đôi vai ngang tầm thế giới.
Nhưng một điều thật đáng buồn, những vấn nạn xã hội, kinh tế, văn hóa đã khiến hình ảnh của đất nước, dân tộc Việt Nam xấu đi quá nhiều trong mắt bạn bè Quốc tế. Khi người Việt cầm visa, hay hộ chiếu của mình qua các nước du lịch, đi học cũng như định cư , họ thường bắt gặp những ánh mắt kì lạ nhìn về phía họ.
Phải chăng do nhiều yếu tố khiến chúng ta thua kém bạn bè. Người Việt ta vốn dòng máu Lạc Hồng, truyền thống ngàn năm văn hiến, tôi tin rằng chúng ta không bao giờ bằng lòng và chấp nhận điều đó.
Từ những thứ nhỏ bé nhất như gánh hàng rong ở Việt Nam cho đến những hãng hàng không cũng có những chênh lệch với nước bạn.
Và tấm lòng của cô với những thân phận nghèo khó:
Không chỉ đọc, mà thực sự tôi còn chứng kiến nhiều lần những cảnh tượng nhức nhối xót thương. Mỗi buổi chiều tôi thường cùng mẹ sang bên ngõ chợ mua đồ ăn, nhìn thấy hình ảnh những người phụ nữ gày gò, đen xạm , ôm chặt quang gánh chạy thật nhanh mỗi khi thấy chiếc xe đồn của phường đi đến dẹp chợ, đến mức rơi cả một chiêc dép bên chân lại. Cứ như thể họ đang đi chạy nạn, tránh bom đạn hay đang bị cướp giật. Những dân phòng, công an phường tay cầm dùi cui, vẻ mặt dữ dằn nhìn những người phụ nữ đang thi nhau chạy hàng. Có đôi khi có những sự giằng co, van xin kịch liệt diễn ra giữa đôi bên nếu những người phụ nữ đó không kịp chạy. Những giọt nước mắt tức tưởi, cay đắng, ngậm ngùi đôi gánh hàng rong nuôi lớn con từng ngày .
Và ước mơ của cô:
Không biết đến bao giờ đất nước tôi có thể vươn lên tầm cỡ thế giới, nhưng tôi thực sự mong có một ngày, một ngày như thế. Một ngày trên khuôn mặt của những người dân tôi không phải là những nét măt u sầu, ủ rũ mà là những nụ cười hạnh phúc, yên vui. Con người được tôn trọng cùng với nghề nghiệp mà họ đã bỏ sức ra lao động chính đáng kiếm tiền lương thiện.
Hãy cho tôi, thế hệ của tôi còn được sống trong niềm hãnh diện về dân tộc và đất nước thân yêu của chúng tôi.
Người con gái thứ tư mà rất nhiều người biết đến và cảm phục là Huỳnh Thục Vy. Cô còn khá trẻ mà những bài viết của cô về đất nước, về hiến pháp, về dân chủ, về nhà nước pháp quyền…uyên bác, sắc sảo đến không ngờ. Không những chỉ viết, cô gái trẻ ấy đã sống rất kiên cường. Cô dũng mãnh nhìn thẳng vào bạo quyền và đối chọi lại không một chút nao núng.
Sau đây là một số đoạn trích trong bài “Tính chính danh của Hiến Pháp”mà cô vừa viết trên BBC:
Dù có xuất phát từ nhu cầu hay tình trạng nào, khi một thực thể chính trị mang vào mình cái vai trò của một Nhà nước thì bản thân nó phải có khả năng tự vận động để thực hiện những chức năng bắt buộc, nhằm có được lý do chính đáng cho sự tồn tại của mình.
Nếu thiếu đi những lý do này, Nhà nước sẽ chỉ tồn tại trong sự bất chính. Những lý do đó là: sự đồng thuận trao quyền của người dân, sự hoàn thành tốt các chức năng quản lý và phát triển xã hội của Nhà nước đó, và cuối cùng là sự đảm bảo trách nhiệm bảo vệ chủ quyền Quốc gia và thiết lập sự hiện hữu hài hoà của cộng đồng mà nó quản lý với cả cộng đồng nhân loại.
Dù được thành lập theo cách nào, một chính quyền chính danh phải có được những điều kiện trên, hoặc tiến hành càng sớm càng tốt những thay đổi để có được những điều kiện đó.
Các chế độ độc tài được kiến lập từ sự trao quyền của người dân thông qua một cuộc bầu cử mang tính mị dân, như trường hợp cuộc bầu cử năm 1998 đưa Hugo Chavez của Venezuela lên cầm quyền, thường không có được những nhận thức sâu sắc về sự kiện trao quyền quan trọng này.
« Một khế ước phải có hai bên tham gia, hai bên phải đặt bút ký kết »
Thậm chí những kẻ độc tài mới trỗi dậy nhờ một cuộc bầu cử mị dân như thế sẽ cảm thấy đắc ý với những chiêu thức lừa bịp dân chúng ngoạn mục của mình chứ không phải cảm thấy vinh hạnh vì được lên cầm quyền nhờ sự trao quyền nghiêm túc bằng cả ý thức và tinh thần trách nhiệm của người dân như trong chế độ dân chủ tự do thực sự. Vì thế, đối với những kẻ độc tài này, nhân dân và quyền lực xuất phát từ nhân dân chỉ là một trò cười, là một thứ để hắn ta lợi dụng.
Ở mức độ nghiêm trọng hơn, các chế độ hình thành từ « cướp chính quyền » như kiểu cách mà những người Cộng sản Việt Nam đã làm để lên nắm quyền, càng không nhìn nhận vai trò của sự trao quyền này bởi cái tâm thức rằng: chính quyền là do họ cướp được chứ không phải do người dân giao phó cho…Vì thế khi đã nắm được quyền lực trong tay, những kẻ chuyên quyền sẽ sử dụng quyền lực và các nguồn lực Quốc gia như thứ tài sản riêng, bất chấp lợi ích của đại đa số người dân và vận mệnh của cả dân tộc.
Ấy thế nhưng, bất cứ thực thể nào trong thế giới tồn tại được và có thể tồn tại lâu dài cũng chỉ vì nó có lý do để đảm bảo cho sự hiện hữu của mình. Thiếu đi tính chính đáng và sự chính danh thì sự tồn tại này chỉ là một chuỗi những nỗ lực bám víu khó khăn và tiềm ẩn nhiều nguy cơ.
Bởi vậy, ta không ngạc nhiên khi tất cả các chế độc độc đoán đều sợ bị lật đổ. Nỗi sợ hãi này xuất phát từ bản chất bất chính của nó. Ngai vàng đặt trên sự lừa bịp, các vấn nạn xã hội, sự không cân xứng và hài hoà của các thiết chế xã hội, sự nghèo khổ và mất tự do của người dân trở thành một thứ quyền lực đáng thèm khát nhưng đầy bất hạnh của những kẻ khát quyền lực và của cải bất chính.
Bốn cô gái trẻ yêu nước và rất đẹp ấy đang đối mặt với những thách thức phi lý không cần có. Một cô đang ở trong tù, chịu sự đối xử khắc nghiệt và tàn nhẫn. Một cô đã ra khỏi tù nhưng bị quản thúc nghiêm ngặt. Một cô phải luôn luôn đương đầu với mọi rắc rối đang vây quanh, mỗi bước đi của cô đều có người theo dõi, mọi phương tiện viết lách và giao tiếp của cô đều bị tịch thu, cả gia đình cô đang đối đầu với hình phạt nặng nề về tài chính, sắp bị cưỡng chế đến nơi…
Những cô gái ấy đang rất khó khăn. Các cô không được tự do, thoải mái như các cô gái khoe mông để câu đại gia, như các cô gái ngất xỉu vì gặp được sao Hàn, như các cô gái suốt ngày chỉ biết ăn diện và đi shopping…Trong xã hội đầy nghịch cảnh như hiện nay, các cô gái trẻ có thể tự do làm mọi việc, kể cả những việc suy đồi bại hoại, ngoại trừ việc yêu nước theo kiểu cách của riêng mình.
Vì vậy bốn cô gái xinh đẹp, yêu nước theo cách thức của riêng mình nói trên đang bị bao vây, ngăn chận. Nhưng không vì thế mà những tia sáng chói lọi phát ra từ tâm hồn thanh cao và trí tuệ sáng rỡ của các cô không xuyên qua được bức màn u ám để mang lại sự lạc quan cho mọi người.
Tôi vẫn tin vào thế hệ trẻ Việt Nam.
http://huynhngocchenh.blogspot.fr/2012/03/bon-co-gai-viet-nam-xinh-ep.html
Nhớ Trịnh Công Sơn
Trần Mạnh Hảo (Danlambao) – Mười một năm qua, Trịnh Công Sơn đã đi vào cõi bất tử. Anh chọn ngày cá tháng tư- ngày nói dối toàn thế giới để ra đi. Hóa ra, tin anh đi khỏi cuộc đời này, về thực chất là một tin bịa đặt. Trịnh Công Sơn không bao giờ chết khi các ca khúc tuyệt vời của anh còn sống mãi với dân tộc.
Hai ngày sau tôi chưa kịp viết thì anh Trịnh Xuân Tịnh, người em trai thứ hai của anh Sơn tìm tôi giục, rằng: “Bìa một đã làm, anh Sơn bảo chờ mấy dòng của anh Hảo mới làm tiếp bìa bốn của tập nhạc…”. Tôi ngồi viết ngẫu hứng mấy dòng sau đưa cho anh Tịnh :“Nghệ thuật hi vọng của Trịnh Công Sơn là nghệ thuật băng qua tuyệt vọng, có đi qua lò bát quái của phần số, nhân tính mới còn cơ phát lộ. Trong lò lửa luyện ngục của anh, chúng ta được gặp cái mát lành của tuyết đầu mùa. Anh chỉ ra rằng băng tuyết cũng có thể dùng để sưởi ấm. Anh làm ta tin vào khả năng lặng im của loài quạ. Thực ra thiên chức của nghệ thuật là thức tỉnh nỗi cô đơn cùng tận của con người. Chính cô đơn là hình ảnh tư duy của chàng Hamlet. Chừng như sự chết và hư vô là hai tên gọi khác của nỗi cô đơn? Thức tỉnh nỗi cô đơn, nghệ thuật đồng thời cũng thức tỉnh cả cái chết và niềm hư vô. Âm nhạc của Sơn làm ta có cảm giác vừa rơi lên đỉnh vực nỗi cô đơn. Chỉ có thể đi hết cái tôi, chúng ta mới có cơ gặp cả loài người”– Trần Mạnh Hảo 10-1992 (Bìa bốn, tập nhạc BÊN ĐỜI HIU QUẠNH –TRỊNH CÔNG SƠN -Tình khúc -Nhân Bản 1973-Hội Âm Nhạc TP-Giấy phép xuất bản số 345 ngày 9 tháng 01 năm 1993- In và nộp lưu chiểu tháng 06 năm 1993).
Nghe Trịnh Công Sơn, nghe Việt Khang
Vụ Đoàn Văn Vươn: Quan chức bất nhân, bất nhất, chính quyền bất minh, luật pháp bất ổn, nhà nước bất lực nên người dân bất an
30 JanVụ Đoàn Văn Vươn: Quan chức bất nhân, bất nhất, chính quyền bất minh, luật pháp bất ổn, nhà nước bất lực nên người dân bất an
Không người dân nào (trừ các quan chức có thế lực) có thể chắc chắn rằng ngôi nhà mình đang ở, mảnh đất mình đã chắt chiu bao đời nay mà có, ngôi nhà thờ, đình chùa miếu mạo đang thờ tự có thể ổn định và yên chí làm ăn. Khi mà sẵn sàng có một dự án nào đó của những kẻ lắm tiền nhằm vào chỗ của họ đang sống, thì có thể sau đó là công an, là chó, là súng đạn đến “cưỡng chế” họ ra khỏi nhà để giao đất cho người khác. Nếu họ không đồng ý, thì sau đó là nhà tù hoặc cùng quẫn lắm thì là súng đạn, hoặc tự thiêu.
Sự kiện Đoàn Văn Vươn đã tròn một tháng kể từ sáng 5/1/2012 khi chùm đạn hoa cải nổ thẳng vào đám công an và quân đội bao vây chiếm đất tại Tiên Lãng. Đến nay đã có hàng trăm bài báo, hàng chục quan chức lên tiếng, người dân trong và ngoài nước xôn xao về một hiện tương mới: Hiện tượng Đoàn Văn Vươn.
Vụ việc trở thành đề tài thời sự nóng bỏng trong cái tết vừa qua, khi rượu sớm, khi trà trưa, sau những lời chúc mừng năm mới là câu chuyện Đoàn Văn Vươn nổ thay pháo tết từ Nam đến Bắc.
Thế nhưng, một tháng trôi qua, ta thấy gì?
Cho đến nay, hầu như chỉ là việc bắt giam các bị can Đoàn Văn Vươn và anh em, ngoài ra chỉ là lời qua tiếng lại giữa quan chức Tiên Lãng, sự biện hộ thô thiển của quan chức Hải Phòng, sự lên án mạnh mẽ của công luận và sự phản ứng ngược chiều lỳ lợm và lẻ loi của tờ báo Hải Phòng, vài bài viết làm trò hề trên tờ Công an Nhân dân và mỉa mai thay lại cả tờ báo mang tên “Công Lý”… Ngoài ra, chưa có tiến triển gì hơn.
Thậm chí đến nay, cơ quan chức năng vẫn chưa xác định được ai đã phá nhà ông Vươn?
Vì sao có trình trạng này?
Quan chức bất nhân, bất nhất
Trước hết là sự bất nhân. Những người đã theo dõi vụ án hoặc đã đối diện với biển với nước không ai không biết rõ công sức mồ hôi xương máu của anh em nhà Đoàn Văn Vươn cũng như những người dân nuôi trồng hải sản ở đây đã đổ ra biết bao nhiêu để làm nên cơ nghiệp này. Họ đã không chỉ hi sinh công sức, tiền của mà cả máu, cả tính mạng con cháu mấy chục năm trời… Bỗng dưng bằng một mảnh giấy, tất cả mọi công sức bị cướp trắng trái pháp luật. Thậm chí trước đó, các cơ quan công quyền đã cùng hùa nhau để đưa những nạn nhân này vào vòng vây mê hồn trận của mớ pháp lý, tòa án và những lời hứa hẹn.
Không rõ ông Chủ tịch huyện Lên Văn Hiền có luôn em trai làm chủ tịch xã cũng như các quan chức Hải Phòng và những kẻ manh tâm đi bao che cho những hành động đó có thấy việc làm của mình là bất nhân?
Ngay sau khi những phát đạn hoa cải hạ gục mấy chiến sĩ công an và bộ đội, báo chí nhanh chóng đưa tin thì ông Lê Văn Hiền – Chủ tịch UBND Huyện Tiên Lãng lên tiếng khẳng định rằng đã phá nhà ông Vươn vì đó là nơi trú ẩn của những người chống lại lực lượng cưỡng chế.
Câu nói này ngay lập tức bị công luận lên án mạnh mẽ vì vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Khi đó một quan chức đàn anh khác là Phó Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng Đỗ Trung Thoại lại nói việc phá ngôi nhà của ông Quý là do “nhân dân bất bình”?.
Câu nói này cũng lập tức nhận được sự phản ứng dữ dội của công luận và nhân dân Tiên Lãng, người ta nói rõ rằng chẳng có nhân dân nào bất bình, người dân chỉ bất bình với chính nhà cầm quyền Tiên Lãng vô đạo đức khi muốn cướp không công sức người dân mấy chục năm bỏ ra khai hoang, lấn biển và việc quan chức Hải Phòng cố tình vu vạ cho dân là điều không thể chấp nhận được.
Ngay sau khi bị dư luận chỉ rõ sự bất nhân và vô luật pháp trong các phát biểu này, cả UBND Huyện Tiên Lãng và Đỗ Trung Thoại đều leo lẻo nói ngược lại là không phá, không ra lệnh, không ai tham gia phá nhà ông Vươn và cuối cùng là “Chưa rõ ai phá nhà ông Vươn”(Sic).
Quả thật cha ông ta đã có quá nhiều kinh nghiệm khi đúc kết câu nói “Miệng quan, trôn trẻ”. Nếu như trôn một đứa trẻ nhiều khi làm nhọc lòng, xấu hổ đến bố mẹ và người thân, thì miệng quan chức này đã làm chán nản và nhận lấy sự khinh bỉ từ chính người dân.
Người nắm sức mạnh bạo lực lớn nhất Hải Phòng lúc bấy giờ là ông Đại tá Đỗ Hữu Ca, Giám đốc Công an Hải Phòng – người mà cư dân mạng gọi là “Đại Ca” – có mặt tại chỗ chỉ đạo lực lượng Công an Hải Phòng vây bắt. Khi Công an, Quân đội nã súng với “phương án tiêu diệt” không thể thiếu vai trò ông Đỗ Hữu Ca. Để rồi sau đó ông chém gió rằng: “Phải nói rằng việc hiệp đồng tác chiến cực kỳ hay. Tôi bảo, không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này”.
Thế nhưng, khi được hỏi ai đã phá nhà ông Vươn, “Đại Ca” này cũng khẳng định không biết ai.
Chính từ sự bất nhân, không hợp lòng người, trái đạo lý đã đẩy đưa chính họ vào chỗ bất nhất theo đúng nguyên lý “Đường đi hay tối, nói dối hay cùng”.
Và họ đã thi nhau dẫm đạp lên vết trượt này không cách nào khác.
Khi đã có những lời bất nhất như vậy, liệu ai có thể tin được những lời nói tốt đẹp khác của các quan chức này như “Bản chất của chế độ ta không cho phép nhục hình bức cung. Nếu ai vi phạm điều này sẽ bị cách chức, ai không thực hiện đúng chính sách với phạm nhân thì chúng tôi xử lý nghiêm minh”?.
Chính quyền bất minh, luật pháp bất ổn
Nói đến chuyện luật lệ liên quan đến đất đai, chuyện nhà nước quản lý, sử dụng, chuyển đổi, bán chác, thu hồi… là một mê hồn trận đã từng gây nên bao nhức nhối giai đoạn vừa qua. Luật pháp bất ổn, bất nhất đã đặt người dân không phải một nơi mà cả nước, không chỉ thành thị mà khắp thôn quê, không chỉ miền xuôi mà cả miền ngược đảo lộn cuộc sống, đảo lộn mọi giá trị truyền thống về đạo đức, về nhân cách qua những luật lệ này.
Từ khi thành lập nước VNDCCH đến nay, quyền hạn về đất đai cứ như một trò mèo vờn chuột. Đầu tiên là người cày có ruộng, cướp đoạt của chủ đất chia cho dân cày, rồi nhóm lại vào một lò chung là Hợp tác xã, rồi chia ruộng đất khoán sản, khoán nông. Rồi các đại gia lập dự án, rồi nhà nước dùng súng đạn cưỡng chế cướp của dân với giá rẻ mạt bán với giá trên trời bỏ túi chia nhau… đủ cả mọi cách cứ tít mù vòng quanh. Mấy chục năm qua, chuyện đất đai vẫn như mớ bòng bong càng gỡ càng rối. Khắp nơi người dân khiếu kiện, từng đoàn, từng lượt đổ về đầu não chính trị để kêu oan. Và như thế công an lại có việc để làm, để bắt bớ, để đàn áp… cứ như những cuộc chiến không hứa hẹn ngày ký kết thỏa ước ngừng bắn chừng nào còn đất.
Tựu trung lại cái luật lệ không giống ai cố tình không công nhận quyền tư hữu về ruộng đất với định nghĩa rất khác người là “Đất đai sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý…” đã tạo ra mớ bòng bong đó. Điều này đi ngược lại với nguyên lý cơ bản, quyền tư hữu về đất đai của người dân đã ngang nhiên bị tước bỏ, và có như vậy thì nhà nước mới dễ dàng thu hồi cái không phải của mình, lấy đi cái trong tay người khác.
Việc dùng công an, quân đội cưỡng chế đất đai, tài sản của nhà ông Vươn không có bồi thường là việc làm bất nhân. Như trên đã phân tích, để làm được những việc đó thì điều cần thiết là sự bất minh. Ngay sau khi xảy ra sự việc, báo chí đã trực tiếp hỏi quan chức chính quyền địa phương việc thu hồi nhằm mục đích gì? Câu trả lời là “không thể trả lời”,rồi sau đó là “để cho ông Vươn thuê lại” sau khi đã bị báo chí và dư luận vạch rõ việc làm không minh bạch của chính quyền Tiên Lãng. Cũng trước đó, báo chí đã đưa tin rằng UBND Tiên Lãng thu hồi nhằm phục vụ “dự án sân bay Quốc tế Hải Phòng”. Nhưng khi người ta vạch rõ việc thu hồi này có quyết định trước cả dự án, thì cái dự án đó không cánh mà bay trong lời nói quan chức Hải Phòng mà không được ai nhắc đến nữa.
Không chỉ là việc thu hồi để làm gì, mà ngay cả Tòa án Nhân dân TP Hải Phòng đã có những động tác mà qua đó, người dân thừa lòng tin đã tưởng rằng được luật pháp bảo hộ nên gia đình Đoàn Văn Vươn mới nên cơ sự này. Cuộc dàn xếp giữa UBND Huyện và gia đình người có đất được Tòa án ND Tỉnh tổ chức, đâu có ai nghĩ là sự lừa bịp hoặc đưa người ta vào một âm mưu. Nhưng điều đó đã xảy ra, chứng tỏ sự bất minh càng rõ ràng để phục vụ những mưu đồ đã có sẵn.
Không chỉ việc dùng công an, quân đội, chó, súng đạn… cưỡng chế phá nhà ông Vươn, bắt bớ đánh đập phụ nữ, con trẻ trước công chúng đã thể hiện bản chất sự việc, mà ngay cả việc để toàn bộ tài sản của gia đình ông Vươn trong Đầm bị cướp sạch, lấy sạch sau đó cũng đã nói lên sự bất minh của việc làm này.
Nhà nước bất lực
Đã một tháng tròn, từ Hà Nội xuống Hải Phòng chỉ hơn 100 km, nếu đi xe bình thườnghết 2 giờ ô tô, nếu đi xe có còi hụ dẫn đường như quan chức Việt Nam vẫn dùng hàng ngày ở Hà Nội thì chắc không đến chừng đó thời gian. Nhà nước Việt Nam “của dân, do dân, vì dân” có đội ngũ công an “vững mạnh, trong sạch và bách chiến bách thắng”. Vụ việc Đoàn Văn Vươn chỉ là một việc nhỏ trong muôn vàn vụ việc khác nhau, chỉ là một vụ “cưỡng chế” trong trăm ngàn vụ cưỡng chế đã và đang xảy ra trên đất nước này. Việc huy động một lực lượng mấy trung đội cảnh sát, các cơ quan đoàn thể, quân đội để tiến hành vụ việc, đập phá hai ngôi nhà giữa thanh thiên bạch nhật, trước hàng ngàn người dân… rõ ràng đến mức hỏi một nông dân mù chữ cũng có thể thuật lại được.
Vậy mà đến nay ba chục ngày trôi qua, vẫn cứ lùng nhùng trong những cuộc cãi vã, phân tích của báo chí về việc làm vô luân, vô pháp của nhà cầm quyền Tiên Lãng và Hải Phòng, vẫn lằng nhằng trong những phát biểu ngược dòng của các quan chức Hải Phòng và Tiên Lãng như cố tình thách thức và trêu ngươi dư luận.
Lực lượng cưỡng chế hùng hậu với phương án tiêu diệt, nhưng anh em nhà Đoàn Văn Quý vẫn bình thản ra khỏi nhà
Trước hết, dù cho ông Đỗ Hữu Ca có “chém gió” rằng: “Phải nói rằng việc hiệp đồng tác chiến cực kỳ hay. Tôi bảo, không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này” thì khách quan mà nói, vẫn phải công nhận sự bất lực của hệ thống công an và quân đội hiện nay. Lý do để kết luận điều này là với lực lượng mà ông Ca đã tiết lộ bao gồm: “Trong sự vụ này, 2 trung đội cảnh sát đặc nhiệm đã được điều động xuống hiện trường phối kết hợp với lực lượng ở đồn biên phòng phục ngoài bờ sông. Ngoài ra còn lực lượng cảnh sát bảo vệ…” lại còn “có sự kết hợp giữa địa phương, giữa công an, quân đội, biên phòng…” nhưng chỉ có vài người trong căn nhà bị cô lập và thậm chí còn sử dụng cả “phương án tiêu diệt” mà không bắt được ai, đối tượng vẫn ra khỏi đó như chỗ không người thì quả là sự bất lực rõ ràng của lực lượng vũ trang không thể nói gì hơn.
Nếu đây không phải là anh em Đoàn Văn Quý chỉ là mấy nông dân, mà là một lực lượng vũ trang nào đó chính quy chẳng hạn, thì thử hỏi sự “bách chiến bách thắng” được bao nhiêu phần trăm?
Thứ hai, là dù ở đó có cả Giám đốc Công an TP, có cả các sĩ quan, chiến sĩ biên phòng, chính quyền cấp xã, huyện, Thành phố… nhưng đến nay vẫn chưa biết ai đã phá nhà ông Vươn, không biết việc mất mát tài sản trong đầm ông Vươn ra sao? vẫn loanh quanh lấp lửng thì rõ ràng đây là sự yếu kém, bất lực của chính quyền và lực lượng chức năng ở Hải Phòng mà trước hết là đám công an của ông Đỗ Hữu Ca.
Thứ ba, cơ quan Thành ủy Hải Phòng là cơ quan quyền lực nhất ở Hải Phòng theo thể chế chính trị hiện nay, lẽ ra là nơi người dân có thể đặt lòng tin vì đảng đã tự cho mình là cha mẹ của dân, “Dân tin đảng, đảng thương dân, tình đảng tình dân như tình mẫu tử” – Lời bài hát – nhưng qua cơ quan ngôn luận mình là báo Hải Phòng, cũng như bài phát biểu của Trưởng ban Tuyên giáo Huyện Tiên Lãng với 300 đảng viên, họ đang cố tình thể hiện rằng “ý đảng” ở đây đang đi ngược lòng dân Tiên Lãng và khắp nơi.
Thứ tư, các cơ quan Quốc hội, Chính phủ mà ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng chính phủ cũng là Đại biểu Quốc hội tại Hải Phòng, ngay sau vụ việc đã có công điện số 57 yêu cầu “Xử lý nghiêm trường hợp chống đối người thi hành công vụ”. Nhưng liên quan đến vụ việc quyền lợi công dân này, thì đến nay vẫn chỉ là chỉ thị và lời hứa làm rõ vụ việc sau tròn một tháng với tư cách Thủ tướng, còn lại các cơ quan khác của Hải Phòng chỉ nhằm bao che, giải thích loanh quanh hoặc lẩn tránh.
Giải thích việc chậm trễ này, ông Vũ Đức Đam cho là “Tất cả cơ quan Nhà nước cấp tỉnh hay, bộ, ngành đều làm việc theo quy định và trình tự”.
Điều này càng khẳng định sự cồng kềnh, của một bộ máy đồ sộ khổng lồ của nhà nước hiện nay nhưng kém hiệu quả.
Rõ ràng, trong khi các quan chức và cựu quan chức cũng đã phải thốt lên rằng việc này không giải quyết rõ ràng, nhanh chóng thì có hại lớn cho hệ thống chính trị hiện nay. Nhưng cách xử sự đến nay đã chứng tỏ sự bất lực của nhà nước. Đó là sự bất lực trong khả năng giải quyết nhanh chóng các vấn đề liên quan đến đời sống chính trị xã hội và tính mạng người dân.
Người dân bất an
Chính một thứ luật pháp bất ổn kết hợp với chính quyền bất minh gồm những quan chức bất nhân và bất nhất thì việcngười dân sống luôn thấy bất an là điều không có gì phải lạ.
Không người dân nào (trừ các quan chức có thế lực) có thể chắc chắn rằng ngôi nhà mình đang ở, mảnh đất mình đã chắt chiu bao đời nay mà có, ngôi nhà thờ, đình chùa miếu mạo đang thờ tự có thể ổn định và yên chí làm ăn. Khi mà sẵn sàng có một dự án nào đó của những kẻ lắm tiền nhằm vào chỗ của họ đang sống, thì có thể sau đó là công an, là chó, là súng đạn đến “cưỡng chế” họ ra khỏi nhà để giao đất cho người khác. Nếu họ không đồng ý, thì sau đó là nhà tù hoặc cùng quẫn lắm thì là súng đạn, hoặc tự thiêu.
Trong một xã hội công bằng, văn minh và luật pháp rõ ràng, thì người dân Cồn Dầu không bao giờ nghĩ là họ sẽ phải vất vưởng ngay trên mảnh đất tổ tiên của họ xây dựng lên bao đời. Giáo dân Thái Hà không bao giờ nghĩ rằng Tu viện của họ sẽ bị biến thành nơi chứa bệnh tật truyền nhiễm và nhục mạ nơi linh thánh. Những người như Đoàn Văn Vươn sẽ yên tâm mà khai hoang lấn biển nhằm đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho gia đình.
Linh mục, tu sĩ và giáo dân Thái Hà xuống đường yêu cầu « Mượn thì phải trả » tu viện cho họ Nhưng, khi tất cả những điều nói trên không đảm bảo, thì điều
Nhưng, khi tất cả những điều nói trên không đảm bảo, thì điều gì cũng có thể xảy ra, số phận những người dân và tài sản của họ luôn trong tư thế cá nằm trên thớt, vì các dự án bất thần đổ xuống, các quyết định bất thần tung ra, cảnh sát, quân đội bất thần kéo đến… hỏi tìm đâu ra sự “an cư” để mà “lạc nghiệp”?
Phải chăng, đó chính là đặc điểm của một nền kinh tế thị trường có kèm cái đuôi “Định hướng XHCN”?
Sự việc Đoàn Văn Vươn là một điểm mốc, là một tiếng bom cảnh báo một giai đoạn, một tình trạng xã hội mà nếu không có những điều chỉnh cần thiết, không có những thay đổi kịp thời thì sự bình yên giả tạo trong xã hội chỉ là sự bình lặng tạm thời của mặt biển trong mùa bão tố.
Bởi lòng dân là sóng biển.
Hà Nội, ngày 5/2/2012
- J.B Nguyễn Hữu Vinh
Lẳng lặng mà nghe cướp nói nè…
Những lời bộc bạch của một đảng viên : Bộ chính trị ĐCSVN nên nghiêm túc cân nhắc xử lý trường hợp chị Bùi Thị Minh Hằng
23 JanBộ chính trị ĐCSVN nên nghiêm túc cân nhắc xử lý trường hợp chị Bùi Thị Minh Hằng
Nguyễn Chí Đức – « …Thậm chí họ cũng chẳng nguy hiểm cho chế độ, cho sự tồn vong của ĐCSVN bằng sự suy thoái, tha hóa, tham nhũng của những đảng viên cao cấp trên hầu hết tỉnh thành, mọi mặt trận, các lĩnh vực ở Việt Nam. Nói một cách dân gian và hơi bậy đó là “tự tay bóp dá…i” chứ chẳng có thế lực thù địch nào phá hoại nhanh chóng bằng chính trong nội bộ tự đạp đổ, đi ngược lại lợi ích và nguyện vọng của nhân dân… »
55 Ý kiến:
-
Quần chúng bất mản .Apr 12, 2012 03:31 PMHãy thả ngay Bùi thị Minh Hằng và những người biễu tình chống Trung Quốc xâm lược . Bắt nhốt và truy tố ngay những tên mở ngõ cho Tàu vào Tây Nguyên khai thác bauxit , bán Trường Sa Hoàng Sa bằng văn bản , cũng như bắt nhốt và truy tố ngay những tên lảnh đạo và những người liên quan đến các tập đoàn Quốc doanh đang làm cho ngân sách nhà nước bị thâm thủng . Bắt nhốt và truy tố ngay tên Trần Đại Quang bộ trưởng bộ công an nhân dân . Lảnh đạo ngành công an mà để thuộc cấp hống hách , lạm quyền đánh , giết nhân dân mỗi khi bị bắt vào đồn công an . Làm mất lòng tin với đại bộ phận quần chúng tức nhiên là phản động hay tiếp tay cho phản động .
-
Dân NgụyApr 12, 2012 03:51 PMĐồng chí Boris Yelsin kính mến đã nói : » Đàng CS không thể THAY ĐỔI mà phải bị THAY THẾ « .Và đồng chí Tổng Bí Trọng Lú đã phát động phong trào CHỈNH ĐỐN DẢNG.Theo Dân Ngụy tôi đảng Cướp Sạch VN không cần CHỈNH mà cần phải cần phải ĐỐN ĐỐN ĐỐN bỏooooooo
-

Ông em Nguyễn Chí Đức,
Em đã hiểu rõ về DCSVN, thì tại sao công chức phải gia nhập? Họ đã lưà bịp toàn dân VN đề giúp ḥo chiến thắng VNCH. hiện nay, toàn thế giới thấy rõ bộ mặt thỏ đế của ĐCSVN khi đối đầu với Trung Cộng (TC)…mà để bọn TC ngang nhiên đàn áp ngư dân trong v̀ung lãnh hải của VN.
-
Đồ Nhà KhóApr 12, 2012 04:43 PMNguyễn Trí Đức hãy bảo trọng. Năm nay không phải là một năm tốt của Đức đâu.
-

Ông dọa người ta hả? Nghe giọng như An ninh nhỉ!
-
Ngưỡng mộ anh Nguyễn Chí ĐứcApr 12, 2012 09:56 PMKhông tốt cho lũ Việt Cộng thì có.
Lòng dân đang căm thù Việt Cộng tột cùng, dân chúng bất mãn khắp nơi.
Định dọa những người yêu nước như anh Chí Đức đấy à? Quên đi nhé con.
Tôi ngưỡng mộ cá tính mạnh mẽ, cương trực của anh Đức.
Chúc anh Đức vững bước trên con đường chống bạo quyền cộng sản.
-
Người xe ômApr 12, 2012 10:17 PMNão bộ cảu bạn có vấn đề rồi đó.Bạn nên đi khám xem bị bệnh gì mà hèn và tệ hại quá về tinh thần của một ngừơi viết trên mạng.
-

Tôi tin là 92% khả năng a. Đức sẽ bị bọn CA nhũng nhiễu, đê hèn ở nhà riêng cũng như trong cty … A nên sớm làm ăn kinh tế cá nhân thật vững mới đối chọi dc với bọn quái thai đó. Thật lo cho a. Chúc a và tất cả những người yêu nước bình an.
-

đúng là–đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm–.nhưng dù sao cũng cảm ơn 2 từ BẢO TRỌNG.
-

Bạn nào nói Chí Đức nên bảo trong là có lý đấy : Chí Đức sinh năm 1976 ( bính Thìn) thuộc hành thổ, năm nay Nhâm thìn thuộc thủy, thổ khắc thủy là khắc nhập nên sẽ có biến cho bản mệnh. Bạn phải chú ý Tháng 3, tháng 9, tháng 12 âm lịch nhé, nhất là tháng 9 sẽ có nhiều chuyện đấy , nên cẩn trọng, khg dọa bạn đâu.
-
Lục BìnhApr 12, 2012 04:44 PM« Chữa bệnh chọn thầy già, cất nhà chọn thợ trẻ » vì chúng ta không cần CHỈNH nên không thấy các ĐV lão thành lên tiếng!? Chúng ta đang cần ĐỐN để xây lại ngôi nhà đã bị mục nát nên cần những người thợ trẻ .và bây giờ đã có người « THỢ » trẻ rồi. Mong sao có nhiều thợ trẻ góp thêm bàn tay cho ngôi nhà mới Việt Nam khang trang hơn.
Mẹ Việt Nam ơi ! thôi buồn vì đàn « con » của Mẹ ,chúng bất hiếu bán sạch gia tài của Mẹ. « Cháu » của Mẹ sẽ xây dựng lại gia tài cho Mẹ để khỏi thẹn với các Mẹ Asean -

-
Đả đảo bè lũ cọng sản bán nước giết dânApr 12, 2012 05:22 PMNhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.
-
Đồ Nhà KhóApr 12, 2012 05:37 PMTo Mat
Đồ Nhà Khó tôi rất cảm động và mến mộ những người trẻ tuổi có tâm, có đức như Trí Đức. Tôi cũng không lạ gì bản chất, tâm địa tiểu nhân và đê tiện của chính quyền CS. Tôi biết chút về tử vi, sao hạn và cũng coi Trí Đức như con em mình nên dặn dò bạn ấy vậy. Điều đó được xem là « nhọ » quá hay « thâm » quá? -
Chỉ tại chúng tôi những người miền Nam thích làm cách mạng mà dân tôi phải chịu nhiều đau khổ.Apr 12, 2012 05:49 PMỦng hộ quan diểm và lập trường của đ/c đảng viên Nguyễn chí Đức.
Tôi cũng là một người đang mang thẻ đảng, tôi chân thành cám ơn đ/c Nguyễn chí Đức đã lên tiếng bênh vực cho BH cũng là đảng viên và là người bạn tốt của nhân dân VN yêu nước.
Không phải ai mang thẻ đảng cũng xấu xa, đê tiện sẵn sàng bán nước cầu vinh, làm hại cho dân tộc hơn làm giàu mạnh cho tổ quốc.
Tôi ước được nhìn thấy các phương án « cứu uy tín đảng » của NCĐ sớm trở thành hiện thực, nhất là đoạn:
« Về lâu về dài, biện pháp an dân hiệu quả nhất là các đ/c tăng cường tuyên truyền và xác quyết mạnh mẽ cụ thể về chủ quyền quốc gia của Việt Nam đối với giặc Tàu (tương lai) cho nhân dân và cộng đồng quốc tế. Cần thiết phải có sự tuyên thệ trước quốc dân đồng bào của lãnh đạo ĐCSVN và thâm chí toàn bộ đảng viên phải xin thề khi có chiến tranh phải ra mặt trận, lên tuyến đầu, trừ trường hợp già cả/người tàn tật, phụ nữ và những trí thức lớn (để dành vào việc giáo dục) ».
Tôi chán ngán những cặp mắt « e dè » của người dân dành cho những người mang thẻ đảng lắm rồi. -

Tôi cũng gốc CS đây. Nhưng vì đó lài sai lầm ngay từ nguyên lý, học thuyết (cứ nhìn vào thực tế đủ rõ, đã ai, nước nào thành công với CNCS chưa) nên không thể trông mong gì ở sự thay đổi tiến bộ cả
Tôi ý thức rõ VN chỉ có thể tiến bộ, phát triển nếu quăng đảng CS vào sọt rác. Và đảng không bao giờ tự ý thức giác ngộ điều này. đảng nó có thể bán lợi ích quốc gia, bán rẻ nhân dân để bảo vệ cho sự độc tài cai trị của nó (sâu xa đó chính là những quyền lợi cá nhân của những kẻ nhân danh đảng)
Tôi bỏ sinh hoạt đảng từ lâu rồi -
TidanaApr 12, 2012 05:55 PMChí Đức ơi! Đừng nên xoa dầu xức thuốc cho một con bệnh mà ngay bản thân họ cũng xác định là đã ung thư giai đoạn 3…Tất cả các giải pháp nhằm hà hơi tiếp sức cho con bệnh chỉ kéo dài sự xuống cấp của một dân tộc, sự hủy hoại của một đất nước, kéo dài sự đau khổ của nhân dân!
Cách tốt nhất là phải đưa con bệnh về với ông ba nhanh nhất đó là nhân đạo nhất! Những tế bào còn sót lại như Chí Đức đừng mơ hồ nữa!
Tất cả các chính thể độc tài đều phải sụp đổ! Bất hạnh cho dân tộc nào nếu nó còn dây mơ rể má với cái CNXH mơ hồ!
Không nên hà hới tiếp sức cho cái cơ thể đã chết lâm sàng với căn bênh ung thư giai đoạn cuối! Tốt nhất là lo hậu sự :Xử lí cái cuối cùng để khỏi lây lan di truyền cho thế hệ sau!
Chí Đức chưa LÚ mà sao?????
-

CS thì không thể sửa đổi. Nó sai lầm ngay từ tà thuyết của cố nội nó. Chúng cố bám víu vào để trục lợi cá nhân mà thôi. Cả thế kỷ nay, từ khi có Tà thuyết CS đã có thằng nào thí nghiệm thành công đâu. VN không sớm vứt bỏ nó đi thì còn tụt xuống hố như BTT
Đã sai lầm thì ngày càng lụn bại, đi vào chỗ chết. Chỉ khổ cho dân tộc ta bị mấy thằng ngu rước nó vào nên mới ra nông nỗi này -
VẤT THẺ ĐÒANApr 12, 2012 10:46 PM« Một vài tế bào khỏe mạnh không thể cứu nổi một cơ thể ung thư tòan diện ». Cảm ơn Chí Đức.
-

Nhà tôi vào đảng ba đời
Chẳng ai có được một lời như em
Cầu cho em biết nhiều thêm
Để quê hương được đêm đêm yên bình
hànvi -
Dân đen thuiApr 12, 2012 06:55 PMChí Đức..cám ơn bạn …xin gửi bạn lòng khâm phục ..nếu ai theo đảng nhìn ra những điều như Đức …thì nước ta không phải như vậy ..Bảo trọng nhé bạn
-
Dân ngu cu đenApr 12, 2012 07:13 PMChí Đức khi viết bài này cho chúng ta hiểu là chú ấy đã thấy chuyện gì đang đợi chú ấy và chú ấy không sợ.
Bọn chúng bắt chị Hằng bằng lý do mờ ám là đã bị 2. 3 lần bị phạt hành chính vì tội gây rối « trật tự công cộng ». Gây rối ư ? Biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn là gây rối ư ? Bọng chúng nó mồm thối hết rồi.
Hộ khẩu, tạm trú một nơi mà lại đi lung tung nhiều nơi là vi phạm sao ? Hiến pháp nào quy định như vậy?
Tại sao chỉ trừ Nguyễn tấn Dũng ? Chí Đức nghĩ rằng những Lê Hồng Anh, Tòng thị Phóng, Đinh Thế Huynh, Nguyễn phú Trọng, Tô Huy Rứa là tốt hơn Nguyễn tấn Dũng à? Nhiều khi họ còn thối hơn cơ đấy. -
dong huongApr 12, 2012 07:16 PMCó phải là Chí Đức không? Hay ai mạo danh?
Nếu đúng thì quả không hổ danh là dân Nghệ An. Ngay thẳng, cương trực.Tất nhiên là cũng có những cụ Nghệ An khác là những đại kịch gia.
Bravo Đức – đồng hương ngả mũ chào.
-
Bác Nông DânApr 12, 2012 07:55 PMRất hay, hay nhất câu « tự tay bót dá…i »
Nếu Đảng Viên nào cũng biết nghĩa lý và sáng suốt như anh này thì Việt Nam giàu biết mấy… nhưng mà nếu sáng suốt và thông minh thì Đảng CS đâu còn tồn tại làm gì nữa, những quốc gia phồn thịnh giàu có, có nước nào có Đảng CS nắm quyền đâu?
Cảm ơn bác Đức đã lên tiếng cho một người dân yêu nước.
-

-
Ngô MinhApr 12, 2012 08:20 PMvứt thẻ đảng đi ông Đức ơi.Bao nhiêu người không đảng người ta vẫn sống.Dù rằng số đông bị bọn cai trị đày dọa nhưng lương tâm trong sáng .Cực khổ rồi có một lúc sẽ qua cái hèn nhục thì đeo đẳng suốt đời,Rồi con cái trong gia đình nữa chúng phải sống làm người có tư cách để xưng đáng làm người chư.Cứ ôm khư khư cái thẻ đảng làm gì cho nhục nhã tổ tông,làm sao giáo dục chúng thành người hửu dụng.Hay là ông giận đảng ta vì chưa cho ông quyền chức gì để……
-
Dân đen VNApr 12, 2012 08:21 PMRất cảm ơn Nguyễn Chí Đức, 1 đảng viên xuống đường bị công an đạp vào mặt- đạp vào nhân dân, đạp vào lịch sử !
Nay, chú viết thư ngõ, rất hào hùng, cương trực, khẳng khái và tâm huyết với nhân dân !
Thưa chú Đức và các chư vị !
Họ nhà tôi vô d9cs vn từ 4 đời, từ thời tiền khởi nghĩa (8/1945) cơ. Nhưng bây giờ thì khiếp sợ, ghê tởm đcs Vn. Vì: khi 1 đảng độc quyền đã lộ tẩy ra vô vàn mục đích bẩn thỉu: tham nhũng, cướp bóc, bóc lột,tha hóa…Để đạt được, chúng (tổ chức đcs VN) đề ra nhiều giải pháp, phương pháp: đê tiện, đê hèn, mưu mô, thủ đoạn, lưu manh, tha hóa, tranh giành, cướp cắp, đê tiện, nịnh nọt, luồn cúi, hèn hạ, độc ác…và quay lưng lại với lợi ích của nhân dân; chà đạp lên mọi phẩm giá của dân tộc, nhân dân!
Không 1 quốc gia, dân tộc nào trong số hơn 200 quốc gia, dân tộc trên thế giới lại có 1 thực thể chính trị như VN: khoảng 3 triệu người, bao gồm: đảng viên giữ các chức quyền trong mọi cơ quan, đơn vị lại quyết định, điều hành, độc quyền mọi hoạt động, mọi công việc của 87 triệu người còn lại ??!!! Chúng (tổ chức đcs VN) đã hủy hoại cả dân tộc, làm mục ruỗng cả dân tộc.
Không có 1 công trình khoa học nào chứng minh được hơn 3 triệu quyết định 87 triệu như hiện tình ơ VN.Tại sao là 3 triệu ? Chúng (tổ chức đcs) bao gồm những đảng viên đang giữ chức quyền ở tất cả các cơ quan, đơn vị từ dân chính đến cấp ủy, từ dân sự đến quân sự cộng thêm những cán bộ có chức quyền đã nghĩ hưu.Nạn nhân của chúng là quần chúng nhân dân+đảng viên là nhân viên+đảng viên hưu trí không có chức quyền khi đương chức+1 số ít đảng viên hưu trí liêm khiết cả đời=gần 87 triệu người.
Làm thế nào ? Chỉ có 1 cách duy nhất là thay đổi, đạp đổ sự cầm quyền độc đoán của đcs Vn để xây dựng 1 chế độ đa đảng, đa tổ chức chính trị. Mấy ngày này, báo chí đưa tin nước này, nước kia bầu cử, từ chức…tôi cứ mơ, bao giờ Vn cũng thực sự như họ: đa đảng thì lành mạnh, có đối trọng thì sẽ lành mạnh. Có cạnh tranh thì mới tìm được minh chủ lãnh đạo. Chúng ta (những con dân Việt) đang phải chịu sự khốn nạn vì phải sống trong 1 quốc gia bệnh hoạn, lũng đoạn vì độc đcs Vn! Chúng rêu rao « diễn biến hòa bình » nhưng chính chúng đang « diễn biến » để ức hiếp, hiếp đáp, chà đạp, đày đọa, bóc lột những người dân đen VN! -

-
Rock and RollApr 12, 2012 08:54 PMCái chế độ cộng sản thối nát Việt Nam chỉ giỏi đi ăn hiếp đàn bà và con nít nhưng đối với bọn bành trướng Bắc kinh thì công an và cán bộ cộng sản không dám đụng tới!
-
tỉnh ngộApr 12, 2012 08:57 PMkính thưa các anh chị trong dân làm báo
Nhà tôi vốn có truyền thống cách mạng , Cha theo Việt Minh ,về sau dẫn đắt tất cả các con theo ĐCSVN ,tôi có 4 đứa em nữa , tất cả đều là Đảng viên , đủ ban ngành từ công an đến quân đội , những năm gần đây chúng tôi tiếp cận được thông tin trên internet , và tìm hiểu , mới thấy sự xảo trá thối tha của chế độ , nên tất cả đều trả thẽ đảng viên và xin nghĩ việc .
đây là sự thật 100% , giờ đây tôi cảm thấy nhẹ nhàng , không còn bức rức lương tâm như khi xưa nữa , ( trước đây tôi là CA ) Tôi mong rằng những người như tôi hãy sớm tỉnh ngộ mà quay về với quê hương dân tộc . -
Giáo LàngApr 12, 2012 11:14 PMĐọc những chia sẽ ngắn gọn của bạn thật súc động. Cảm ơn bạn. Tôi làm nghề giáo, khi có dịp tôi luôn nói với các em về truyền thống yêu nước và những đức tính tốt đẹp của dân tộc: Chăm chỉ, trung thực, thẳng thắn cương trực đối diện, đấu tranh với cái xấu không sợ hãi, yêu thương đùm bọc nhau, hãy sống quang minh chính đại, ko sợ cường quyền ác bá, đừng nhiễm lối sống chai lạnh, làm ngơ trước những bất công, ức hiếp người khác, lối sống bạo lực và hưởng thụ đang diễn ra hàng ngày trong xã hội ta, phá hoại nền đạo giáo của dân tộc.
Xin cảm ơn bạn Tỉnh Ngộ. -
Sự ThậtApr 12, 2012 09:00 PMCám ơn bạn Chí Đức. Dân Việt cần những người con không sợ cái ác như bạn. Biết bạn sẽ bị bắt và bị giết vào một ngày gần đây, nhưng tôi không biết làm sao để cứu bạn được. Chỉ xin cầu mong bạn được bình an.
-
Thằng Mõ Úc ChâuApr 12, 2012 09:05 PMNhân dân Việt Nam cũng biết rằng. Không phải tất cả người nào gia nhập vào đảng cộng sản đều xấu, đều tham nhũng … !!! Chúng ta ước mong sẽ có càng nhiều « đảng viên » thức tỉnh và dám nói lên sự thật như Nguyễn Chí Đức. Chúc bạn sức khỏe để tiếp tục làm những việc ích nưóc lợi dân.
-
Quá chánApr 12, 2012 09:21 PMCàng ngày càng thấy lãnh đạo nói xa rời với thực tiễn. Tại sao không giải thích cho nhân dân » nước lạ » » tàu lạ » cụ thể là gì và tại sao phải gọi như vậy. Các vị lãnh đạo chỉ có sức mạnh thực sự khi lời nói phải đi đôi với việc làm.
-

Em Đức đừng vất thẻ đảng nha! để đó sau này bán cho Mỹ lấy đola. vất đi phí lắm!!!
-

Đọc những bài viết gần đây của Chí Đức, tôi nhận thấy tâm lý « tự diễn biến » của bạn đã chín. Bạn đã vượt qua nỗi sợ hãi và thậm chí đã phải trải qua những hành vi đe dọa, áp lực của Đảng ta mà đứng lên công khai vạch mặt chế độ. Chúc mừng bạn và mong nhiều đảng viên khác hãy xem
Khi đã dồn người ta vào đường cùng, lúc đó mạng sống cũng không còn ý nghĩa gì chứ đừng nói là cơm áo, gạo tiền. Tôi cũng ở hoàn cảnh giống bạn và chắc sẽ có ngày anh em mình được gặp nhau trên chiến tuyến.
-
Thúi không chịu nỗiApr 12, 2012 09:40 PMXEm cái clip nhục mạ chị Hằng , tôi thấy nó bốc mùi xú uế thối không chịu nỗi ! đúng là một lũ vô liêm sỉ !
-

Đảng ta không muốn có ác ý với chị Hằng .Thực sự lá đảng muốn chặn đứng sự tụ tập của quần chúng ,có thể gây nên cái gọi là cách mạng hoa lài .Đảng đã suy yếu từ nội bộ tham quan ,nên rất sợ sự phản ứng của dân chúng ,chỉ làm thêm đỗ vỡ ? Như thế có đúng không ? Hay là thế lực xấu ,tham quan trong đảng đang nắm giữ quyền lực ,còn đảng viên tốt khác bó tay ,muốn đè bẹp phong trào tức nước vỡ bờ của dân chúng ?Đằng nào đảng CS VN cũng SAI với lịch sử nước nhà !!Vẫn cứ giữ phương pháp ăn tham vơ vét đồng thời đàn áp dân thì ….cứ làm tiếp đi ,sau sẽ thấy !!
-
Người điểm tinApr 12, 2012 10:11 PMNguyễn Chí Đức lẽ ra cần khuyên bộ chính trị cộng sản nên bắt đảng viên, bắt người yêu nước càng nhiều càng tốt…để cho mười bốn tên côn đồ, cả trai lẫn gái của cái bộ vô chính trị này chết càng sớm càng tốt! Chết càng thê thảm càng tốt!
Đã quá muộn rồi! Đường của chúng chạy ra ngoài không còn nữa… Chạy loanh quanh trong nước chổ nào cũng có nhân dân, mà nhân dân đang mong chờ cảnh này của những tên ác ôn côn đồ cộng phỉ như nông dân trong cơn đại hạn đang trông đợi mưa mùa.
« Chúng nó có chui lỗ nẽ nào, ta cũng phải đào lên cho bằng hết. » đó là lời của những người nông dân tuy quê mùa, chất phác, nhưng lời của họ là lời của dao chém đá, cả già lẫn trẻ, khắp nơi, khắp nước! Thế đường cùng của bọn chó ghẻ bán nước sẽ chạy đi đâu? chạy vào đâu? Ga Đa Phi còn có ống cống để chui vào vì Gadahphi chỉ có một mình, còn bọn ác ôn Ba Đình liệu có đủ ống cống?
Ba mươi tháng tư, « có triệu người vui, cũng có triệu người buồn… » nhưng nay tình thế đã đão ngược: « Cả nước mừng vui, kể cả vợ con của những tên cộng phỉ ác ôn côn đồ cũng mừng vui, vì chính họ đã có thể thoát ra khỏi cuộc đời địa ngục khi những tên « chồng » là bọn đầu trộm, đuôi cướp, rường cột của đảng cộng sản…phải đền tội trước nhân dân!
Sống với những kẻ mà nhân cách không có, thì dù có tiền rừng bạc biển, hơn nữa lại là những đồng tiền do trộm cắp, cướp bóc, bán nước… mang lại, cuộc sống chung với những con quái vật này cũng chỉ là địa ngục trần gian! Cảnh này những ai từng trải đều cũng hiểu được nổi khổ tâm của biết bao người trong cảnh ngộ.
Nguyễn Chí Đức là người tốt, hãy tự cứu mình, cộng sản nòng cốt của chế độ bán nước là loài rắn độc , cứu rắn độc có khi mang hại vì chúng đó thôi! Giờ lịch sử đã điểm, hãy chờ xem số phận của những con rắn độc trong bàn tay Thuợng Đế. -

Đề nghị mọi người đến đài phát thanh truyền hình Hà Nội yêu cầu họ trả lời xem Bùi Thị Minh Hằng gây dối trật tự công cộng là gây dối việc gì? Chẳng lẽ chị ấy ra đường gào thét không thôi!
-
Phu quét rácApr 12, 2012 10:28 PMBộ Chính Trị của tòan đảng CSVN .
SAO LẠI SỢ MỘT NGỪƠI PHỤ NHỮ CÓ TÊN LÀ BÙI THỊ MINH HẰNG QUÁ VẬY ?????????????
Hèn với TRUNG QUỐC và Tàn ác với nhân dân như vậy ?
Nhất là đối với NGỪƠI PHỤ NỮ MANG TÊN BÙI THỊ MINH HẰNG .
Yêu cầu ai đó trong Bộ Chính Trị trả lời em trên mạng , xin cám ơn nhé. -
BoChiaTienApr 12, 2012 10:39 PMBộ Chánh Trị = BCT = Bộ Chia Tiền = Bán Nước Theo Tàu.
Cho nên muốn cứu nước thì phải dẹp bỏ đảng CSVN chớ không phải là đề nghị xin cho với đảng CSVN!
-
NHƯNGUYÊNApr 12, 2012 10:55 PMĐảng csvn là đảng bán nước nên không thể chỉnh sửa gì hết.chỉ có một con đường duy nhất là lật đổ.Tuy nhiên những đảng viên yêu nước muốn có một vị trí của mình trong chế độ tự do sắp đến thì ngay bây giờ hãy mạnh dạn lên tiếng cho nhân dân VIỆT NAM biết sự thật về HCM và ai đã ra lệnh cho ông PHAM VĂN ĐỒNG ký công hàm công nhận HOÀNG SA là của TÀU và hãy thể hiện một hành động ăn năng sám hối với dân tộc VIỆT NAM bằng cách giao tàu ngầm sắp mua của NGA cho các sĩ quan QLVNCH đang ở nước ngoài sử dụng đánh chiếm lại HOÀNG SA(vì quân đội vn hiện tại không dám chống lại TÀU)
-
dân đen phố núi Pleiku, Gia LaiApr 12, 2012 10:57 PMRất cảm ơn Nguyễn Chí Đức. Bạn thật dũng cảm dám công khai đấu tranh với đám quan chức cộng sản. Tôi hay độc dân làm báo nhưng tôi thấy ít ai công khai như bạn, nếu các bạn đảng viên đều công khai đấu tranh thì các quan chức cộng sản cũng khong xây đủ nhà tù để nhốt được. Tôi là dân đen chỉ chờ có cơ hội là tôi tiến thẳng lên quật ngay những tên cộng sản vô lại để đất nước con cháu ngày mai mới hy vọng ngốc đầu lên được.
-
Dân NamApr 12, 2012 11:22 PMTrời ạ!
Mấy năm 1989/1991, thế giới đã chứng kiến chế độ cộng sản LX/Đông âu sụp đổ, đảng và cờ cộng sản bị vứt vào sọt rác, thay vào đó là lá cờ cũ mang tính quốc gia, dân tộc của họ. Thế mà năm 2000 Nguyễn chí Đức vào đảng làm gì để hôm nay phải mệt óc viết đơn xin xỏ.
Riêng một số bạn trong diễn đàn này thú nhận đã hoặc đang theo cộng sản thì nên rủ Nguyễn chí Đức và đồng đội xuống đường vứt thẻ đảng, vứt cờ, vứt hình HCM để trở về với nhân dân, bỡi chủ nghĩa cộng sản đã bị nghị hội Âu châu liệt vào hạng khủng bố, chống nhân loại mà ai cũng biết. Những người cộng sản kỳ cựu như Dương quỳnh Hoa, Nguyễn Hộ, Nguyễn văn Trấn, Dương thu Hương, Trần anh Kim, Bùi Tín, v.v đã bỏ đảng lâu rồi. Sao các bạn trẻ chưa bỏ đảng vậy? Có phải vì quyền lợi, vì miếng ăn nên bám đảng để giúp cho Hà nội tiếp tục bán nước và đè đầu cỡi cổ toàn dân. Thế thì các bạn nói rằng các bạn yêu nước, yêu dân là yêu chỗ nào?
Hãy tưởng tượng năm 2012 này một triệu đảng viên trẻ xuống đường xé thẻ đảng, hô hào đồng bào cùng nhau vứt 4 biểu tượng ác ôn là Hồ, cờ máu, đảng và nhà nước cộng sản thì Bùi Hằng, Cù huy Hà Vũ và bao nhiêu người tù lương tâm khác sẽ được rời khỏi nhà tù nhỏ ngay. Cá nhân các bạn (những đảng viên cộng sản sái mùa) cũng sẽ không bị giam hãm trong nhà tù lớn. Lúc đó các bạn đem tài năng, trí tuệ và tuổi trẻ ra phục vụ cho Việt nam tự do, dân chủ, đa đảng, đa nguyên với tam quyền phân lập. Không lẽ các bạn có học, có tuổi trẻ mà không phân biệt được ý nghĩa của hai từ Quốc – cộng, để tự vứt đảng, phá gông xiềng, đập nát cái vòng kim cô, tự giải phóng để sớm trở về với quốc gia, dân tộc sao? Mượn một đoạn bà Dương thu Hương từng dẫn chứng:
Tổng Thống Nga Vladimir Putin:
Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói, là không có cái đầu.
Kẻ nào làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim.Tổng Thống Nga Boris Yeltsin :
Cộng Sản không thể nào sửa chửa, mà cần phải đào thải nó.
Bí Thư Đảng Cộng Sản Nam Tư Milovan Djilas:
20 tuổi mà không theo Cộng Sản, là không có trái tim,
40 tuổi mà không từ bỏ Cộng Sản, là không có cái đầu.Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên xô Mr. Mikhail Gorbachev:
Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản.
Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối tráTT Thiệu nói:” Đừng nghe cộng sản nói mà hãy nhìn cộng sản làm “
Hãy bỏ đảng ngay đi Chí Đức và các đảng viên trẻ ơi !
-
Đừng sợ những gì CS làm, hãy làm những gì CS sợApr 12, 2012 11:30 PM« Đảng ta » mà khôn thì phải nhìn MĐ mà dựa vào lòng dân, thế nước để tự gỡ cái vòng kim cô do mình tự chụp lên trước cho Tàu nó dộng chặt chứ ai lại hết đánh, đá dân đen, dân oan tới đánh đá luôn đồng chí, đồng rận cúc cung tận tuỵ tin đảng gần hết đời như Lê Hiền Đức, Phạm Đình Trọng, Tô Hải, Nguyên Ngọc, Lê Hiếu Đằng, Tống Văn Công, Đỗ Xuân Thọ, Nguyễn Hộ… (kể không hết) cho tới đảng viên tuổi đảng còn non như Nguyễn Chí Đức.
Khi có thêm các bầy tôi đảng Nguyễn Chí Đức, Lê Hiền Đức đường đường chính chính bước ra khỏi lề đảng phản dân hại nước vốn « tự tay bóp dái » nhưng hèn nhát vu khống cho dân « phản động », « thù địch » để đứng hẳn bên lề dân thì « đồng chí » nào còn ở với đảng là còn tự bôi xấu và hạ thấp phẩm cách của mình.
-
Hèn cả lũApr 12, 2012 11:41 PMNhờ bị đảng sai thuộc cấp ‘đạp mặt’ lại còn lệnh cho Đứt Nhanh dùng đài báo đảng đổi trắng thay đen trấn nước mà Chí Đức mới có cơ hội đi đường ngay và trở thành công dân lương thiện. Hoan hô. Nào mời các đảng viên chưa ra mặt khác gia nhập đội ngũ công dân để cùng đưa ĐCSVN ung thư di căn giai đoạn cuối mau về chầu Diêm Vương trả lại quyền làm chủ đất nước cho hơn 80T dân. Nói như Chí Đức là « trừ Nguyễn Tấn Dũng » và trừ luôn hết thảy bọn « đồng chí » cao, thấp, to, nhỏ của y.
-
Người Hà NộiApr 12, 2012 11:53 PM14 tên lưu manh cướp ngày càng có những hành động dơ bẩn , đê tiện .
Thằng Lú Sang Dũng Hùng Huynh Quang không xứng đáng bú L. chị Hằng . -

-

Chia sẻ với những dòng trung thần của Chí Đức, nhưng mọi người nên hiểu cho Cộng đồng Châu âu đã ra nghị quyết 4181 rằng :’CS là thảm họa, là diệt chủng, là chống lại loài người’… có gì nghi ngờ tất cả những việc làm của chúng.
-
BinhLong75(USA)Apr 13, 2012 12:49 AM“Nếu những người cs chân chính và ưu tú, đã từng đưa đcsvn lên đến đỉnh cao của quyền lực, thì cũng chính họ, sẽ là những người “biết cách”, đưa cái đảng này đi vào lòng đất một cách nhanh chóng nhất…” …” – Trích lời của một Cựu Sĩ Quan Tình Báo Chiến Lược cao cấp Hoa Kỳ
-
Không nói chuyện với cọng sảnApr 13, 2012 12:52 AMỐi giời ơi! giờ nầy mà ông cò khuyên mấy thằng cọng sản đấy à?
Nổi lửa lên để mà đốt hết cái đám ôn dịch đó đi.
-
Một thằng giữ xe đã đốt thẻ đảngApr 13, 2012 01:00 AMĐốt thẻ đảng đi đ/c Đức ạ, tất cả đã “muộn” lắm rồi!!!!!
Anh em chúng ta, hãy cùng nhau hướng đến ít nhất, là một đảng khác… -

ỐI GIỜI CAO ĐẤT DÀY ƠI!!!,BÀY TỎ LÒNG YÊU NƯỚC LÀ:CHÀ ĐẠP LÊN LUÂN THƯỜNG ĐẠO LÍ?!!!.cắt mẹ nó lưỡi mấy con vẹt này đi hay Ị lên đầu mấy thằng chỉ đạo đây nhỉ?!!!!.VÃI DOAN!!!!!.
-
ngư dân Việt nam lại bị bắtApr 13, 2012 02:03 AMPhilippines bắt giữ 12 ngư dân Việt Nam
TTO – Đại diện cơ quan ngoại giao của Việt Nam tại Philippines xác nhận với Tuổi Trẻ đã nhận được thông tin từ hải quân Philippines cho biết: 12 ngư dân Việt Nam trên tàu QNg 95997 vừa bị hải quân Philippines bắt lúc 10g sáng 12-4 ở vùng biển tỉnh Balabac, thuộc tỉnh Palawan phía tây nam Philippines.
Thông tin ban đầu cho biết, những ngư dân bị bắt khai là người Việt Nam, có giấy chứng minh nhân dân của Việt Nam. Trên tàu của họ có 20 con rùa biển.Cũng theo thông tin từ Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines, dự kiến tối 13-4, hải quân Philippines mới dắt tàu này về đến Palawan để xử phạt.
Những lời bộc bạch của một đảng viên
LỜI BỘC BẠCH CỦA MỘT ĐẢNG VIÊN
Mời xem lại để nhớ một thời xa xưa! Và nhớ giữ làm kỷ niệm…
10 JanMời xem lại để nhớ một thời xa xưa!
Và nhớ giữ làm kỷ niệm…
Tài liệu cũ nên lưu trữ, thích phần nào mở ra xem phần đó.
Xe gắn máy tại miền Nam trước 75
« Xe gắn máy tại miền Nam trước 75 http://www.angelfire.com/zine2/risingsun/Literature/XeGanMay.htmlhttp://minhduc7.blogspot.com/2010/07/xe-gan-may-tai-mien-nam-truoc-75.html Phi Lo… »
Chúng Ta đi Bầu VNCH .( Hình ảnh khi xưa đi bầu cử)
Posted on Feb 18, ’11 4:22 PM for everyone
« Bầu cử: – – – – – – – — — Ai đây??- – – – Nón nhựa một thời – « Cử tri » nhí??? – VT »
Nử Quân Nhân VNCH .
Posted on Feb 18, ’11 3:47 PM for everyone
« Nử Quân Nhân VNCH . »
Citroën La Dalat… Made in Vietnam Cộng Hòa
Posted on Feb 18, ’11 3:24 PM for everyone
« Citroën La Dalat… Made in Vietnam « Nam kỳ khởi nghĩa » tiêu « Công Lý » »Đồng khởi » vùng lên mất « Tự Do » Một chiếc xe La Dalat được trưng bầy ở Vương quốc Bỉ. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, đ… »
Không ảnh của Sài Gòn xưa và nay,…
Posted on Feb 17, ’11 6:07 PM for everyone
« Kênh Thị Nghè: Cầu Chà Và: Cầu Khánh Hội: Cầu Muối( Ông Lãnh): Bảo Tàng Việt Nam: Cầu Móng: Chợ Bình Tây: Sông Sài Gòn: Đường Đồng Khởi: Đường Nguyễn Huệ: Nhà thờ Đức Bà: Dinh Độc … »
Cầu Sài Gòn trước 75 ….Cầu Chà Và …Cầu Kiệu …Cầu Ông…
Posted on Feb 17, ’11 5:27 PM for everyone
« Saigon 1955Cầu Chà vàCầu KiệuCầu Ông LãnhCầu MốngĐường Monorail vẫn còn, cắt Công trường Mê Linh, trước khi có tượng Hai Bà TrưngCầu Quay Khánh Hội 1955 vẫn còn quay đượcChợ Bình t… »
Sài Gòn : các loại xe đò xưa !
Posted on Feb 17, ’11 12:02 PM for everyone
« *Có 1 chiếc xe tải cũng chở quá xá -ngó thấy ngộ nên cho vô ké luôn: »
Dung nhan 5 nử văn sĩ nổi tiếng thời chiến tranh .
Posted on Feb 16, ’11 11:27 AM for everyone
« Dưới ngoi bút vẽ của Choé »
Trường học và Nam Nử học sinh Sài Gòn xưa
Posted on Feb 16, ’11 11:23 AM for everyone
« Niên khóa 1968 – 1969 : Bà nội bà ngoại nào trong hình thì ra nhận nha : NS Trưng Vương nảy: Niên khóa 1970 : Cổng trường sửa soạn lễ Hai Bà Trưng … Làn môi em chưa hôn qua một l… »
Tượng Đài xưa ở Sài Gòn và biểu tượng cho binh chủng …
Posted on Feb 15, ’11 11:35 AM for everyone
« ( Hôm nay Ròm lụm được một mớ hình tượng biểu tượng cho binh chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa .Bạn nào có hình tương tợ cho Ròm xin thêm nha …Cám ơn nhiều .) Tượng Trần Hưng Đạo … »
Thiệp Chúc Tết của Quân Lực VNCH
Posted on Feb 14, ’11 11:35 AM for everyone
« *Thiệp chúc Tết Xuân Mậu Thân 1968 – Binh chủng Biệt động quân: *Thiệp chúc Tết mừng Xuân Quý Sửu 1973 – Tiểu đoàn 1 Nhảy dù: *Thiệp chúc Tết Xuân Nhâm Tý 1972 – Binh chủng Nhảy dù… »
Có ai còn nhớ?: Tiền Xu VNCH
Posted on Feb 14, ’11 5:15 AM for everyone
Ảnh xưa :Sài Gòn 1961 VNCH
Posted on Feb 9, ’11 4:02 AM for everyone
« Ròm ôm về một số hình ảnh xưa của thời VNCH để chia xẻ (chia sẻ ? chia sẽ? chia xẽ?) với anh chị em còn nhớ tới thời ấy . Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo….. Nền củ lâu đài bóng tịch… »
70 Năm Âm Nhạc Việt Nam
Posted on Jan 30, ’11 5:44 AM for everyone
« 70 Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam (1930 – 2000)Trích từ SBS radio (Úc Châu) do Hoài Nam biên soạn************ ************* Notes: Bạn cần có Windows Media để nghe chương trìn… »
Quân Sử VNCH Qua Tem Thư Bưu Chánh
Posted on Jan 27, ’11 9:04 AM for everyone
« Quân Sử VNCH Qua Tem Thư Bưu ChánhLễ Kỷ niệm Hai Bà Trưng và Ngày Phụ Nữ Việt Nam Giá tiền 0đ50-nhiều mầu; 2đ00- nhiều mầu; 3đ00- nhiều mầu; 6đ00-nhiều mầu. Họa sĩ Nguyễn-Gia-Trí v… »
Xuân và người lính Việt Nam Cộng Hòa trong nhạc Việt
Posted on Jan 2, ’11 2:04 AM for everyone
« Xuân và người lính Việt Nam Cộng Hòa trong nhạc Việt http://dvtnradio.com/audio/xuan_va_Nguoi_Linh_VNCH.wmaLê Hoàng Thanh (Để tưởng nhớ đến anh tôi, bạn bè và những chiến sĩ VNCH đ… »
Air Viet nam & VNAF Trước 75
Posted on Dec 22, ’10 10:16 AM for everyone
« air VN : *VNCH air force : Skyraider & F-5A *A-37: »
Xe gắn máy Sài Gòn trước năm 1975
Posted on Dec 21, ’10 2:56 PM for everyone
« Xe gắn máy Sài Gòn trước năm 1975 Một thời để nhớ . Có thể nói xe đạp và xe gắn máy là phương tiện di chuyển chiếm đa số tại miền Nam trước 1975 và cho đến nay, xe gắn máy vẫn là p… »
Xe thổ mộ
Posted on Nov 28, ’10 3:36 AM for everyone
« Nhìn lại những hình ảnh về Xe Thổ Mộ – còn gọi là Xe Ngựa trên Ban Mê Thuột – chợt nhớ cái nghịch ngợm của tuổi học trò ! Trước năm 75 trên Ban Mê Thuột, xe ngựa được xem như là mộ… »
Hình ảnh Huế xưa…YouTube Clip
Posted on Nov 26, ’10 1:05 PM for everyone
« Hình ảnh Huế xưa.- Old pictures of Hue, ancient capital of Vietnam ******+++++***** *****+++++***** »
Mời Nghe « Tiếu Vương Hội » -Hài Trước 75
Posted on Nov 18, ’10 3:02 PM for everyone
« TIEU VUONG HOI 1TONTON MY ********************* TIEU VUONG HOI 2 TONTON MY ********************* TIEU VUONG HOI 3 TONTON MY ********************* TIEU VUONG HOI 4 TONTON MY *******… »
Mời Pàcon vào xem phim Cine VN trước 75 .(ôm về từ nhà anh b…
Posted on Nov 11, ’10 2:30 AM for everyone
« ( Ròm rinh nguyên hầm phim của nhà anh bactu đem về đây cho Pàcon và Ròm cùng xem phim .Nhớ hồi nhỏ vào dịp tết Nguyên Đán mùng 1,2 và 3 ,Ròm xem phim VN tại rạp Duy Tân Vũng Tàu …. »
Quân Phục VNCH ( p. 2 )
Posted on Oct 27, ’10 7:37 AM for everyone
« chiếc trực thăng riêng của tổng thống Diệm trường võ bị quốc gia Việt Nam thời đệ nhị Cộng Hoà (63-75) hình bao thuốc lá quân tiếp vụ Gói xanh là hàng cho lính Bán cho dân là gói m… »
Quân Phục VNCH
Posted on Oct 27, ’10 6:34 AM for everyone
« Nguyễn Văn Thiệu với bộ đại lễ trung tướng lục quân (19/6/1966) Nguyễn Cao Kỳ với bộ đại lễ thiếu tướng không quân (19/6/1966) Lưu ý: Ảnh bị phóng ngược Trung tướng Nguyễn Hữu Có M… »
Nhạc Trẻ Việt Nam, thập niên 60-70. Part 1 – 5
Posted on Oct 26, ’10 10:23 PM for everyone
« Nhạc Trẻ Việt Nam, thập niên 60-70. Part 1 Ca sĩ và những ban nhạc trẻ : The Vibrations, Tung Giang, Hai Au, Duy Quang, The Starling, The Free Ones, My Hoa, Kim Anh, Uyen Ly, Minh … »
Ký ức chiến tranh ,Huế Mậu Thân 1968 (Vài hình ảnh sưu …
Posted on Oct 25, ’10 4:29 PM for everyone
« image hosted on flickr »
Huân Chương & Huy Chương VNCH
Posted on Oct 23, ’10 1:27 PM for everyone
« Bảo Quốc huân chương Đệ 1 đẳng Grand Officer First Class Chương Mỹ bội tinh Chuong My Merit Medal Xã hội bội tinh Social Service Medal Chỉ đạo bội tinh Leadership Medal Quân công b… »
Bộ Huy Hiệu QL Việt Nam Cộng Hòa
Posted on Oct 21, ’10 2:17 AM for everyone
« Phu Hieu QLVNCH Quan Huy VNCH Bo TTM Cuc Cong Binh Cuc Mai Dich Cuc Quan Cu Cuc Quan Nhu Cuc Quan Nhu 2 Cuc Quan Y Cuc Truyen Tin Nha Dong Vien Nha HCTC Nha Quan Phap Nha Dong Vien… »
Vài hình ảnh kiêu hùng của Hải Quân VNCH trong trận hải…
Posted on Oct 19, ’10 4:52 AM for everyone
« Vài hình ảnh kiêu hùng của Hải Quân VNCH trong trận hải chiến bảo vệ Quần đảo Hoàng Sa ngày 19 tháng Giêng năm 1974 lính Biệt Hải VNCH tại Hoàng Sa chiến hạm… »
Những hình ảnh xưa rất hiếm quí của Bác Sĩ Hocquard. Việt-N…
Posted on Oct 14, ’10 10:51 AM for everyone
« Những tấm hình của Bác Sĩ Hocquard hay là hình ảnh của Việt-Nam vào những năm 1884-1885 Năm 1884, Ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam… »
Vòng Quanh Các Rạp Ciné SàiGòn Ngày Xưa
Posted on Oct 14, ’10 12:53 AM for everyone
« Vòng Quanh Các Rạp Ciné SàiGòn Ngày Xưa Ngày Xuân Vòng Quanh Các Rạp Ciné SàiGòn Ngày Xưa Nhắc đến các thú vui của dân tộc ta trong 3 ngày Tết mà không có mục xem ciné thì quả là m… »
Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa Duyệt Binh (Youtube Videoclip)
Posted on Oct 13, ’10 10:01 AM for everyone
« 1.2. »
Mỹ Tho ngày xưa
Posted on Oct 12, ’10 2:16 AM for everyone
« Tho 1968 1969 1969 – đường Mỹ Tho – Chợ Gạo 1969 Mỹ Tho 1969 – sắp hàng lên phà Chợ Gạo 1969 – kinh Chợ Gạo 1969 – phà Chợ Gạo – -đường Hùng vương năm 69 -Rạp cine gần chợ củ -Thiế… »
Vài hình ảnh sinh hoạt của vua quan nhà Nguyễn những năm đ…
Posted on Oct 11, ’10 11:36 AM for everyone
« Vài hình ảnh sinh hoạt của vua quan nhà Nguyễn những năm đầu thế kỷ XX Rước kiệu vua. Các quan quỳ mừng thọ vua Khải Định. Kỳ Đài trong lễ mừng thọ vua Khải Định Cửa thành Ngọ Môn … »
Tìm dấu vết của Hà Nội xưa .bộ sưu tập của Nhà sử…
Posted on Oct 10, ’10 11:52 AM for everyone
« Tìm dấu vết của Hà Nội xưa 10/10/2010 20:07:32 – Những bức ảnh về các địa danh của Hà Nội trong bộ sưu tập của Nhà sử học Dương Trung Quốc. Tháp nước Hàng Đậu trong tương quan với … »
36 phố phường Hà Nội xưa .bộ sưu tập của Nhà sử h…
Posted on Oct 10, ’10 11:51 AM for everyone
« 36 phố phường Hà Nội xưa 10/10/2010 20:03:58 – 36 phố phường Hà Nội qua những tấm ảnh xưa có thể giúp chúng ta hiểu thêm về Hà Nội. Hãy cùng Bee.net.vn xem lại những bức ảnh về một.. »
Hình ảnh Hà Nội thời xa xưa và nay
Posted on Oct 3, ’10 8:21 AM for everyone
« Cột cờ Hà Nội xưa: ảnh chụp vào năm 1890 (theo nhật ký của ông Sadoul – tác giả bức ảnh). Trước cột cờ là hồ Voi, hồ này sau đó bị lấp vào khoảng năm 1897 Cột cờ Hà Nội hôm nay: cá.. »
Một số hình ảnh bầu cử tại Sài gòn trước 1975 & Sau …
Posted on Sep 29, ’10 1:33 AM for everyone
« Một số hình ảnh bầu cử tại Sài gòn trước 1975 & Sau Năm 1975 Cuộc bầu cử (tổng thống và bầu cử địa phương) đã được giám sát bởi các quan sát viên Liên Hợp Quốc kiểm soát. Bầu c… »
Chân dung người nữ Biệt Đội Trưởng Tình Báo Thiên Nga
Posted on Sep 27, ’10 12:33 PM for everyone
« Chân dung người nữ Biệt Đội Trưởng Tình Báo Thiên Nga NỮ THIẾU TÁ CSQG NGUYỄN-THANH-THỦY Lẫn trong đám đông ồn ào của ngày Hội Ngộ Tân Niên Mừng Xuân Giáp Thân 2004 của Hội Ái Hữu … »
Biệt đội tình báo Thiên Nga .
Posted on Sep 27, ’10 12:12 PM for everyone
« TỔ QUỐC DANH DỰ TRÁCH NHIỆM TỔ QUỐC lâm nguy nguyện dấn thân Phục hồi DANH DỰ trả toàn dân Mọi người TRÁCH NHIỆM chung vai gánh Dân Chủ, Tự Do quyết đoạt thành! BIỆT ĐỘI THIÊN NGA … »
Hậu Tuyên ngôn độc lập
15 OctKể từ khi bản Tuyên ngôn Độc lập được phát đi trên Quảng trường Ba Đình đến nay đã 66 năm, một khoảng thời gian bằng 3 thế hệ, đất nước Việt Nam đang ra sao? Người dân Việt Nam như thế nào? Đặc biệt lãnh thổ đất nước, sự độc lập của đất nước, dân tộc ra sao?
Tác giả Song Hà gửi đến bài viết “Hậu Tuyên ngôn Độc lập” dựa theo bản Tuyên Ngôn độc lập mà Hồ Chí Minh đã đọc tại Ba Đình ngày 2/9/1945. Với bản Tuyên Ngôn đó, chỉ cần thay tên và một vài sự kiện, thì nội dung vẫn không khác gì nhiều. Thế mới biết, 2/3 thế kỷ trôi qua, dân tộc này, đất nước này tiến được bước nào lên phía trước hay không.
Mời quý vị đọc bài viết như việc thư giãn sau một tuần làm việc căng thẳng.
(Họa theo Tuyên ngôn Độc lập)
Hỡi đồng bào cả nước,
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn độc lập của nhà nước Việt Nam năm 1945 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Công an CS đạp mặt người biểu tình yêu nướcThế mà hơn sáu mươi năm nay, Đảng Cộng sản lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, để cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.
Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập nhiều loại Thông báo, công an, dân phòng, cảnh sát cơ động khác nhau ở khắp nơi để ngăn cản việc thể hiện tình yêu nước của nhân dân ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay bắt bớ, đạp vào mặt những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc biểu tình của ta trong đàn áp đẫm máu.
Đàn áp, cướp đất của dânChúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng ma túy, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
Chúng cướp không ruộng đất, nhà cửa, mồ mả của nhân dân, của Tôn giáo nhằm bán cho bọn tư bản vơ vét đầy túi.
Chúng cướp hầm mỏ, tài nguyên khoáng sản, bán nguyên liệu thô cho Trung cộng, thậm chí còn rước voi vào giày mả tổ ở Tây Nguyên .
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà yêu nước của ta ngóc đầu lên.
Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Công hàm bán nước 1958Năm 1958, bọn Trung Cộng tuyên bố chủ quyền lãnh thổ trên vùng biển đảo Việt Nam, Việt Cộng đã xác nhận đồng ý với bản tuyên bố đó.
Mùa xuân năm 1974, bọn Trung Cộng đến xâm lược Hoàng Sa để mở thêm căn cứ đánh Việt Nam, thì bọn tay sai của chúng quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước chúng. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là từ nhiều năm qua đến năm nay, từ Nam Kỳ đến Bắc kỳ hàng trăm ngàn người bị bắt bớ, tù đầy và đánh chết.
Năm 1999 Việt Cộng âm thầm lén lút ký biên giới trên bộ với Trung Cộng, nhượng bán hàng ngàn cây số vuông đất liên biên cương lãnh thổ của đất nước ta.
Ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Cộng bắn chết 64 chiến sĩ của Việt Nam trên Quần Đảo Trường Sa của Việt Nam. Bọn tay sai Trung Cộng hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo vệ” được lãnh thổ đất nước ta, trái lại, trong 65 năm, chúng dã man bán nước ta bốn lần cho Trung Cộng.
Trước ngày mồng 5 tháng 6, biết bao lần nhân dân đã kêu gọi nhà nước có tiếng nói để chống Trung Cộng xâm lược. Nhưng nhà nước Cộng sản Việt Nam đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố nhân dân hơn nữa.
Thậm chí đến khi bị vạch mặt, chúng còn nhẫn tâm hèn hạ cướp nốt chiếc nón ghi Trường Sa – Hòa Sa là của Việt Nam của một biểu tình viên.
Tuy vậy, đối với Cộng sản Việt Nam, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biểu tình ngày mồng 5 tháng 6, người yêu nước đã giúp cho Việt Cộng có thế đứng để lên tiếng về chủ quyển biển đảo của Việt Nam, thế nhưng ngược lại, chúng đã chạy sang Trung Quốc hứa hẹn đàn áp những người yêu nước.
Sự thật là từ cuộc gặp ở Thành Đô 3-4/9/1990, nước ta đã thành thuộc địa của Trung Cộng, chứ không phải là quốc gia độc lập nữa. Khi Việt Cộng hàng Trung Cộng thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành quyền biểu tình bị Cộng sản Việt Nam cướp đoạt bấy lâu nay.
Sự thật là dân ta yêu nước chống Trung Cộng đã bị đàn áp từ tay Việt Cộng, theo lệnh quan thầy Trung Cộng.
Trung Cộng xâm lược, Việt Cộng đầu hàng, những người yêu nước bị đàn áp. Dân ta đã đứng dậy đòi các quyền lợi của mình và nói lên tiếng nói yêu nước và bị đàn áp khốc liệt.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, những người yêu nước, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ hết những hiệp ước mà CSVN đã ký với Trung Cộng về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của CSVN trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn CSVN.
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế quyết không thể không công nhận quyền làm người của nhân dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, đã chịu sự áp bức của Cộng sản Việt Nam là tay chân của Cộng sản Quốc tế hơn 65 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập !
Vì những lẽ trên, chúng tôi, những người yêu nước của nước Việt Nam, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và Đảng Cộng sản Việt Nam đã bán đứng quyền tự do, độc lập của nhân dân. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để đòi lại quyền tự do, độc lập ấy.


Song Hà
Tôi đi dự phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ – Kỳ 1,2,3,4,5,6
9 AoûtĐược sự đồng ý của tác giả J.B Nguyễn Hữu Vinh về các bài viết sau khi tác giả đã đăng tải trên blog. Chúng tôi đã đăng trọn 5 kỳ phóng sự của tác giả khi tham dự phiên tòa Phúc thẩm xét xử ông Cù Huy Hà Vũ, một nhân sĩ, trí thức yêu nước đã bị nhà nước CSCN kết án bằng một phiên tòa ô nhục như những phiên tòa của bóng tối và ma quỷ xét xử người công chính khác thời gian qua.
Trước những trận đòn vu vạ, bóp méo sự thật và xuyên tạc những người có nghĩa khí với đất nước, với dân tộc trong các vụ án tương tự, việc ông J.B Nguyễn Hữu Vinh bằng một sự tình cờ hiếm có, vào được trong phiên tòa để tường thuật lại chi tiết những gì đã xảy ra tại đó theo chúng tôi là như một sự quan phòng của Thiên Chúa đối với những người công chính.
Chúng tôi xin đăng kỳ cuối, của loạt bài phóng sự về phiên tòa này để bạn đọc theo dõi cách có hệ thống một phiên tòa rừng rú của CS trong thế kỷ 21 này.
Sau phần tranh tụng, bào chữa của các Ls, nhất là Ls Trần Đình Triển, không khí trong phòng xử án căng như dây đàn. Bởi chủ tọa phiên tòa, Viện Kiểm sát từ thế chủ động tố tụng kết án, chủ động điều khiển phiên tòa… đã bị các Ls đẩy vào trạng thái bị động bằng chính những luận cứ, chứng cớ và các điều luật cách rõ ràng. Ở đó họ chứng minh Chủ tọa phiên tòa đang vi phạm luật pháp, phiên tòa đang vi phạm các điều luật trong bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.Sự lúng túng thể hiện rõ nhất là khá nhiều lần, Chủ tọa phiên tòa cứ nhầm lẫn linh tinh như gọi Ls là bị cáo…
Dù phía dưới, thân nhân của bị cáo Cù Huy Hà Vũ là con số hết sức khiêm tốn, đa phần là “nhân dân” được chọn đi dự tòa và công an, nhưng cha ông ta đã nói là “nói phải thì củ cải cũng nghe” nhiều người ngán ngẩm lắc đầu mỗi khi Ls chỉ ra những điều sai phạm theo các điều luật.
Cù Huy Hà Vũ tự bào chữa
Sau khi các Ls xong phần tranh tụng của mình thì đến phần bị cáo Cù Huy Hà Vũ tự bào chữa. Ngay khi bắt đầu được nói, Cù Huy Hà Vũ (CHHV) đã yêu cầu:
CHHV: Đề nghị trả tôi văn bản tự bào chữa.
Chủ tọa: Đã có 4 luật sư rồi nên không cần cung cấp bản tự bào chữa nữa. (?)
Không biết bộ luật TTHS có ghi điều nào quy định là đã có luật sư thì bị cáo không cần văn bản tự bào chữa cho mình hay không, tôi chỉ biết mọi người nhìn nhau ngơ ngác khi Chủ tọa phiên tòa tuyên bố điều này.
CHHV: Tôi đã yêu cầu ngay từ đầu là đưa trả tôi văn bản tự bào chữa của tôi và các bộ luật, tài liệu để tôi nghiên cứu và tự bào chữa. Không đưa cho tôi văn bản và các bộ luật để tôi tự bào chữa tại phiên tòa, có vi phạm pháp luật không?
Chủ tọa: Tòa chỉ yêu cầu bị cáo bổ sung, vì đã có 4 Ls bào chữa rồi.
CHHV: Đây là vụ án hoàn toàn trái pháp luật, vì đã được khởi tố và thu thập chứng cứ trái pháp luật. Chứng cứ cho phiên tòa phải được thu thập đúng trình tự pháp luật mới có giá trị xét xử.
– Việc khống chế máy tính của tôi để lấy tài liệu rồi in ra là việc làm bất hợp pháp.
– Do việc bắt giữ đã dựa trên việc lấy chứng cứ bất hợp pháp nên đó là việc làm bất hợp pháp.
– Tôi thấy Tòa cũng mệt nên tôi thông cảm, nhưng tôi là người quan trọng nhất trong buổi tòa ngày hôm nay, tôi mà bị kết án, thì hội đồng xét xử cũng sẽ bị kết án như thế.
– Vì tôi không có hành vi tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN theo pháp luật quy định là nhà nước của dân, do dân và vì dân…
– Trong mọi bài viết, trả lời của tôi không có nội dung nào chống lại nhà nước của dân, do dân, vì dân như pháp luật quy định.
– Tòa và Viện Kiểm sát phải tìm ra được chỗ nào là chỗ chống nhà nước, nếu không thì không thể kết luận tôi có tội.
– Tôi khẳng định gia đình và tôi chiến đấu cho nhà nước Việt Nam từ bao đời nay.
– Tôi viết về Đảng, về cuộc chiến tranh thì không có nội dung nào chống lại nhà nước CHXHCNVN. Còn Chủ nghia xã hội, Chủ nghĩa Mác – Lenin không phải là nhà nước.
Chủ tọa: Thì các Ls đã nói rồi.
CHHV: Tôi là người đang dự bị đi tù nên tôi phải nói.
– Vấn đề đa đảng, đảng không phải là nhà nước.
– Chủ nghĩa Xã hội là phản quy luật xã hội.
Sau đó, Cù Huy Hà Vũ nói thêm một số vấn đề để tự bào chữa, dù ông không được có bản tự bào chữa mà ông viết sẵn, không có các bộ luật cần thiết để trích dẫn, dẫn chứng, không có giấy bút để chuẩn bị cho việc bào chữa của mình.
Nhưng việc tranh luận tự bào chữa của ông chứng tỏ trí nhớ siêu việt và chính xác của ông tại phiên tòa này.
Đến đây, Chủ tọa phiên tòa tuyên bố cắt đứt phần tranh tụng để chuyển sang phần đối đáp.
Đối đáp, VKS kết tội sai điều luật truy tố
Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu, phần này không hề được Tòa nhắc nhở “dừng lại”, “nói đúng nội dung”, hay “không nằm trong vụ án” như khi các Ls hoặc bị cáo phát biểu. Nội dung của VKS đưa ra là:
– Sau khi đã nghe các Ls và bị cáo tranh luận, VKS thấy cần tranh luận một số nội dung như sau:
– Tất cả các vấn đề VKS kết luận đầu phiên tòa sẽ không tranh luận lại.
– Việc bị cáo phạm tội tuyên truyền chống Nhà njuowsc theo bản án như thế nào?
– Theo đề nghị của Ls và bị cáo, rút một số bài viết khỏi các đầu tài liệu được dùng khởi tố. Viện Kiểm sát khẳng định các tài liệu mà bị cáo và Ls đề nghị rút thì thấy rằng như quan điểm của VKS thì các tài liệu đó đều mang nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Vì vậy 10 tài liệu dùng là có cơ sở.
– Bài “Hòa giải…” hồ sơ thể hiện và kiến nghị có nội dung khác, là 2 tài liệu khác nhau, nên yêu cầu của bị cáo rằng đây là bản kiến nghị là không chính xác…
– Về nội dung có phạm tội hay không, bị cáo và Ls đều cho rằng đó là việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, không chống nhà nước, đảng CS, không xuyên tạc chính sách… Nhưng trong thực tế, 10 bài viết và trả lời phỏng vấn đều có nội dung phỉ báng chính quyền nhân dân, đảng CSVN.
Theo từ điển Pháp luật, nhà nước chính là bộ máy của giai cấp công nhân và nhân dân lao động… Hiến pháp quy định quyền lực nhà nước là thống nhất, trong đó có việc phân công trong hành pháp và tư pháp, lập pháp.
Trong các bài viết của Cù Huy Hà Vũ đã có hành vi bội nhọ, phỉ báng cơ quan nhà nước rằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng là chế độ độc tài.
CHHV: Đúng là độc tài.
Viện kiểm sát: – Hành vi của bị cáo vi phạm công ước Quốc tế, điều 1: Mọi dân tộc có quyền tự quyết định… vi phạm Hiến pháp, điều 2, 12…
– Bị cáo phỉ báng thể chế chính trị này là chống nhà nước.
– Đây rõ ràng có hành vi xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân.
– Điều 2 Luật báo chí: Không ai được dùng tự do ngôn luận để xâm hại lơi ích… (Điều này chắc VTV chưa đọc nên mới có chương trình Nhận diện về phiên tòa này chăng?)
– Điều 19, khoản 2: Mọi người đều có quyền… Bị cáo thực hiện quyền của mình, nhưng quyền phải đi đôi với nghĩa vụ…
– Bị cáo đã phạm điều 2, điều 12 của Hiến pháp: Nghĩa vụ công dân…
– Kích động hằn thù Bắc – Nam
– Án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội.
– Về một số sai sót trong vụ án sơ thẩm xét thấy bản án sơ thẩm và Cáo trạng có 1 vài sai sót về chính tả, từ ngữ… nhưng về cơ bản không làm thay đổi nội dung bản án. Do đó, không có cơ sở để tuyên hủy bản án.
Khi VKS đọc các ý kiến của mình, khỏi phải nói đến sự ngạc nhiên của các luật sư cũng như những người dự tòa về việc VKS đã nói sai nội dung đang truy tố.
Ngay sau khi VKS dứt lời, thì Ls Trần Đình Triển đề nghị được phát biểu. Ông nói:
– Đề nghị Viện kiểm sát xem xét lại. Vụ án truy tố theo điểm C, khoản 1 điều 88 của Bộ Luật Hình sự là Chống nhà nước CHXHCNVN. Nhưng trình bày của VKS tại Tòa hôm nay, đã chuyển sang điều khoản khác của Bộ luật hình sự (xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân… ở khoản a của điều luật này). Việc sai này là điều không thể chấp nhận được tại phiên tòa. (cả phòng xử xôn xao, VKS lúng túng).
– Đề nghị VKS theo điều 64 là thu thập chứng cứ phải theo đúng trình tự pháp luật quy định. Việc sai sót trong quá trình thu thập chứng cứ thì sao?
– Đây rõ ràng là sự thiếu hiểu biết về pháp luật của công tố viên. Như vậy mà dám đi tranh tụng?
– Cù Huy Hà Vũ có quyền lưu trữ những vấn đề liên quan đến mình, đó là quyền dân sự. Chẳng hạn một người hàng xóm chửi mình, nói xấu mình mình có quyền lưu lại những thứ đó mà không có tội gì.
Chủ tọa: Ls không được dùng lời lẽ xúc phạm đến VKS.
Ls Trần Đình Triển: Tôi không xúc phạm, tôi đang nói đúng ý đảng và lòng dân. Một công tố viên mà trình độ pháp luật thế này thì không có án oan mới là chuyện lạ…
Chủ tọa: Yêu cầu không nói lại.
Ls: Chủ tọa có theo dõi phiên tòa không? Yêu cầu Chủ tọa phiên tòa phải làm đúng quy định của pháp luật. Tôi sẽ đọc điều 218 của bộ luật TTHS.
Chủ tọa: Đề nghị Ls không đọc điều luật.
Ls: Việc kiến nghị trả tự do cho tù nhân chính trị đây là vấn đề nhân đạo và là kiến nghị, nên không thể đưa ra kết tội.
– Văn bản nào của nhà nước đã quy định người dân được nói gì? và cái gì không được nói?
– Nói chống nhà nước? Chống như thế nào?
Ls Trần Đình Triển giải thích một số khái niệm về việc chống, về cấu thành tội phạm phải như thế nào…
Chủ tọa: Đề nghị Ls không giải thích.
Ls: Tại sao lại đưa ra kết tội Chống nhà nước, trong khi đang nói về một khái niệm về Luật học?
– Câu nói “kích động phần tử tội phạm và một nhóm của chế độ CH miền Nam trước đây…”. Đề nghị VKS đưa ra là nhóm người nào, ở đâu? Ở California hay ở đâu?… Cần phải chỉ rõ, chứ không thể nói chung chung để đưa ra kết tội.
– Viện kiểm sát cho rằng: Không thay đổi nội dung phiên tòa. Nhưng thực tế là có thay đổi. Chẳng hạn Cù Huy Hà Vũ không hề nói: “Đại hội 11 là Đại hội cuối cùng”, nhưng Cáo trạng lại có câu đó?
Đến đây, có lẽ sự ngạc nhiên đến sửng sốt của tất cả mọi người đã đến tột đỉnh khi những câu nói được bịa đặt đến cỡ này nhưng đã đưa vào cáo trạng để truy tố một con người mà VKS vẫn tỉnh bơ là “không làm thay đổi nội dung”…
Sự ngán ngẩm đến mức, một người ngồi bên tôi hỏi: “Anh có biết hai tay bên Viện Kiểm sát tên là gì không. Tôi cần phải ghi lại hai cái tên này?”
Sau Ls Trần Đình Triển là Ls Vương Thị Thanh, Ls Thanh có ý kiến như sau:
– Yêu cầu VKS giải thích cho từ “độc quyền” và “tiếp tục” có khác nhau không? Nếu nói hai từ này thay thế nhau là sai sót không ảnh hưởng nội dung, thì tôi không đồng tình, Viện Kiểm sát giải thích như thế nào?
– VKS cho rằng ông Vũ đã phỉ báng chính quyền nhân dân thì phỉ báng như thế nào? Ls Thanh nêu một số dẫn chứng và kết luận.
– Vậy tuyên truyền như thế nào và phỉ báng ở chỗ nào?
Tiếp theo Ls Vương Thị Thanh là Ls Trần Vũ Hải, ông đặt vấn đề:
– Đề nghị VKS đừng quên điều 69 Hiến pháp Việt Nam.
– Có luật nào ở VN nói về ngôn luận không?
– Có luật nào công dân không được đề xuất hủy bỏ Hiến pháp không?
– Tại sao các sai phạm của bản án sơ thẩm và cáo trạng giống hệt nhau? Điều này chứng tỏ HĐXX đã không độc lập.
– Vụ Trần Khải Thanh Thủy có đoạn đề nghị rằng: Đây là tin báo và yêu cầu VKSND Tối cao vào cuộc… Đã có ai giải quyết chưa? Chưa giải quyết thì tại sao lại kết luận là chống phá?
– Viện Kiểm sát có trách nhiệm công bố các tài liệu không?
Luật sư Trần Quốc Thuận thì phát biểu về việc ghép tội nhầm điều luật của Viện Kiểm sát:
– Viện kiểm sát dùng chữ “xuyên tạc, phỉ báng” là truy tố bị cáo theo điểm A, trong khi Tòa đang xử theo điểm C của điều 88 BLHS.
Luật sư Vương Thị Thanh ý kiến tiếp:
– Đề nghị VKS giải thích những sai sót trong cáo trạng?
Liên tiếp những vấn đề đặt ra, vấn đề nào cũng nghiêm trọng, nặng nề dồn vào Viện Kiểm sát với những sai sót không thể chấp nhận được và có nguy cơ làm vỡ những vấn đề VKS đã kết luận chắc như đinh đóng cột làm hai cán bộ VKS hết sức lúng túng.
Lúng túng đến độ cán bộ VKS gọi các Ls là “các bị cáo”, cả hội trường chăm chú nhìn vào hai cán bộ này xem họ tranh tụng lại như thế nào và hi vọng sẽ có những lập luận sắc bén của những người giữ vai trò công tố.
Nhưng, dường như sự trông đợi đó chỉ là sự mơ mộng hão huyền. Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu không tranh luận điều gì ngoài những một câu xanh rờn: “Những vấn đề tranh luận của Viện Kiểm sát đã khá đầy đủ”.
Chỉ có thế, còn đầy đủ ở đâu, khi nào thì… tự hiểu lấy.
Cả phòng xử ngạc nhiên nhìn cách tranh tụng của Viện Kiểm sát, người ngồi bên tôi, tóc cắt ngắn vuông vức vẫn chăm chú theo dõi phiên tòa nay ớ người quay lại: “Thôi được rồi, HĐXX sẽ phải hiểu rằng không thể chấp nhận được sự kết tội kiểu này đâu. Sinh ra HĐXX thì họ phải nghe và họ vừa bảo là HĐXX sẽ xem xét mà”.
Tôi mỉm cười, đây mới thật đúng là quần chúng tốt, anh ấy cố tình tin cho đến cùng điều anh ta nghĩ là đúng. Có lẽ chăm chú, nhưng anh ta không nhìn thấy cách điều hành và thái độ của Chủ tọa phiên tòa như thế nào từ sáng đến nay.
Và anh ta vẫn tin phiên tòa có một kết quả tốt đẹp dựa trên kết quả tranh tụng vừa qua.
Kết án, vọng lời của Cựu Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao: Xử kiểu gì cũng được
Cù Huy Hà Vũ tiếp tục ý kiến:
– Tôi đã không gây thiệt hại cho nhà nước CHXHCNVN, vì nếu có thì nhà nước đã thiệt hại như thế nào? Tôi đã đề nghị Chủ tịch nước tham dự phiên tòa với tư cách là người đại diện cho Nhà nước, nhưng đã không được trả lời. Vì thế không thể cấu thành tội phạm chống Nhà nước CHXHCNVN.
Rồi ông nói tiếp:
– Tôi không sợ bị ghép tội, tôi không sợ chết, nhưng cần phải tố tụng đúng để không có những người bị oan như tôi.Cho đến giờ, Viện Kiểm sát cũng không chứng minh được tôi có tội như thế nào.
Chủ tọa phiên tòa: Cho bị cáo nói lời sau cùng.
Cù Huy Hà Vũ: “Tôi, Cù Huy Hà Vũ, khẳng định trong những bài viết, trả lời của tôi đều nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm các thuộc tính: Pháp quyền, của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực Nhà nước là thống nhất “vì chỉ có một chủ nhân là nhân dân, thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp như Điều 2 Hiến pháp định nghĩa.
Tôi hoàn toàn vô tội.
Do đó, nếu Tòa án kết án tôi với lý do các bài viết, trả lời phỏng vấn của tôi có nội dung đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp quy định sự lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên đa Đảng, đòi từ bỏ chủ nghĩa xã hội gắn liền với chủ nghĩa Mác Lê Nin, về việc khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng… không gì khác hơn là sự trả thù, đàn áp của Ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước hết, đối với tôi.
Do đó, Ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước hết, phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính mạng của tôi trong thời gian tôi bị cầm tù và nếu tôi chết vì bất kỳ lý do nào trong thời gian bị cầm tù thì Ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước hết, phải bị nhân dân Việt Nam xét xử theo nguyên tắc “ Sát nhân giả tử – Giết người thì phải đền mạng”
Anh chỉ nói được đến đây, thì anh bị cảnh sát dẫn đi để tòa nghỉ nghị án. Khi đó là 17h50 phút.
Cả phòng xét xử tập trung ra ngoài, những câu chuyện khá râm ran tại mọi góc, mọi nơi, những ánh mắt nhìn nhau nhưng không dám nhìn thẳng, những chi tiết của phiên tòa được bàn tán.
Đứng với các Ls của Cù Huy Hà Vũ, tôi thấy chị Dương Hà rất bình tĩnh và kết quả phiên tòa hình như không làm họ quan tâm lắm. Tôi hỏi một Ls về chuyện bài viết của Cù Huy Hà Vũ khi chưa viết xong, được đưa ra kết tội thì có ý nghĩa gì? Ông nói:
– Việc đó là bậy bạ, làm gì có chuyện kết tội cái bào thai vì có thể sau này nó thành tướng cướp?
Tôi chợt nghĩ đến câu chuyện hồi xưa tôi được nghe thời bao cấp: Một đoàn cán bộ vào bắt và lập biên bản một bà già vì tội nấu rượu lậu, nguyên nhân là xét trong nhà bà có bộ nồi nấu rượu. Sau khi cán bộ lập biên bản tội nấu rượu lậu xong, thì bà già yêu cầu cán bộ và nhân dân lập thêm biên bản thứ hai về tội hiếp dâm. Cán bộ ngạc nhiên hỏi vì sao bà nói đến cái tội đó, ai hiếp dâm ở đây? Bà già thong thả trả lời: “Tôi chỉ có dụng cụ nấu rượu mà bị khép tội nấu rượu lậu. Vậy thì yêu cầu lập biên bản về tội cán bộ hiếp dâm tôi vì hiện nay, cán bộ đang mang dụng cụ hiếp dâm vào nhà tôi”.
Cuối cùng thì cán bộ phải hủy bỏ biên bản bà già nấu rượu lậu.
Có lẽ thời xưa, một bà già ít học và anh cán bộ dốt nát kia chỉ có những lý lẽ đơn giản vậy nhưng vẫn biết việc làm sai và phục thiện.
Vậy thì thời nay, các quan tòa, các công tố viên bằng cấp đầy mình, lý luận đầy mình mà chẳng lẽ không nhìn ra sự thật hay sao?
Nếu cứ kết tội kiểu này, thì điều chắc chắn là ai cũng có thể bị kết tội, ít nhất là tội ỉa bậy vì bất cứ lúc nào, tôi cũng sẵn sàng lôi được từ trong người anh ra một đống… phân người. Mà đã có phân, thì cũng có thể ỉa bậy chứ sao.
18h30 phút, Tòa tập trung tuyên án.
Trái với những chứng cứ hiển nhiên mà các Ls đã đưa ra, cụ thể và chi tiết theo các điều luật rõ ràng, Tòa vẫn kết luận:
– CQĐT không vi phạm thủ tục tố tụng hình sự.
– Tòa án Nhân dân Hà Nội không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.
– Các tài liệu không cần phải giám định.
– Tại tòa Cù Huy Hà Vũ đã thừa nhận có quan điểm trái với đường lối của Đảng và Nhà nước VN.
-…
– Giữ nguyên mức án sơ thẩm.
– Cù Huy Hà Vũ phải chịu án phí: 200.000 đồng.
Tôi giật mình nhớ câu nói của ông Trịnh Hồng Dương, cựu chánh án tòa tối cao trước Quốc Hội: “Ở nước ta xử đúng cũng được, xử sai cũng được, xử hòa cũng được, xử thắng cũng được”.
Cù Huy Hà Vũ giơ tay: Tổ quốc và Nhân dân phá án cho tôi, Người Việt Nam yêu nước Cù Huy Hà Vũ!
Cảnh sát ập tới lôi anh đi, cả phòng xử không ai bảo ai, lặng lẽ đi ra ngoài.
Chủ tọa, thẩm phán, đại diện Viện Kiểm sát… lục tục ra về. Tôi chợt nghĩ: họ đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng đêm nay và cả những đêm sau, họ có ngủ ngon hay không và có nhớ đến phiên tòa này?
Còn Cù Huy Hà Vũ, có thể anh sẽ đối mặt với những tháng năm tù tội kéo dài, vất vả gian nan. Nhưng tôi tin rằng anh đang rất thanh thản.
Tôi bước ra khỏi phiên tòa, khi lực lượng cảnh sát, dân phòng, xe cộ, công an chìm, nổi dày đặc khắp mọi ngả đường. Phía trong tòa, các lực lượng báo chí, bảo vệ, nhân viên rầm rập đi lại.
Tôi chợt nghĩ đến con số 200.000 đồng án phí. Hai trăm ngàn đồng của bị cáo Cù Huy Hà Vũ mà huy động được lực lượng, phương tiện khủng khiếp như thế này thì ai bảo là đồng tiền Việt Nam mất giá?
Hà Nội, ngày 9/8/2011
- J.B Nguyễn Hữu Vinh
Bản bào chữa của ls Trần Quốc Thuận mở đầu cho phần trang tụng khá dài và gay gắt, Chủ tọa phiên tòa đã cắt, bỏ và liên tục thúc giục, cảnh cáo Ls nên đã gây sự căng thẳng ngay từ đầu cuộc tranh tụng.
Sau khi Ls Trần Quốc Thuận ngồi xuống với đề nghị HĐXX ban hành một bản án đúng quy định pháp luật. Một đề nghị đơn giản nhưng là cả một ước mơ cho phiên tòa.
hần tranh tụng tiếp theo là của Ls Vương Thị Thanh, thuộc Đoàn Ls Hà Nội.
Rút kinh nghiệm phần tranh tụng của Ls Trần Quốc Thuận, ngay từ trước khi đọc bản bào chữa, Ls Vương Thị Thanh đã đề nghị mấy điểm như sau:
– Đề nghị Tòa tạo điều kiện để Ls trình bày đầy đủ bản bào chữa của mình.
– Trong đơn kháng cáo của ông Vũ ghi rõ: “Tôi kháng cáo toàn bộ bản án”.
Sở dĩ Ls Vương Thị Thanh nhắc lại điều này, là vì quá trình từ trước đến đó, Chủ tọa phiên tòa chỉ nhắm một số điểm để nhắc bị cáo và Ls rằng chỉ nói về những điểm kháng cáo còn những vấn đề khác chủ tọa không thích liền bị coi là không liên quan.
Chủ tọa phiên tòa lập tức yêu cầu Ls nói về những vấn đề chính, khi Ls trình bày lý do yêu cầu như trên, Chủ tọa phiên tòa yêu cầu: Nếu Ls không trình bày, thì Ls ngồi xuống.
Không tin được, dù đó là sự thật: Tòa vi phạm luật, kết tội không cần đưa bằng chứng
Ls Vương Thị Thanh bắt đầu bài bào chữa của mình.
Ls: Sau khi nghiên cứu tài liệu, Ls đưa ra quan điểm:
– Việc khám xét, bắt giữ ông Cù Huy Hà Vũ là một kịch bản đã được sắp xếp từ trước.
Chủ tọa: Những hành vi vi phạm hành chính đề nghị Ls không nói đến. (?)
Ngay lập tức, các luật sư đồng loạt đề nghị có ý kiến phản đối Chủ tọa. Một cuộc tranh cãi râm ran rằng nếu phiên tòa xét xử mà không được nói đến việc tố tụng sai pháp luật thì nên xử cái gì? Nhiều người ngồi bên dưới ngán ngẩm lắc đầu khi Chủ tọa điều hành phiên xử nhưng luôn trong tư thế cầm cái kéo đối với bị cáo và các Ls của bị cáo.
Điều này cũng khá dễ hiểu vì ngay sau khi Cù Huy Hà Vũ bị bắt, trong một thông tin thì Trung tướng Hoàng Công Tư đã khẳng định rằng việc bắt giữ tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ là đúng pháp luật, không có chuyện theo dõi trước mà chỉ tình cờ kiểm tra hành chính, thấy có dấu hiệu quan hệ nam nữ. Như vậy việc khẳng định của Ls rằng khám xét, bắt giữ Cù Huy Hà Vũ là một kịch bản đã được sắp xếp từ trước là một vấn đề để Chủ tọa phiên tòa phải đặt ra một cách nghiêm túc khi xét xử.
Thế nhưng dường như việc ngồi nghe các Ls tranh tụng, đưa ra các ý bảo vệ thân chủ của mình là điều Chủ tọa phiên tòa không mặn mà và nhiều ý kiến là không cần thiết.
Chủ tọa: Ls chỉ nêu ý chính thôi.
Ls tiếp tục phần bào chữa của mình:
– Các tài liệu của ông Vũ đã bị cắt xén, làm sai lệch để kết tội ông Vũ.
– Cáo trạng vụ án đã nêu không đúng sự thật.
– Đến nay, 10 tài liệu của Vũ vẫn không được đưa ra để chứng minh việc phạm tội hay không. Nhưng Viện Kiểm sát đã cắt xén, làm sai lệch hồ sơ vụ án, làm thay đổi nội dung các chứng cứ, thay đổi nội dung phần trả lời phỏng vấn của ông Vũ.
– Ls nêu một số nội dung bài trả lời phỏng vấn của Cù Huy Hà Vũ, bài viết… đã bị Viện kiểm sát cắt xén, sửa chữa, làm sai lệch bằng cách đọc trích dẫn cả hai bên, nguyên gốc và cáo trạng… Những điều Ls nêu ra làm cả phòng xử hết sức ngạc nhiên vì không ai nghĩ rằng lại có thể xảy ra những điều như vậy trong một vụ án quan trọng như thế này.
Những phản ứng thấy rõ trong những người được lựa chọn tham dự phiên tòa đã làm Chủ tọa phiên tòa có ý kiến.
Chủ tọa: Nội dung mà bị cáo nêu không liên quan đến nội dung phiên tòa.
Ở đây, có lẽ do lúng túng hoặc trạng thái tâm lý không ổn định hoặc đang suy nghĩ điều gì đó, nên Chủ tọa đã gọi nhầm Luật sư là bị cáo.
Ls Vương Thị Thanh tiếp tục nêu lên 12 điểm sai, sửa trong cáo trạng của VKSND làm sai lệch nội dung sự việc cũng như các chi tiết chứng minh việc vi phạm các thủ tục tố tụng hình sự ở phiên tòa sơ thẩm.
Chẳng hạn việc hỏi cung bị cáo có trước bản kết luận giám định là… 2 ngày.
Ls khẳng định: Ông Cù Huy Hà Vũ đã nói đúng các vấn đề về nhà nước và xã hội. Đồng thời, Ls đã nêu các dẫn chứng chứng minh điều ông Vũ đã nói. Dù ai có muốn bảo vệ Chủ nghĩa Mác – Lê Nin thì cũng không ai có thể giấu được các vấn đề thực tế đã xảy ra.
– Việc lấy các bài viết trong máy tính của ông Cù Huy Hà Vũ để làm căn cứ kết tội ông Cù Huy Hà Vũ là trái pháp luật hiện hành.
– Cù Huy Hà Vũ đã nói lên sự thật rằng chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là thối nát.
Chủ tọa: Những nội dung đó không liên quan đến vụ án (?)
Ls: Cù Huy Hà Vũ chỉ nói lên hiện trạng xã hội lấy đất của dân khắp nơi như trường hợp ở Sài Gòn, Cồn Dầu…
Đồng thời Ls đọc lại một số đoạn trong bài viết của Cù Huy Hà Vũ để chứng minh luận điểm của mình vừa nói.
Chủ tọa: Đề nghị Ls không đọc lại bài viết của bị cáo.
Ls: Tôi không đọc lại, tôi chỉ trích dẫn và phân tích các bài viết của Cù Huy Hà Vũ mà thôi.
Rồi Ls tiếp tục bài bào chữa với các nội dung:
– Ông Vũ đã thực hiện quyền công dân của mình.
– Tôi khẳng định ông Vũ đã viết đúng sự thật.
– Chúng tôi thấy những việc làm của ông Vũ là ích nước, lợi dân, không thể là có tội. Ông đã can đảm nói lên sự thật và nói lên những điều người khác đã không dám nói.
– Các lãnh đạo đã không tạo điều kiện cho công dân có thể tham gia điều hành đất nước.
– Nếu nói ông Vũ có tội, thì đó là tội yêu nước, thương dân và muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền.
– Đề nghị tuyên án: Cù Huy Hà Vũ không có tội và trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ.
Những điểm Ls nêu lên trước phiên tòa Cù Huy Hà Vũ làm nhấp nhổm nhiều người, làm xuýt xoa các “khán giả” đang ngồi xem phiên tòa dù các khán giả này đã được chọn lọc kỹ càng và luôn tỏ ra “kiên định ý thức” với bị cáo.
Luật sư Vương Thị Thanh kết thúc bản bào chữa của mình với nhiều đoạn bị cắt bớt, nhưng những điều đã trình bày nói lên một quan điểm rõ ràng: Cù Huy Hà Vũ không có tội và đề nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ. Đồng thời bản bào chữa cũng đã nêu lên nhiều khuất tất, nhiều vấn đề không hợp lý, việc vi phạm quy trình tố tụng của phiên tòa sơ thẩm.
Tiếp sau đó là phần bào chữa của Ls Trần Vũ Hải.
Cần nói rõ rằng, Ls Trần Vũ Hải đã từng bị chủ tọa phiên tòa sơ thẩm buộc ra khỏi tòa thì tưởng rằng tại phiên tòa này ông sẽ bớt gay gắt khi bảo vệ thân chủ của mình. Trái lại, ngay từ khi bắt đầu bản bào chữa, ông đã khẳng định: “Chúng tôi muốn làm rõ nhiều điều, để làm rõ sự thật của vụ án”.
Trước hết, Ls Trần Vũ Hải yêu cầu cung cấp chứng cứ vụ án. Chứng cứ vụ án ở đây bao gồm cả hai bao cao su đã qua sử dụng mà những ai theo dõi vụ án Cù Huy Hà Vũ ngay từ đầu đã biết, đã được báo chí nhà nước đồng thanh đăng tải, coi đó là nguyên nhân ông bị bắt. Vì như phát biểu của một quan chức ngành công an – ông Hoàng Công Tư sau khi bắt ông Vũ thì việc bắt giữ tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ là đúng pháp luật, không có chuyện theo dõi trước mà chỉ tình cờ kiểm tra hành chính, thấy có dấu hiệu quan hệ nam nữ. Chính vì việc “tình cờ” này mà dẫn đến việc bắt giữ, vậy đây là chứng cứ của vụ án.
Khi nói đến những vấn đề này, Ls gặp thái độ căng thẳng ngay từ đầu của Chủ tọa phiên tòa. Nhiều lần Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Ls chỉ nói vấn đề chính, nhưng Ls Hải đã vẫn tiếp tục nói về những vấn đề yêu cầu HĐXX phải thi hành, và đã bị Chủ tọa phiên tòa nhắc nhở.
Chủ tọa căng thẳng: Hội đồng xét xử sẽ yêu cầu cảnh sát đưa Ls ra ngoài tòa.
Ls: Tòa có cho trích dẫn Luật pháp hay không?
Chủ tọa: Không cho trích dẫn, yêu cầu đi vào nội dung.
Câu trả lời này làm nhiều người thắc mắc, tại Tòa mà không cho trích dẫn điều luật thì lấy gì làm căn cứ xét xử và bào chữa?
Ls: Chúng tôi muốn nói: Các cơ quan tố tụng đã vi phạm Luật Tố Tụng Hình sự.
Luật sư hỏi Viện Kiểm sát một số vấn đề trong cáo trạng, trong quá trình xét xử vụ án sơ thẩm, trong quy trình tố tụng mà theo ông thì đã bị vi phạm nghiêm trọng.
Những câu hỏi ông dành cho Viện Kiểm sát đã dồn mọi cặp mắt về hai vị đại diện VKS đang ngồi như phỗng ngay tại Tòa và vốn từ đầu đã bị các Ls, bị cáo tấn công dồn dập chỉ ra những sai phạm theo chiều hướng kết tội bị cáo khi làm sai lệch hồ sơ vụ án và quá trình theo dõi vụ án đã để ra nhiều sai phạm nghiêm trọng trong quá trình tố tụng.
Chủ tọa: Nếu Ls không đồng tình với Viện Kiểm sát, thì Ls trình bày, không có quyền hỏi Viện Kiểm sát.
Ls Trần Vũ Hải tiếp tục nêu quan điểm bào chữa của mình:
– Kiến nghị, không thể là chống lại nhà nước.
– Nếu có những sai phạm mà được chỉ ra, thì có chấp nhận được không?
– Bài viết đang để trong USB chưa đưa vào sử dụng thì không thể gọi là tuyên truyền, mà ở đây chính cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát mới là nơi tuyên truyền các tài liệu này. Vì khi đưa ra để truy tố, chính họ đã tạo điều kiện để người khác biết đến tài liệu này.
– Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ hồ sơ và thấy rằng không có tài liệu nào có hành vi chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Ls công bố một số điều luật liên quan đến vấn đề mà mình đang bảo vệ thân chủ, làm căn cứ biện hộ trong vụ án.
Chủ tọa: Yêu cầu Luật sư không công bố điều luật và giải thích điều luật tại phiên tòa.
Ls: Yêu cầu Viện Kiểm sát cho biết: Tội chống nhà nước là chống như thế nào? Điều 88 quy định về tội chống nhà nước, quy định những điểm như thế nào là chống nhà nước?
Các kiến nghị, các bài viết của Cù Huy Hà Vũ liên quan đến đảng như bàn về Đảng cầm quyền, thì bên đảng có đầy đủ các bộ phận, ban ngành, nhưng chưa có bất cứ ai bác bỏ được quan điểm của Cù Huy Hà Vũ đưa ra.
Bản án sơ thẩm đã chứng tỏ Tòa sơ thẩm không độc lập trong xét xử, không đọc các tài liệu mà chỉ làm theo Viện Kiểm sát.
Phần tranh tụng của Ls Trần Vũ Hải mạnh mẽ và khá dài, nhiều khi gây nóng cả không khí trong phiên tòa dù ông ở vào thế luôn bị cắt ngang và nhiều lần bị Chủ tọa phiên tòa cảnh cáo, dọa đưa ra khỏi phòng xử án.
Có những lúc, lực lượng cảnh sát đã như được khởi động, sẵn sàng làm lại cú đúp việc đưa ông ra khỏi tòa. Nhưng ông đã không sợ hãi và vẫn mạnh mẽ bảo vệ thân chủ theo quan điểm của ông.
Quan điểm của Luật sư: Tòa Phúc thẩm cần tuyên hủy bản án, tuyên Cù Huy Hà Vũ là vô tội.
Với ba Ls đã đọc bản bào chữa, không khí căng thẳng trong phiên tòa có nhiều lúc đến tột độ qua cách điều hành của Chủ tọa phiên tòa, ông Chủ tọa luôn đặt mình vào tình thế căng thẳng và cảnh giác. Cảnh giác khi các Ls động đến các điều luật mà Phiên tòa sơ thẩm đã vi phạm cũng như những bài viết của Cù Huy Hà Vũ đã động thẳng đến những vấn đề nhạy cảm nhất như hủy bỏ điều 4 Hiến pháp, bài viết bàn về đảng cầm quyền, bài “Tam quyền nhất lập đồng lòng hại dân” mà các Ls đã lấy nhiều ví dụ để chứng minh sự đúng đắn, việc kiến nghị với QH bị đem ra làm căn cứ kết tội là trái pháp luật…
Đồng thời với việc chứng minh những vấn đề đã đề cập nói trên, họ đồng thanh nói rõ: Cù Huy Hà Vũ vô tội theo đúng luật pháp Việt Nam. Điều này quả là “không thể chấp nhận được” ở những phiên tòa kiểu này.
Có lẽ vì vậy mà phiên tòa công khai này được tiến hành theo phương thức chúng ta đã biết chăng?
Những phán đoán của ông Vũ sẽ được thực hiện trên thực tế?
Sau phần bào chữa, tranh tụng của Ls Trần Vũ Hải là phần bào chữa của Ls Trần Đình Triển.
Ông đứng dậy phát biểu rằng: “Mặc dù các Ls chưa được bày tỏ quan điểm hết, nhưng tôi hoàn toàn nhất trí với các Ls. Chúng tôi đã cố gắng bình tĩnh nhưng nhiều khi đã không chịu nổi nữa”.
Ls Trần Đình Triển nói đại ý rằng: Chúng tôi muốn tìm ra sự thật, muốn tìm hiểu một cách khách quan sự thật như thế nào và tại phiên tòa là nơi để tìm ra sự thật đó.
Ls: Ông Cù Huy Hà Vũ đã kháng cáo toàn bộ bản án.
Chủ tọa: Yêu cầu Ls không nói về vấn đề vi phạm hành chính.
Sau quá trình theo dõi phiên tòa này từ đầu, tôi mới hiểu rằng ông Chủ tọa kỵ nhất và hay yêu cầu “không nói về vấn đề vi phạm hành chính” tức là không được nói về việc bắt giữ với “hai bao bao su đã qua sử dụng” – điều mà Cù Huy Hà Vũ coi là vết nhơ lần đầu tiên có trong lịch sử hình sự thể giới.
Ls: Điều Chủ tọa vừa nói, chứng tỏ Tòa đã không đọc hồ sơ bản án.
Điều ông nói làm cả phòng xử án ngạc nhiên, khi ông giơ cao bản án và đọc rõ ràng: “Vào hồi 0 giờ 5 phút, tại khách sạn Mạch Lâm…”, như vậy những điều chúng tôi đang nói đến không phải không nằm trong vụ án kháng cáo hôm nay.
Chủ tọa đe dọa: Chúng tôi sẽ xử lý.
Ls: Xử lý như thế nào? Ông định đuổi tôi ra khỏi đây cho xong chứ gì? Ông đừng dọa tôi, kể cả chết.
Sau đó, Ls tiếp tục:
Ls: Phiên tòa này đã vi phạm Luật Tố tụng hình sự khi không cấp giấy chứng nhận bào chữa cho Ls Nguyễn Thị Dương Hà. Lý do được ông giải thích rõ ràng theo điều luật không được tiết lộ bí mật điều tra trong quá trình điều tra. Nhưng ở phiên tòa sơ thẩm, ông và Ls Nguyễn Thị Dương Hà chỉ được cấp giấy chứng nhận sau khi đã kết thúc quá trình điều tra chuyển sang Viện Kiểm sát. Như vậy không thể nói là tiết lộ bí mật điều tra và như vậy, việc thu hồi, không cấp giấy phép bào chữa cho Ls Nguyễn Thị Dương Hà sau khi kết thúc điều tra và tại phiên tòa là trái với pháp luật quy định và vi phạm Luật Tố tụng hình sự.
– Chủ tọa phiên tòa đã đọc sai điều luật ngay tại phiên tòa này.
– Chủ tọa phiên tòa đang vi phạm pháp luật tại phiên tòa này.
– Đến nay, việc khám xét nhà của ông Cù Huy Hà Vũ tại 24 Điện Biên phủ – Hà Nội vẫn chưa được Viện Kiểm sát nhân dân phê chuẩn. (Cả phòng xử án ồ lên ngạc nhiên).
– Hội đồng sơ thẩm đã vi phạm pháp luật Tố tụng hình sự khi đã không có một phiên tòa độc lập, khách quan theo yêu cầu luật pháp.
Ông chứng minh bằng việc đưa ra bản Cáo trạng và bản án sơ thẩm, những chỗ sai hoàn tòa giống hệt nhau. Chứng tỏ rằng Tòa chỉ viết lại theo những gì VKS đã viết mới có tình trạng đó.
– Cách lập luận về việc thu hồi giấy bào chữa của Ls Nguyễn Thị Dương Hà là trái pháp luật.
– Theo luật pháp Việt Nam và Quốc tế thì cơ quan báo chí là nơi chịu trách nhiệm về việc đưa các thông tin của mình, tại sao không nói đến các cơ quan báo chí đã đăng tải các bài viết của Cù Huy Hà Vũ?
– Để đánh giá các bài viết, thì bài viết phải đầy đủ. Việc cắt xén sẽ không phản ánh được nội dung của bài viết đó.
Ông lấy một số ví dụ về ngôn ngữ khi bị cắt xén sẽ làm sai lạc nội dung để chứng minh điều ông vừa nói.
– Tóm lại: Ls bác bỏ toàn bộ hồ sơ vụ án này vì vi phạm pháp luật với những lý do sau đây:
– Bản Cáo trạng không nêu được là Cù Huy Hà Vũ đã nói đúng hay nói sai.
– Bài viết của Cù Huy Hà Vũ là ý kiến, là sáng kiến.
– Cáo trạng chưa phân tích được cái gì đúng, cái gì sai của ông Vũ.
– Ai cấm các đề xuất, đề nghị? Nếu xã hội không được đề nghị thì sẽ ra sao?
– Cáo trạng đã nhầm lẫn giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận.
– Công ước Quốc tế về quyền con người phải được tôn trọng.
– Cù Huy Hà Vũ đã nói về Biển Đông cách đây 4 năm, hiện đang diễn ra đúng như ông đã nói.
– Những phán đoán của ông Cù Huy Hà Vũ, tôi tin rằng sẽ được thực hiện trên thực tế.
– Đây là sự oan sai và đi ngược lại lợi ích của dân tộc và Nhân dân Việt Nam.
Trong quá trình bào chữa, biện luận của Ls Trần Đình Triển, mỗi lần ông đưa ra một luận cứ hoặc một chứng cứ, trong phòng xét xử càng căng lên để theo dõi. Người ngồi gần cạnh tôi luôn lắc đầu khi Ls đưa ra những tình tiết chứng minh việc vi phạm pháp luật tố tụng, miệng lẩm bẩm: “Thế này thì kết tội sao được”. Sau đó anh ta trấn an tôi: “Bình tĩnh, Tòa sẽ buộc phải ghi nhận và nghiên cứu kỹ những vi phạm này”.
Còn tôi, vốn bình tĩnh hơn khi biết rằng những lập luận, bào chữa của các Ls là chắc chắn, có cơ sở vững chắc trên cơ sở luật pháp Việt Nam. Nhưng tôi không hi vọng nhiều như anh cán bộ ngồi bên tôi.
Vì cuối cùng thi HĐXX mới là người có quyền quyết định vấn đề, việc tranh tụng, bào chữa có ý nghĩa gì hay không, chưa hẳn đã phụ thuộc vào nội dung như vừa diễn ra.
Hà Nội, ngày 8/8/2011
- J.B Nguyễn Hữu Vinh
Nguồn: Blog J.B Nguyễn Hữu Vinh
Sau 3 kỳ viết về việc dự phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ tại Hà Nội ngày 2/8/2011 tôi chỉ mới nói được những điều mình thấy mình nghe tại phiên tòa ở phần đầu, sau đó một số việc bận rộn nên viết hơi muộn kỳ này. Xin mọi người thông cảm, nhất là những người sốt ruột, cũng như rất nhiều người đã gọi điện, gửi thư… thúc giục muốn biết được chi tiết trong phiên tòa Công khai này đã xảy ra những điều gì.
Ôi, Việt Nam xứ sở lạ lùng
Hôm qua, khi đang định ngồi viết tiếp những phần cuối, thì một người bạn gửi cho đoạn video của VTV là đoạn “phóng sự” về phiên tòa Cù Huy Hà Vũ vừa qua (Tôi không có thói quen xem VTV từ mấy năm nay). Xem đọan video đó, tôi thấy cũng bình thường dù nhiều người hết sức bức xúc.
Ở đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa tươi đẹp của chúng ta, biết đến bao nhiêu việc lạ lùng hàng ngày hàng giờ vẫn xảy ra đấy thôi. Chỉ riêng việc người dân quan tâm nhưng mù tịt những điều gì đã xảy ra trong phiên tòa công khai, cũng đã nói lên sự kỳ lạ của luật pháp và xã hội Việt Nam.
Việc VTV làm phóng sự, đưa những điều bịa đặt là chuyện cũng không lạ gì dù đó là một Đài Truyền hình Quốc gia. Nhớ lại các vụ Khâm sứ, Thái Hà, VTV là kẻ xung kích đi đầu trong việc cắt xén, bóp méo những sự kiện ở đó. Tôi còn nhớ rõ VTV đã đưa một văn bản của nhà nước giao đất trái phép của Giáo xứ Thái Hà, quay lại đưa lên TV để gán cho rằng linh mục Bích (đã chết) trước đã giao đất đó cho nhà nước hoặc chuyện hóa trang giáo gian, thành giáo dân để ca ngợi việc cướp đất nhà thờ biến thành vườn hoa. Hoặc ngay cả việc cắt xén lời TGM Giuse Ngô Quang Kiệt để đánh đòn hội đồng một cách đê tiện, nhục nhã mà trước đó chưa đầy 24 tiếng đồng hồ, Thông tấn xã Việt Nam còn đưa tin ca ngợi buổi gặp gỡ của ngài với UBND TP Hà Nội.
Điều người ta kiêng kỵ nhất là đụng chạm đến người chết, nhưng ở đây vu cáo cho người chết những chuyện bịa đặt mất nhân tâm mà họ chẳng từ, thì chuyện một người vô danh tiểu tốt nào đó có bịa ra lời ông Cù Huy Cận cũng chẳng có gì là lạ.
Những điều đó không lạ, thì chuyện hôm nay VTV có đưa thêm gì nữa, cũng bình thường. Ở xứ ta, cái không bình thường đã trở thành bình thường là vậy.
Riêng tôi, tôi chỉ nghĩ rằng nếu con người còn chút lương tâm tối thiểu, liệu họ có khi nào nghĩ rằng những việc họ đang làm sẽ được nhận những hậu quả khủng khiếp của quy luật “Nhân – Quả” hay không? Có khi nào họ nghĩ rằng con cái họ sẽ lãnh nhận được những “kết quả tốt đẹp” của những công việc họ làm hôm nay?
Trong suốt phiên tòa phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ, điều mà HĐXX cảm thấy là “tội” lớn nhất, đó là bài viết yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến pháp quy định sự lãnh đạo độc quyền của ĐCSVN mà theo Cù Huy Hà Vũ thì điều đó không chính danh, không đúng vì Hiến pháp cũng đã quy định là chỉ có Quốc hội mới là cơ quan quyền lực cao nhất.
Một bài viết khác cũng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong phiên tòa nhưng không được đọc toàn văn và bị cáo cũng không có tài liệu trong tay mà chỉ được nghe Cáo trạng, được nghe VKS hoặc Tòa nhắc cho mà thôi là bài “Tam quyền nhất lập, đồng lòng hại dân”.
Mà Cáo trạng với bản án thì đã bị các luật sư vạch rõ là phát hiện có ít nhất 12 điểm bị cắt xén, thêm bớt, sửa nội dung nhằm ghép tội CHHV.
Viết đến đây, tôi chợt nhớ câu thơ của ai đó: “Ôi Việt Nam, xứ sở lạ lùng”.
Trái với các thông tin về vụ xử án này là không có báo chí, phóng viên báo nào được chụp hình đưa tin trong phòng xử. Tôi thấy ngược lại, trong phòng xử án đầy các loại máy quay phim, chụp hình… chĩa vào từng người dự tòa. Đặc biệt có nhiều người mang thẻ ghi rõ Phóng viên hẳn hoi.
Như vậy, việc không có nhiều tấm hình của phiên tòa được đưa lên báo chí, chỉ có thể là vì không có những tấm hình họ ưng ý muốn đưa mà thôi. Trong cả quá trình xử án, Cù Huy Hà Vũ không một lần tỏ ra lúng túng, sợ hãi hoặc mất tư thế, ngược lại anh luôn bình thản, nhẹ nhàng dù tay được tháo còng hay vẫn bị còng.
Phải chăng, tư thế này của bị cáo đã làm nhiều người lúng túng và sợ hãi?
Phần tranh luận tại phiên tòa
1h43 phút, Cù Huy Hà Vũ được dẫn giải vào tòa.
Theo tiến trình của vụ xử, bây giờ là đến phần tranh tụng.
Chủ tọa phiên tòa nói rằng: Theo luật, phần tranh tụng sẽ không hạn chế thời gian tranh tụng của các Ls, tuy nhiên đề nghị các Ls không trình bày lại những điều mà Ls trước đã nói. Đề nghị các Ls không trình bày về thủ tục tranh tụng.
Một người ngồi bên tôi nói nhỏ: Mỗi luật sư có một cách tranh tụng khác nhau, tất cả vụ án chỉ có mấy vấn đề mà thôi vậy không nhắc lại các vấn đề mà Ls trước đã nói, thì tranh tụng cái gì nhỉ?
Cù Huy Hà Vũ: Tôi có một yêu cầu, chỉ có một câu thôi. Ngay lập tức chủ tọa hô: “Ngồi xuống”.
Khi đó, chiếc Micro nơi Cù Huy Hà Vũ không làm việc, anh yêu cầu HĐXX điều chỉnh để anh có Micro sẵn khi cần sử dụng.
Chủ tọa: Khi nào đến phần bị cáo trình bày thì sẽ có micro.
Mở đầu phần tranh tụng, Ls Trần Quốc Thuận đề nghị Chủ tọa không cắt ngang bài bào chữa của ông.
Chủ tọa: Nếu Ls trình bày ngoài vấn đề thì Tòa sẽ cắt.
Luật sư Trần Quốc Thuận có bẩn bào chữa dài hơn vài chục trang, ông đọc rõ ràng mạch lạc những vấn đề của vụ án cách chi tiết và cụ thể với các nội dung như sau:
– Kiến nghị gửi HĐXX các tài liệu để HĐXX biết.
– Hiện tại ngành từ pháp đang cải cách hành chính, vì vậy phiên tòa này sẽ là biểu hiện của việc có cải cách hành chính không, ở mức độ nào…
– Gửi đến Tòa danh sách các cá nhân ký tên đòi trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ.
– Gửi bản photocopy các văn bản mà cơ quan điều tra đã dùng kết tội ông Cù Huy Hà Vũ khi thu được từ nhà ông là 24 Điện Biên Phủ.
– Văn bản nêu 12 điểm mà cáo trạng đã thêm bớt, sửa đổi sai với hồ sơ vụ án.
– Bản Kiến nghị xây dựng đất nước…
Phần tranh tụng, Ls Trần Quốc Thuận phát biểu một số nội dung như sau:
– Bản án sơ thẩm đã vi phạm Luật Tố tụng hình sự.
– Cơ quan điều tra tố tụng đã có nhiều dấu hiệu vi phạm Bộ luật TTHS của nước CHXHCNVN.
– Việc Tòa không mời các nhân chứng theo các điều luật như điều 54… là Đài VOA, RFA, Trâm Oanh, ông Nguyễn Minh Triết…. là sai pháp luật.
– Việc không công bố toàn văn 10 tài liệu dùng để kết tội thân chủ mà chỉ cắt xén theo ý của tòa và cơ quan điều tra là điều không thể chấp nhận được theo luật pháp hiện hành. Tòa đã tự cho mình quyền không công bố tài liệu.
– Cáo trạng đã sửa chữa, thêm bớt… mặc dù đã có ý kiến vẫn không được trả lời.
– Các bài viết trên mạng của ông Cù Huy Hà Vũ đã từ lâu, nhưng đã không được ai nhắc nhở.
– Các nhận định của Tòa án Nhân dân TPHN không khách quan. Nội dung nhận định không có điểm nào khác với cáo trạng (Kể cả các chỗ sai). Chứng tỏ Tòa chỉ nói theo, vi phạm về sự độc lập trong xét xử của Tòa án.
– Việc không công bố toàn văn các bài viết để xem xét, phân tích nguyên nhân và hành vi có phạm tội hay không mà chỉ trích dẫn nhằm kết tội là trái quy định của một phiên tòa.
– Hai bài viết về Đường sắt cao tốc và về Đảng cầm quyền ông Vũ viết chưa xong cũng được đưa ra luận tội. Không ai đi làm cái việc truy tố cái bào thai.
– Những bài trả lời phỏng vấn theo điểm C điều 88 Bộ luật Hình sự: Không có dầu hiệu nào của ông Vũ có mục đích, động cơ, hành vi, ý chí nhằm chống nhà nước CHXHCNVN. Đây là dấu hiệu bắt buộc phải có khi truy tố.
Trong khi ông Vũ không công nhận việc chống lại đảng, nhà nước và luôn luôn tự hào với truyền thống gia đình mình.
-Câu nói: “Chỉ có những ai mang hận thù với dân tộc mới có những hành vi….” không rõ tòa đã nói đến ai?
– VOA, RFA là đài từ Hoa Kỳ, mà VN hiện đang đám phán để liên kết chiến lược.
– Không thể coi bài viết “Bom hạt nhân nổ giữa Ba Đình của Đặng Thanh Ty là tàng trữ.
– Nếu nói rằng làm ra các bài phỏng vấn, thì phải là các đài FRA, VOA… chứ không phải là Cù Huy Hà Vũ. Tại sao Tòa không có một câu nào nói đến các đài như RFA, VOA…
– Bổ đẻ của ông Cù Huy Hà Vũ là Cù Huy Cận, Huân chương Sao vàng, gia đình có truyền thống…
Chủ tọa: Yêu cầu Luật sư không nói về những vấn đề liên quan đến vụ án.
Luật sư tiếp tục nói đến nhân thân Cù Huy Hà Vũ.
Chủ tọa nhắc tiếp: Đề nghị Ls không nói lại.
Ls tiếp tục phần trình bày về gia đình.
Chủ tọa: Đề nghị Ls không nói về gia đình.
Dường như, trong phiên tòa này, mỗi khi nhắc đến nhân thân và truyền thống gia đình Cù Huy Hà Vũ là một điều gây sự khó chịu cho HĐXX thì phải, họ chặn ngay bằng câu: “không nói lại, không liên quan đến vụ án”… và những câu tương tự để ngăn chặn mọi người tại phiên tòa được nghe. Điều này làm tôi khác ngạc nhiên lúc đầu, có phải truyền thống gia đình của Cù Huy Hà Vũ khi được nói lên, hẳn đã làm ngạc nhiên và giật mình nhiều người đang nắm giữ cán cân quyền lực khiến họ cảm thấy xấu hổ khi đưa xét xử một người con trong một gia đình có công khai quốc như ông Cù Huy Cận? Hay là chính ngay yếu tố đó đã bác bỏ lời buộc tội Cù Huy Hà Vũ đã chống nhà nước CHXHCNVN vì không đưa ra được lý do nào khả dĩ?
Thế nhưng, nhân thân Cù Huy Hà Vũ theo nhóm phóng viên VTV sau đó thì được chiếu cho cả nước, cả thế giới biết? Những chuyện đời tư, có hoặc không, bịa đặt hoặc có thật… được VTV đưa lên màn hình rất có chủ ý và ác ý.
Luật sư: Khi nói đến bố mẹ, vợ con mà không cho nói thì chắc phải nói về gia tộc Cù Huy Hà Vũ…
Nhưng, mỗi khi nói đến vấn đề đó, thì Chủ tọa lại yêu cầu “không nói đến những điều không liên quan vụ án” và cảnh cáo luật sư để ngăn chặn.
Luật sư Trần Quốc Thuận tiếp tục bài bào chữa với các nội dung như sau:
– Cách nói của Vũ làm người khác khó chịu, đó là do tính chất vùng miền, chứ không phải là sự vi phạm pháp luật.
– Điều 69 Hiến pháp quy định: Công dân có quyền tự do ngôn luận… Nhưng đến nay, 19 năm sau vẫn không có Luật như Luật Lập hội, biểu tình…
– Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1960 mà VN là thành viên đã thừa nhận các điều khoản về quyền tự do ngôn luận của mỗi cá nhân. Cù Huy Hà Vũ khi trả lời phỏng vấn báo chí, chính là thực hiện các quyền nêu trên được phá luật bảo vệ.
– Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, tôi cũng đồng tình rằng Cù Huy Hà Vũ đã không vi phạm như bản án đã tuyên.
– Nếu coi Vũ là người xuyên tạc qua những bài viết của mình khi đề cập các vấn đề xã hội VN hôm nay, thì bộ phim chiếu trên VTV mới đây còn nêu rõ hơn rất nhiều… Tuy rằng phim là hư cấu, thế nhưng khi VTV1 phỏng vấn, nhiều người đã khẳng định những tệ nạn như trong phim nêu là có thật.
Chủ tọa: Yêu cầu Ls không phát biểu những vấn đề không liên quan.
Ls Trần Quốc Thuận đã phải cắt đi rất nhiều trong bài bào chữa của mình. Đến mức ông phải nói rằng: “nếu tại Tòa mà Chủ tọa không cho tôi nói, e rằng tôi phải phát biểu ở nơi khác mà quyền tự do của tôi không bị hạn chế”.
Ls: Kết luận, Cù Huy Hà Vũ không có tội, yêu cầu tòa trả tự do ngay tại tòa cho Cù Huy Hà Vũ.
Câu cuối cùng của bản bào chữa này, Ls Trần Quốc Thuận đề nghị: “Tôi đề nghị HĐXX ban hành một bản án đúng quy định của pháp luật”.
Trong quá trình các Luật sư, Đại diện VKS thẩm vấn hoặc các Ls bào chữa cho mình, Cù Huy Hà Vũ luôn quay lại phía người đang nói. Điều này được Tòa nhắc nhở rằng bị cáo phải quay lên phía trên nơi Chủ tọa. Nhưng Cù Huy hà Vũ đã phản ứng rằng: Khi người ta thẩm vấn hoặc nói với tôi, tôi quay về phía họ để nghe chăm chú, rõ ràng hơn, đó là phép lịch sự tối thiểu. Vì thế ông vẫn tiếp tục quay lại phía Luật sư và sau đó Tòa đã không nhắc về chuyện đó nữa.
Ls Trần Quốc Thuận dứt lời, Cù Huy Hà Vũ “Cảm ơn Luật sư”.
(Còn tiếp) Ngày 7/8/2011 J.B Nguyễn Hữu Vinh
Hết phần xét hỏi của Chủ tọa phiên tòa và Viện Kiểm sát, Cù Huy Hà Vũ đã cố gắng trả lời đầy đủ, chi tiết, đặc biệt ông lưu ý và hết sức bất bình khi cho rằng cơ quan điều tra Bộ Công an đã dùng hai bao cao su đã qua sử dụng ném vào phòng ở của ông để làm nguyên cớ bắt ông. Thế nhưng, mỗi lần ông nói về nguyên nhân dẫn đến việc bắt giam ông để khởi tố vụ án, đều bị Chủ tọa phiên tòa cắt ngang bằng câu “bị cáo dừng lại, không nói về việc hành vi hành chính”.
Ngay cả người ngồi xem thuộc dạng được chọn lọc kỹ càng, cũng thầm thì với nhau: Tại sao không nhắc, không có hai bao cao su đó làm sao anh ta bị bắt?
Còn Cù Huy Hà Vũ, ông coi đó là một nỗi nhục của ngành tư pháp Việt Nam và chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử hình sự thế giới.
Sau đó đến phần xét hỏi của các Luật sư (Ls). Các Ls hỏi rất từ tốn nhưng xoáy sâu vào các chi tiết, các điều luật cũng như hành vi của Cù Huy Hà Vũ. Tuy nhiên, Chủ tọa phiên tòa luôn thường trực câu nói cửa miệng là “Yêu cầu các Ls không nhắc lại những việc mà Ls trước đã nói, đã hỏi”.
Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội là người thẩm vấn đầu tiên:
Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị HĐXX cho tôi uống nước.
Ls: Từ khi bị cáo viết bài đăng từ năm 2009 đến năm 2010, có cơ quan chức năng nào hỏi bị cáo không?
Cù Huy Hà Vũ: Không có một cơ quan chức năng nào của nhà nước hỏi tôi. Hoàn toàn không, kể cả các kiến nghị gửi Quốc hội cũng không có ai hỏi đến.
Thậm chí, ngay trên các báo chí Việt Nam cũng không có bài nào viết bình luận.
Ls: Các nội dung bị cáo trả lời trước đây có ai nói đến chưa?
Cù Huy Hà Vũ: Tôi nghĩ rằng có nhiều vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã nói đến. Như đa đảng thì ông Trần Xuân Bách đã nói, còn vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc thì nếu tôi nhớ không nhầm thì Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói. Ngày 30/4 có một triệu người vui thì một triệu người buồn. Nếu không nói đến điều đó thì làm gì có buồn trong ngày chiến thắng? Nhưng ông đã nói như thế. Vậy mà ông Trần Xuân Bách đâu có bị đi tù hoặc xử án? Ông Võ Văn Kiệt cũng vậy.
Ls: Trong các bài viết, có nội dung nào chống nhà nước CHXHCNVN không?
Cù Huy Hà Vũ: Trong các bài viết trên, không có nội dung nào chống nhà nước CHXHCNVN theo định nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân…
Tôi chưa bao giờ có nội dung nào chống lại nhà nước CHXHCNVN theo Hiến pháp và Pháp luật quy định.
Ls: Động cơ và mục đích nào để bị cáo viết các bài viết, trả lời phỏng vấn…?
Cù Huy Hà Vũ: Động cơ, mục đích của tôi là thấy sai thì tôi nói thẳng, là để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, Nhân dân Việt Nam, ngoài ra không có mục đích nào hết.
Ls: Căn cứ pháp luật nào để bị cáo viết, trả lời phỏng vấn…?
Cù Huy Hà Vũ: Căn cứ vào pháp luật Việt Nam, điều 69 Hiến pháp về quyền tự do ngôn luận và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, là thành viên.
Ls: Ông có hằn thù gì với nhà nước VN hay không? Có bao giờ ông có lòng hận thù với đất nước và nhân dân VN không?
Cù Huy Hà Vũ: Truyền thống gia đình nhà tôi từ bao đời nay…
Viện Kiểm sát chêm vào: Yêu cầu trả lời đúng câu hỏi.
Ls: Điều khiển phiên tòa là Chủ tọa phiên tòa, Viện kiểm sát coi khéo không lại phạm luật.
Cù Huy Hà Vũ tiếp tục nói về gia đình mình có truyền thống lâu đời nay từ đời cụ Cù Huy Xán cho đến đời ông Cù Huy Cận ngay sau năm 1949 đã được Quốc hội chọn làm Bộ Trưởng đầu tiên…. là khai quốc công thần và là người đẻ ra chế độ này.
Vì thế, không có lý do gì ông hận thù với Nhà nước, Nhân dân, Tổ Quốc Việt Nam.
“Do vậy, dù có phải trả giá bằng ngục tù, bằng cái chết, tôi vẫn quyết chiến đấu đến cùng – Cù Huy Hà Vũ kết luận.
Đến lượt Luật sư Vương Thị Thanh thẩm vấn:
Ls: Ông khẳng định bài viết “Bom áp nhiệt nổ giữa Ba Đình” không phải của ông?
Cù Huy Hà Vũ: Đúng.
Ls: Ông khẳng định …
Ls: Ông yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến Pháp vì nó phi lý?
Cù Huy Hà Vũ: Chính xác. Vì Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất thì không có thể có ai cao hơn để lãnh đạo. Vì thế điều 4 HP là phi lý, bất hợp lý.
Đến đây, Cù Huy Hà Vũ giảng giải một hồi dài về Nhà nước pháp quyền… ”Chẳng hạn, ở đây không ai được ra lệnh cho các anh ra bản án cả…” – ông Vũ nói.
Tôi không chống đảng CSVN, tôi yêu cầu đa đảng để cùng cạnh tranh, để đất nước tiến bộ. Gia đình tôi, bố tôi, bác tôi là đảng viên, không có lý do gì để tôi chống lại ĐCSVN. Tại Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là sáng lập Đảng Cộng sản, mà còn là sáng lập ra Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội. Sinh thời của chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn có đa đảng – Ông Vũ nói tiếp.
Ls: Bị cáo đã viết bài phải đa đảng có đúng không?
Cù Huy Hà Vũ: Đúng, nhất thiết phải đa đảng để cùng nhau chứ không thể độc quyền.
Ls: Bị cáo không xuyên tạc về Chiến tranh Việt Nam và ngày 30/4 mà chỉ nhằm giải quyết hậu quả sau chiến tranh?
Cù Huy Hà Vũ: Chủ tọa bảo xuyên tạc, nhưng tôi không biết xuyên tạc như thế nào.
Ls: Việc bị cáo khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về khai thác Bauxite
Chủ tọa cắt ngang: Yêu cầu không hỏi điều không liên quan, yêu cầu Luật sư không hỏi đến việc khiếu kiện.
Ls: Việc bị cáo khiếu kiện Thủ tướng vì lý do khai thác Bauxite Tây nguyên đã gửi đi nhưng vẫn chưa nhận được trả lời…
Cù Huy Hà Vũ: Đúng, Ngay cả đến giờ, Tòa án Nhân dân Tối cao vẫn không trả lời đơn.
Tôi phát hiện Thủ tướng có dấu hiệu sai phạm và tố cáo. …
Cù Huy Hà Vũ: Tôi khẳng định làm tất cả vì Tổ Quốc, vì Nhân dân và tôi sẵn sàng chết vì Nhân dân, vì đất nước này.
Tôi không tham gia bất cứ đảng phái, tổ chức nào.
Trên cơ sở đó, tôi khẳng định Tôi là người yêu nước Việt Nam.
Luật sư Trần Đình Triển là luật sư thứ 3 thẩm vấn bị cáo, ông đứng dậy mạnh mẽ đề nghị:
Ls: Đề nghị HĐXX cho cung cấp 10 tài liệu cho bị cáo.
Chủ tọa: Tòa yêu cầu chuyển cho Tòa và yêu cầu Ls chỉ đặt câu hỏi thôi.
Đến đây, nảy ra cuộc tranh cãi về việc tòa không cho cung cấp tài liệu buộc tội cho bị cáo. Với lời lẽ chắc nịch, Ls Trần Đình Triển vạch rõ các quy định luật pháp đảm bảo cho việc bào chữa, tự bào chữa của bị cáo nên việc đưa tài liệu Tòa dùng buộc tội cho bị cáo là hết sức cần thiết.
Tuy nhiên, với quyền quyết định trong tay, bất chấp các lý lẽ luật sư đưa ra, Tòa nhất định không chấp nhận.
Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị Ls làm các việc cần thiết. Bản án này đã được định sẵn.
Ls: Bản kiến nghị ngày 30/8/2010, thì Cáo trạng đã ghi là trả lời phỏng vấn?
Cù Huy Hà Vũ: Phần đó là trong kiến nghị gửi Quốc hội nhưng chưa được trả lời.
Ls: Bị cáo đã gửi cho Quốc hội và có bằng chứng?
Cù Huy Hà Vũ: Đúng, tôi còn lưu biên lai.
Ls: Tài liệu này coi như tài liệu của nhà nước và Quốc hội đang lưu giữ tài liệu này thì bị cáo nghĩ gì?
Cù Huy Hà Vũ: Không được dùng kiến nghị để làm tài liệu kết tội người khác.
Ls: Bị cáo nghĩ gì khi từ ngữ trong bản Cáo trạng lại khác với tài liệu của mình?
Cù Huy Hà Vũ: Đó là sự xuyên tạc và cần khởi tố.
Ls: Bị cáo có cần tài liệu để xác định không?
Cù Huy Hà Vũ: Tôi rất cần và luôn luôn đề nghị đến nay.
Ls: Vào hồi 0h5 phút, ngày 5/11/2010 anh thuê khách sạn đó làm phòng ở, là nơi bất khả xâm phạm vậy cảnh sát vào có đọc lệnh không?
Cù Huy Hà Vũ: Tôi khẳng định lúc 0h5 phút, cơ quan Công an Bộ Công an phá cửa xông vào thì không có bất cứ một cái lệnh nào.
Chủ tọa chặn lại: Đề nghị không hỏi về…
Ls: Chúng tôi đề nghị và hỏi để xem xét quý trình thủ tục tố tụng đúng hay sai?
Đến đây nổ ra cuộc tranh cãi khá gay gắt giữ Chủ tọa và Luật sư, Chủ tọa vài lần hô “Tôi cảnh cáo luật sư lần thứ nhất”. Thế nhưng sau đó vẫn còn mấy “lần thứ nhất” nữa mà không có lần nào thứ 2.
Ls Trần Đình Triển tranh cãi kịch liệt, thậm chí khi bị cảnh cáo đe dọa, ông nói thẳng thừng: “Ông định làm gì tôi? Đuổi tôi ra cho xong chăng? Tôi không sợ bất cứ điều đe dọa nào”.
Ls: Việc khám xét tại 24 Điện Biên phủ có đúng quy định Pháp luật hay không?
Cù Huy Hà Vũ: Tôi ở Tp HCM nên không biết.
Ls: Vậy vợ và người nhà anh phải là nhân chứng?
Cù Huy Hà Vũ: Đúng.
Ls: Việc câu chữ tài liệu bị sai với cáo trạng anh nghĩ gì?
Cù Huy Hà Vũ: Tôi đề nghị khởi tố việc làm sai lệch phiên tòa.
Ls: Anh có đề nghị giám định các tài liệu của anh không?
Cù Huy Hà Vũ: Tôi yêu cầu giám định.
Ls: Anh có nhiều bài viết chứ không phải chỉ 10 bài?
Cù Huy Hà Vũ: Đúng, vì lòng yêu nước, nhất là vấn đề Biển Đông.
Tôi cho rằng, yêu cầu cấp thiết của VN để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.
Chủ tọa chen vào: Yêu cầu Luật sư chỉ hỏi những vấn đề liên quan.
Ls: Tôi đề nghị Chủ tọa làm đúng pháp luật. Anh đề nghị gì khi sai pháp luật?
Cù Huy Hà Vũ: Tôi đề nghị khởi tố ngay các nhân viên an ninh đã ném hai bao cao su giao hợp để ập vào phòng tôi và bắt giữ tôi.
Đó là trò bẩn thỉu và ô nhục. Bẩn thỉu và ô nhục chưa từng có trên thế giới.
Đến đây, chấm dứt phần thẩm vấn của Ls Trần Đình Triển để đến luật sư Trần Vũ Hải thẩm vấn.
Ls Hải: Bị cáo có nghĩ do thù hận với bị cáo hay không?
Cù Huy Hà Vũ: Có, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thù tôi và cơ quan ANĐT Bộ Công an. Tôi đã kiện Thủ tướng và tố cáo ông Vũ Hải Triều tring vụ đánh sập hơn 300 trang mạng.
Quá trình thẩm vấn của Ls Trần Vũ Hải diễn ra với sự hùng biện và trả lời trôi chảy nêu bật những điều cần nói về các bài viết về các tài liệu mà ông Vũ không có trong tay để chứng minh việc buộc tội ông chống Nhà nước CHXNCNVN là vô căn cứ. Ông luôn luôn khẳng định ông là người yêu nước.
Sau phần thẩm vấn bị cáo, Viện Kiểm sát nhân dân đọc lời đề nghị với các nội dung như sau:
– Không cung cấp 10 đầu tài liệu dùng kết tội Cù Huy Hà Vũ cho bị cáo, không đọc toàn văn mà chỉ trích dẫn những câu cần thiết.
– Tại phiên tòa sơ thẩm… bị cáo đã tự tước bỏ quyền bào chữa của mình.
– Về việc khiếu nại Tòa sơ thẩm đã không cho xem biên bản phiên tòa là đúng vì nếu muốn xem phải yêu cầu ngay tại phiên tòa. Nhưng ba ngày sau mới có yêu cầu nên không cho xem.
(Khi đại diện VKS nói đến đây, các luật sư và nhiều người cứ ơ, ơ… hết sức ngạc nhiên. Tôi hỏi Ls Dương Hà, Ls Dương Hà nói: Yêu cầu vào 3 ngày sau là đúng pháp luật quy định. Ông này nói bừa sai luật).
– Giữ nguyên hình phạt cho bị cáo Cù Huy Hà Vũ.
Buổi sáng của phiên tòa chấm dứt ở phần này, chờ phần tranh tụng nảy lửa vào buổi chiều.
(Còn tiếp)
Ngày 5/8/2011
J.B Nguyễn Hữu Vinh
Trong bài viết kỳ 1, những diễn biến phiên tòa kể từ khi bước ra khỏi nhà đến khi Tòa nghỉ bàn bạc xem xét các yêu cầu của các Luật sư, tôi đã cố gắng nêu đầy đủ, trung thực những gì mình đã chứng kiến và ghi lại được. Có thể quá trình mô tả lại sẽ không logic như các phiên tòa hoặc các cuộc trao đổi, trò chuyện tranh cãi bình thường khác. Điều đó chỉ vì ngay chính phiên tòa đặc biệt này đã xảy ra như vậy.
Mọi lời phát biểu, tranh tụng hoàn toàn dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa. Mà chủ tọa phiên tòa thì ngay từ đầu phiên tòa đã thể hiện thái độ không muốn mất nhiều thời gian.
Ở đây, tôi cố gắng trình bày cụ thể và chi tiết những điều đã xảy ra tại phiên tòa cách khách quan nhất mà mình đã nhớ và ghi chép lại được . Vốn không phải là luật sư hoặc có quyền tranh tụng, tôi chỉ biết ngồi nghe và ghi chép lại những gì mình thấy, nghe và gặp. Cũng có thể có những câu nói quá dài, nghe, ghi không kịp nhưng những yếu tố cơ bản thì đã ghi lại.
Còn việc bình luận, đánh giá về phiên tòa công khai này sẽ phụ thuộc quan điểm của mỗi người khác nhau.
Trong quá trình nghỉ để Chủ tọa phiên tòa xem xét các yêu cầu của các luật sư, tại một dãy ghế của phòng tạm nghỉ phía ngoài, mấy bà đang ngồi nói chuyện trao đổi với nhau. Câu chuyện có vẻ nghiêm trọng và đầy bí ẩn. Có lẽ đây là đám mấy công dân đặc biệt của Phường nơi bị cáo cư trú thì phải. Khi tôi đi vệ sinh ngang qua nghe một bà hùng hồn, vẻ hiểu biết: “Luật sư người ta đề nghị thế là đúng luật đấy, đúng quá đi chứ, yêu cầu chính đáng đó nhất định tòa phải nghe rồi”.
“Hội đồng xem xét” và trả lời
Sau một thời gian bàn bạc, xem xét tại phòng phía trong, Hội đồng xét xử tiếp tục trở lại làm việc.
Những hi vọng mới nhen nhúm lên trong tôi và những người chứng kiến vụt tắt khi chủ tọa phiên tòa quyết định với nội dung như sau:
– Không chấp nhận các yêu cầu của các luật sư và bị cáo theo những điều luật được viện dẫn khác nhau, như khoản 3, điều 103…
– Việc cấp giấy bào chữa cho Ls Nguyễn Thị Dương Hà như yêu cầu, được chủ tọa giải thích: Trong quá trình tham gia vụ án, Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà đã vi phạm bí mật an ninh Quốc gia, Tòa sơ thẩm đã thu hồi giấy bào chữa. Do vậy tại tòa Phúc thẩm không cấp giấy cho Luật sư (Ls) Hà (!) (Việc này, Ls Nguyễn Thị Dương Hà đã có văn bản bác bỏ rằng không thể có một việc đưa xử tội hai lần)
– Tại Tòa sơ thẩm đã có 4 Ls, dù có Ls Hải bị mời ra khỏi phiên tòa này, và các Ls vẫn được tạo điều kiện để làm việc.
– Việc yêu cầu triệu tập Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết được tòa giải thích là bị cáo xâm hại lợi ích an ninh Quốc gia, không phải của cá nhân nào nên không triệu tập Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.
– Những nhân chứng bị cáo yêu cầu như ông Hoàng Công Tư, Đài RFA, VOA, Pv Trâm Oanh… không phải là nhân chứng, tại phiên tòa Sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận các tài liệu viết, trả lời phỏng vấn… nên không cần triệu tập.
– Những vật chứng mà Ls yêu cầu như hai bao cao su đã qua sử dụng… không phải là những vật chứng mà chỉ là vật chứng của hành vi vi phạm hành chính.
– Việc cung cấp các tài liệu cho bị cáo theo yêu cầu của Ls được Chủ tọa phiên tòa giải thích: Vì bị cáo đã làm ra nên bị cáo sẽ ghi nhớ được, nên không cấp.
– Không cung cấp giấy bút cho bị cáo để tự bào chữa tại tòa.
– Các yêu cầu của Ls là đọc các tài liệu dùng kết án ông Cù Huy Hà Vũ tại tòa sẽ được HĐXX “xem xét”.
– Việc ông Cù Huy Hà Vũ yêu cầu thay đổi HĐXX vì tất cả là đảng viên Cộng sản thì không thuộc quy định của Pháp luật.
Ông Cù Huy Hà Vũ yêu cầu bổ sung, và yêu cầu Chủ tọa đọc nguyên văn điều luật số 42 của Bộ luật TTHS.
Chủ Tọa phiên tòa không để ý đến yêu cầu của bị cáo Cù Huy Hà Vũ và kết thúc phần quyết định về những yêu cầu của bị cáo, Ls. Kể cả việc ông Vũ yêu cầu Chủ tọa đọc nguyên điều 42 trong bộ luật TTHS mà theo Ls và ông Vũ thì đã bị đọc sai, nhưng tòa không chấp nhận.
Ông Cù Huy Hà Vũ kêu to: “Không chấp nhận là độc quyền:.
Như vậy, hầu hết những yêu cầu của bị cáo và các Ls đã không được đáp ứng sau khi Chủ tọa nghỉ để xem xét. Và sau này, những điều chủ tọa phiên tòa hứa xem xét tiếp cũng không được đáp ứng nốt.
Theo các Ls, thì việc yêu cầu của họ là đúng với quy định của pháp luật, việc HĐXX không chấp nhận, đáp ứng yêu cầu đó là trái luật rõ ràng. Nhất là việc đảm bảo quyền tự bào chữa của ông Cù Huy Hà Vũ và việc phải đưa chứng cứ phạm tội là 10 đầu tài liệu mà Tòa sơ thẩm đã dùng để kết tội ông.
Xét hỏi
Nhanh chóng kết thúc phần đầu buổi xử án, Chủ tọa phiên tòa bước vào phần xét hỏi, thẩm vấn.
Chủ tọa đọc nội dung tóm tắt của vụ án. Khi đọc đến đoạn nói rằng Vũ đã viết bài trả lời phỏng vấn đài VOA, RFA… Cù Huy Hà Vũ kêu to: “Tôi không viết bài, nói bậy”.
Chủ tọa công bố bị cáo đã có đơn kháng cáo vào ngày 15/4/2011.
Ông Vũ yêu cầu nhận được bản tự bào chữa của mình, đã chuẩn bị cùng với các tài liệu và bộ luật nhưng đã không cho cầm vào.
Chủ tọa hỏi: Bị cáo có đồng ý các tài liệu do bị cáo viết, trả lời, lưu giữ không?
Cù Huy Hà Vũ: Tôi không viết bài “Bom áp nhiệt nổ giữa Ba Đình” mà là của tác giả Trần Thanh Ty có liên quan đến tôi nên tôi lưu giữ… Vũ nói tiếp về việc ông bị bắt vì bị ném hai bao cao su giao hợp đã qua sử dụng vào phòng nghỉ của ông để cơ quan điều tra Bộ Công an vào bắt ông… ông Vũ nói hăng hái đầy phẫn uất, công an bảo vệ giữ tay ngăn ông lại. Ông cãi
Chủ tọa phiên tòa cắt ngang: Chỉ yêu cầu trả lời có hay không mà thôi.
Cù Huy Hà Vũ: Không thể trả lời như vậy được, tôi phải trình bày rõ ràng…
Chủ tọa: Trong hai bài trả lời RFA và Đài Tiếng nói Việt Nam…
Ông Vũ nhắc: Không phải đài Tiếng nói Việt Nam, mà là đài Tiếng nói Hoa Kỳ, nhắc cho HĐXX.
Chủ tọa: Bị cáo trả lời phỏng vấn như thế nào?
Ông Vũ: Qua điện thoại…
Đến đây, ông Vũ trình bày rõ ràng quá trình diễn tiến sự việc…
Chủ tọa: Bị cáo dừng lại.
Ông Vũ: Tôi có quyền trình bày những nội dung liên quan đến câu hỏi
Chủ tọa: Bài phỏng vấn do bị cáo đăng tải hay do Đài đăng?
Ông Vũ: Đương nhiên do Đài đăng.
Chủ tọa: Có bài nào bị cáo kiểm tra lại và phải đồng ý mới được đăng không?
Ông Vũ: Cơ quan ANĐT và Tòa án đã nhầm lẫn…
Chủ tọa: Những kẻ cướp ngày nhằm chỉ ai?
Ông Vũ: Những kẻ phạm tội trong chính quyền địa phương.
Chủ tọa: Nghĩa là chính quyền địa phương?
Ông Vũ: Chính xác.
Chủ tọa: Bài vế Chính quyền VNCH?
Ông Vũ: Đó là sự dốt nát và kém cỏi, muốn hại tôi vì đó là Kiến nghị tôi gửi Quốc hội, mà tài liệu tôi gửi kiến nghị Quốc hội thì không được dùng làm chứng cứ buộc tội tôi.
Chủ tọa: Bị cáo có gửi Quốc hội?
Ông Vũ: Tôi gửi cả chục kiến nghị mà Quốc hội đã không trả lời tôi.
Tôi có quyền trả lời phỏng vấn báo chí trong và ngoài nước được pháp luật thừa nhận. Kể cả chủ tịch nước lãnh đạo đất nước cũng vậy…
Cù Huy Hà Vũ tiếp tục nói về các bài viết, về kiến nghị gửi Quốc hội đã được đưa vào làm chứng cứ kết tội ông ở phiên tòa sơ thẩm. Ông nói: “Không ai được dùng kiến nghị của công dân để kết tội bất cứ một ai hết.
Khi ông Vũ trình bày chi tiết về các vấn đề Chủ tọa hỏi, Chủ tọa phiên tòa nhiều lần nhắc: Chỉ được nói đúng hay không mà thôi.
Cù Huy Hà Vũ: Việc không cung cấp tài liệu buộc tội tôi cho tôi là việc làm phi pháp.
Chủ tọa: Bài viết Chiến tranh Việt Nam là 1 hay 2 bài? Trong đó có bài: Ts Cù Huy Hà Vũ nghĩ về chiến tranh Việt Nam và ngày 30/4?
Cù Huy Hà Vũ: Vì tòa không cung cấp tài liệu cho tôi nên tôi không nhớ.
Chủ tọa: Có khi nào bị cáo đưa bài phỏng vấn nào mà họ thay đổi tiêu đề hay không? Hai bài đó có cùng 1 nguồn hay không?
Cù Huy Hà Vũ: Không cung cấp tài liệu, tôi không nhớ hết.
Chủ tọa: Trong bài trả lời Đài Tiếng nói Hoa Kỳ…
Cù Huy Hà Vũ: Lần này thì nói chuẩn rồi, không còn là Đài Tiếng nói Việt Nam.
Chủ tọa: Ngoài phần trích trong cáo trạng, thì còn đoạn về đảng…
Cù Huy Hà Vũ: Tôi không nhớ, nhưng có thể có.
Chủ tọa: Trong bài Đường sắt Bắc – Nam…
Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị không bàn bài này
Chủ tọa: Như vậy, bị cáo có viết bài này?
Cù Huy Hà Vũ: Như vậy là cố tình hãm hại tôi.
Chủ tọa: Các bài trả lời phỏng vấn
Cù Huy Hà Vũ: Tôi không nhớ rõ, vì không chú ý
Chủ tọa: Bị cáo có viết bài… có đăng không?
Cù Huy Hà Vũ: Có đăng trên Bauxite Việt Nam
Chủ tọa: Đăng mấy ngày?
Cù Huy Hà Vũ: Không nhớ.
Chủ tọa: Bài Trần Khải Thanh Thủy…
Cù Huy Hà Vũ: Tôi viết tố cáo tội phạm.
Chủ tọa: Trong bài viết, bị cáo nói là tố cáo tội phạm, đó là cơ quan công an Đống Đa?
Cù Huy Hà Vũ: Chính xác, đó là công an Đống đa, thủ đoạn đó là tội phạm.
Chủ tọa: Bài bàn về ĐCSVN?
Cù Huy Hà Vũ: Ở đâu? Bài nào?
Chủ tọa: Bài bàn về Đảng cầm quyền.
Cù Huy Hà Vũ: Nhắc lại là nói cho đúng.
Chủ tọa: Bài Bom áp nhiệt nổ giữa Ba Đình của Đặng Thanh Ty, bị cáo có lưu không?
Cù Huy Hà Vũ: Không nhớ vì không có tài liệu trong tay.
Chủ tọa: Tại cơ quan an ninh điều tra, bị cáo có thừa nhận viết để đi tuyên truyền không?
Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị bỏ từ “thừa nhận” đi, tôi không có tuyên truyền cho ai cả. Theo Đại Từ điển, tuyên truyền là vận động mọi người làm theo, trong tài liệu tôi không có chuyện đó.
Chủ tọa: Những tài liệu cơ quan điều trra thu giữ là của bị cáo?
Cù Huy Hà Vũ: Không, đó là tài sản của vợ, con tôi. Trong ổ cứng máy tính có nhiều tài liệu tại sao lại thu giữ tất cả mà chỉ có lấy điều tra 10 tài liệu? Tại sao còn lại không trả lại? Việc giữ lại là bất hợp pháp, là cưỡng đoạt tài sản công dân.
Đại diện Viện Kiểm sát (VKS):… (Nói nhỏ nghe không rõ)
Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị nói to lên.
VKS: Trong 10 tài liệu bị cáo đã thừa nhận
Cù Huy Hà Vũ: Tôi không “thừa nhận” tôi chỉ “xác nhận” thừa nhận là do quá trình đấu tranh chịu thua mới thừa nhận, tôi chỉ xác nhận.
VKS: Bị cáo đã làm ra các tài liệu đó?
Cù Huy Hà Vũ: Tôi không làm ra, do các đài, báo họ làm ra.
VKS: Trên cơ sở nội dung bị cáo trả lời, người ta mới làm ra bài phỏng vấn
Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị Viện Kiểm sát nói to lên, không lẩm bẩm. Dõng dạc, đàng hoàng đi
VKS: Bị cáo viết lên với mục đích gì?
Cù Huy Hà Vũ: Tôi tố cáo 1 số người trong cơ quan nhà nước đã dùng tiền của của nhân dân để cướp đất khắp nơi. Tôi tố cáo các hành vi lạm quyền.
VKS: Theo bị cáo, việc làm đó là đúng?
Cù Huy Hà Vũ: Tôi hoàn toàn đúng, làm sai, lạm quyền, thì tố cáo là bình thường.
VKS: Bị cáo có thấy đó là hiện tượng
Cù Huy Hà Vũ: Đây không phải là hiện tượng mà là hành vi, tôi còn chưa đủ thời gian sưu tầm nhiều, chứ đủ thời gian sưu tầm thì tôi chứng minh đầy đủ hơn, nhiều hơn những hành vi đó.
VKS: Trong bài…
Cù Huy Hà Vũ: Đề nghị loại bài đó ra vì tôi viết chưa xong mà lấy làm chứng cứ buộc tội tôi?
Khi Cù Huy Hà Vũ đang nói thì đột nhiên mất điện.
Cù Huy Hà Vũ: Như ở trại giam nhỉ.
VKS: Bị cáo có trả lời đài..
Cù Huy Hà Vũ: Tôi có trả lời Đài Tiếng nói Hoa Kỳ.
VKS (Người thứ 2): Bị cáo có sử dụng máy tính, USB không?
Cù Huy Hà Vũ: USB hay ổ cứng? USB là ổ cứng máy vi tính chứ gì? Đó là hai cái ổ cứng, không phải USB
VKS: Còn 2 USB ở TPHCM cơ quan An ninh Điều tra thu giữ
Cù Huy Hà Vũ: Đó là sự cưỡng đoạt tài sản của cơ quan CA Bộ Công an đã ném 2 bao cao su giao hợp vào phòng tôi lấy cớ cưỡng đoạt tài sản của tôi.
Nhân đây, tôi cũng đề nghị điều tra về vụ này vì trong lịch sử thế giới chưa bao giờ có những hành động như vậy.
Cái tôi đã ký xác nhận lại đi giám định, cái cần giám định lại không giám định.
Phần hỏi đáp thẩm vấn của Chủ tọa phiên tòa và đại diện Viện Kiểm sát đến đây là kết thúc để chuyển sang phần thẩm vấn của các luật sư.
Trong quá trình thẩm vấn của Chủ tọa phiên tòa và các đại diện Viện Kiểm sát nhân dân, Cù Huy Hà Vũ đứng thẳng, đầu ngẩng cao, hai tay bắt sau lưng, tay trái nắm chặt cổ tay phải và bàn tay phải nắm chặt thành một nắm đấm. Thỉnh thoảng ông giơ tay vuốt lại mái tóc.
Tôi cố tình chú ý xem cả ngày hôm đó thử có lần nào Cù Huy Hà Vũ cúi thấp đầu xuống hay không. Nhưng, ngay cả khi đứng lên ngồi xuống ghế anh vẫn ngẩng cao đầu.
Phần trả lời thẩm vấn của Chủ tọa phiên tòa và đại diện Viện kiểm sát nhân dân, ông trả lời hết sức mạch lạc, vận dụng câu, chữ trích dẫn hết sức thành thạo dù không đươc cung cấp các tài liệu đã được dùng để ghép tội cho ông. (Còn tiếp)
Ngày 4/8/2011
J.B Nguyễn Hữu Vinh
Phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm ông TS luật Cù Huy Hà Vũ đã tiến hành xong sau nhiều mong đợi từ các nhân sĩ, trí thức, người dân Hà Nội và khắp nơi, không chỉ trong nước mà cả trên thế giới rằng sẽ có sự nhìn nhận lại của các cơ quan pháp luật để có bản án hợp lòng dân. Nhưng những hy vọng đó đã tan thành mây khói khi tòa tuyên y án sơ thẩm.
Kết quả đó làm nản lòng những người hy vọng một sự đổi thay, làm đau lòng những người yêu nước, làm thất vọng những niềm tin còn sót lại về một nhà nước pháp quyền.
Sự nản đó, thể hiện ở nhiều nơi, nhiều lúc và nhiều mặt. Ngay cả việc người dân yêu cầu quyền chính đáng, cơ bản tối thiểu của họ khi được vào dự phiên tòa công khai thì người ta cũng không thèm nhắc đến nữa.
Tôi đi dự phiên tòa lịch sử
Trong lịch sử thế giới cũng như dân tộc này, đã có nhiều phiên tòa đi vào lịch sử còn ghi lại đến tận hôm nay. Tôi tin rằng phiên tòa này cũng sẽ được ghi vào lịch sử của đất nước, của dân tộc về một thời kỳ: Thời kỳ Việt Nam có “nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa”.
Tôi có may mắn được vào dự phiên tòa lịch sử này một cách hết sức ngẫu nhiên. Điều này không chỉ làm ngạc nhiên những người bạn, những người thân mà ngay cả tôi cũng không kém, kể cả khi đã ở trong tòa.
Sáng 2/8, tôi và vài người bạn lên nhà chị Dương Hà định để cùng đi ra xem quang cảnh phiên tòa vì biết rằng phiên tòa công khai này chỉ dành cho một ít người được chọn. Cái quyền cơ bản đó đã nghiễm nhiên không còn khi tòa án xét xử những vụ án như vụ mấy cục gạch của giáo dân Thái Hà, vụ sơ thẩm Cù Huy Hà Vũ… Đến nơi, chị Dương Hà bảo: cả gia đình có 13 người muốn vào dự, thế nhưng họ chỉ cấp cho có 3 giấy ra vào tòa. Một giấy dành cho ông chú Cù Huy Thước, một giấy của chị, còn một giấy nữa là của cháu Hiếu, nhưng chị cứ phân vân có nên để cháu Hiếu chứng kiến cảnh đau lòng này không. Hay Vinh vào tòa với chị?
Sáng dậy lúc ra đi, trời mưa nhỏ nên tôi chỉ mặc quần soóc, áo phông, chân đi dép lê cho tiện, đến khi này mới khó xử, vậy là phải vội vàng điện về nhà để đứa em mang ngay lên cho bộ vét và đôi giày, mười lăm phút sau, nhu cầu được đáp ứng. Thế là tôi đi.
Khỏi phải mô tả cảnh ngăn chặn bên ngoài, ngay tại cổng tòa ngoài đường, một tốp cảnh sát hình như được huy động quá vội vàng hoặc cẩu thả, hoặc trá hình nên không có biển tên trên ngực chặn chúng tôi lại đòi giấy tờ. Chúng tôi phản đối: “Giấy tờ không phải để xuất trình ở đây, mà các anh là cảnh sát, biển tên ở đâu, ăn mặc đúng điều lệnh khi làm việc thế này à”? Nghe nói thế một người vội vàng móc biển tên ra đeo lên ngực, nhưng những người đứng trước cổng tòa vẫn thế, một người mặc thường phục mà tôi thường thấy trong các phiên tòa xẳng giọng: “Không cần biển tên”. Tôi hỏi: “Phiên tòa công khai, chúng tôi vào dự tại sao ngăn chặn? anh ta đáp: “Thì cũng phải có quy định của tòa”. Tôi nói: “Sao ngay tại cổng này không có bảng quy định nào mà anh lại chặn”? Anh ta không thể trả lời.
Vào cổng tòa, tôi gặp một công an tôn giáo tên là Sơn, anh ta hỏi: “Ông Vinh đi vào đây làm gì”? Tôi đáp: “Tôi đi dự phiên tòa công khai” – “Ông có giấy không đưa tôi xem”? – anh ta hỏi. Tôi đáp: “Tòa xử công khai cần gì phải giấy, mà có giấy cũng không phải để đưa cho anh xem, vì đấy đâu phải nhiệm vụ của anh”. Anh ta nói: “Sẽ có người hỏi để xem giấy của ông”.
Quả nhiên vậy, khi mọi người lục tục kéo vào qua cổng an ninh, một người vừa được anh công an tên Sơn thầm thì vào tai và chỉ trỏ tôi lập tức chặn tôi lại: “Giấy đâu”? Tôi đưa giấy ra vào, anh ta cầm và chưng hửng, một lúc sau hỏi tiếp: “Thẻ đâu”? Tôi đáp: “Tôi không phải là nhân viên ở đây, nên không có thẻ và chỉ cần giấy ra vào này tôi có thể ra vào”. Anh ta hỏi: “Chứng minh nhân dân đâu?” . Tôi đưa chứng minh nhân dân, anh ta lại: “Thẻ đâu”?. Tôi nói với anh ta: “Anh đừng cò quay, anh đòi giấy, tôi có giấy, anh đòi thẻ tôi không là nhân viên ở đây nên không có thẻ thì anh đòi giấy chứng minh nhân dân, tôi đưa anh thì anh lại đòi thẻ, chắc lát nữa anh đòi giấy khai sinh hoặc bằng lái xe chắc? Với cái giấy này, có dấu đỏ, nó có giá trị gì không”?
Cũng lúc đó, một người mang bảng trên ngực ghi Ban Tổ chức đi qua, tôi hỏi: “Tôi có giấy này, có vào tòa được không”? Người đó trả lời: “Có giấy này là vào được”. Vậy là anh ta phải để tôi vào tòa.
Vào tòa
Trong tòa, ngoài khu vực dành cho Hội đồng xét xử (HĐXX), các luật sư và bị cáo, phía dưới có ba dãy ghế mỗi dãy có 8 hàng, mỗi hàng có 12 chiếc, vị chi là 96 chỗ. Trong đó theo chị Dương Hà cho biết thì một số là cán bộ phường nơi chị ở, còn lại là những gương mặt trẻ già được cấp giấy màu hồng. Ngồi bên tôi là một cậu trẻ măng, tôi hỏi cậu làm ở đâu thì cậu nói làm công nhân, nhà ở Hai Bà Trưng, tôi hỏi làm công nhân gì thì cậu ấp úng. Thế nhưng, cậu nói chuyện cơ quan với một cậu bên cạnh cầm trên tay tập “Tập huấn nghiệp vụ khóa 7″ thì tôi hiểu cậu đã không dám nói thật. Điều lạ là ngay chính những người dự tòa như thế này, họ cũng đã có tâm trạng không minh bạch.
Gần 8 giờ ông Vũ được dẫn giải ra tòa, lần này ông mặc áo sơ mi, cổ không đeo cà vạt, chân đi giày. Trước khi phiên xử bắt đầu, chị Dương Hà và luật sư của bị cáo đề nghị cho ông được đeo cà vạt vì ông chưa phải là tội nhân. Yêu cầu này không được chủ tọa phiên tòa đáp ứng và nói rằng: “Vấn đề ăn mặc là do nơi trại tạm giữ”. Như vậy là ông Vũ đã không được đeo cà vạt trước tòa như lần trước với hình ảnh hiên ngang.
8h15, phiên xử bắt đầu.
Chủ tọa phiên tòa là Chánh án Nguyễn Văn Sơn, hai thẩm phán là Nguyễn Huy Chương và Nguyễn Đức Nhận đã ngồi tại tòa, phía Viện Kiểm sát có ông Nguyễn Thanh Văn và Lê Hồng Tuấn. Phía bên bị cáo có 4 luật sư: Trần Quốc Thuận, Trần Đình Triển, Trần Vũ Hải, Vương Thị Thanh. Phía người nhà có ông Cù Huy Thước, chị Dương Hà và tôi. Phần còn lại là những người xa lạ.
Thủ tục ban đầu là kiểm tra căn cước bị cáo, ngay sau khi được mở còng số 8, Cù Huy Hà Vũ giơ tai tay lên cao hình chữ V, các ngón tay hình chữ V và quay lại: “Chào tất cả mọi người. Dương Hà, anh yêu em”.
Phần khai nhân thân Cù Huy Hà Vũ đọc trích ngang lý lịch của mình bị sa thải khỏi Bộ Ngoại giao vì kiện Thủ tướng, tiếp đó ông phản đối việc nêu nhân thân của ông trong bản án nói đến hai con nhưng không nói rõ tên hai con, “đã nêu thì phải có tên tuổi đầy đủ” – ông nói.
Ngay từ đầu phiên tòa, Cù Huy Hà Vũ yêu cầu:
– Thay đổi toàn bộ Hội đồng xét xử vì tất cả đều là đảng viên ĐCS, mà cáo trạng có nói đến việc ông đã phủ nhận sự lãnh đạo của ĐCS. Vì thế, việc dùng các đảng viên ĐCS để xử ông là việc không khách quan.
– Điều thứ 2, ông Vũ nói về vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân gồm có 2 chức năng vừa truy tố vừa kiểm sát xét xử, như vậy là vừa đá bóng vừa thổi còi sẽ dẫn đến không khách quan trong quá trình xét xử.
– Vấn đề thứ 3, ông nói: “Tôi có chuẩn bị bản tự bào chữa cho mình bằng văn bản, có các tài liệu khác như các bộ luật, nhưng hiện nay cảnh sát dẫn giải vẫn đang giữ của tôi, yêu cầu trả lại tôi để tôi thực hiện quyền tự bào chữa của mình”.
Nhưng, yêu cầu đó không được chủ tọa trả lời mà chủ tọa lại đọc một điều trong bộ luật quy định tại tòa về việc luật sư tiếp xúc bị cáo và giải thích về điều đó.
LS Trần Đình Triển phản ứng ngay: Yêu cầu Chủ tọa phiên tòa không suy diễn và yêu cầu Chủ tọa phiên tòa đọc đúng quy định của luật và ông nói: “Nếu với trình độ của chủ tọa đọc luật cũng sai như thế này, thì yêu cầu thay đổi Chủ tọa phiên tòa”.
LS Trần Vũ Hải có ý kiến tiếp theo nhất trí với LS Trần Đình Triển về việc yêu cầu thay đổi Chủ tọa phiên tòa. Ngoài ra, LS Trần Vũ Hải cũng gửi bản kiến nghị của công dân gửi QH nước CHXHCN VN đến Tòa, văn bản của Văn phòng Cù Huy Hà Vũ đã gửi QH luật sư cũng đã gửi đến Tòa và yêu cầu:
– Triệu tập Chủ tịch Quốc hội để trả lời về điều 88 Bộ luật Hình sự.
– Phiên tòa xét xử công khai, mọi người đều có quyền được tham dự, gia đình Cù Huy Hà Vũ có 13 người và bạn bè gồm 20 người đã đề nghị được tham dự phiên tòa, yêu cầu Tòa tạo điều kiện cho họ.
Luật sư Vương Thị Thanh đề nghị:
– Đề nghị HĐXX triệu tập Chủ tịch nước, Tướng Hoàng Công Tư, chị Lê Nguyễn Như Quỳnh, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, RFA…
– Cung cấp cho ông Vũ 10 tài liệu mà Tòa sơ thẩm đã dùng làm căn cứ kết tội ông.
– Yêu cầu Tòa cung cấp giấy bút cho ông Vũ để ông tự bào chữa cho mình.
– Yêu cầu có vật chứng là hai bao cao su đã qua sử dụng.
– Yêu cầu Tòa công bố toàn văn các tài liệu.
– Trước khi nói lời sau cùng, phải để ông Vũ đọc bài tự bào chữa của ông.
– Không hạn chế thời gian tranh luận của luật sư.
– Thư ký phiên tòa phải ghi đầy đủ những diễn biến trong phiên tòa, vì phiên sơ thẩm thư ký Tòa đã bỏ qua nhiều tình tiết.
– Yêu cầu chủ tọa cho Cù Huy Hà Vũ thắt cà vạt vì ông chưa phải là tội phạm và cung cấp cho ông 10 đầu tài liệu…
Luật sư Trần Quốc Thuận có ý kiến:
– Đồng ý với các đề nghị của các luật sư
– Cán bộ, công nhân viên chỉ được làm những gì pháp luật quy định, còn nhân dân được làm những việc pháp luật không cấm.
– Nộp danh sách Kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ và bản kiến nghị 12 điểm của LS về phiên tòa xét xử sơ thẩm.
Sau khi các luật sư nêu ý kiến của mình, Chủ tọa phiên tòa nói: “Hội đồng sẽ xem xét các đề nghị của luật sư”.
Cù Huy Hà Vũ yêu cầu:
– Hoãn phiên tòa vì tại đây không có các nhân chứng như Đài VOA, RFA, phóng viên Trâm Oanh, BauxiteVN… như vậy là phiên tòa sẽ thiếu các nhân chứng.
– Yêu cầu triệu tập vợ và các con, vì đó là người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan.
– Chủ tọa phiên tòa đã nói nhưng không đúng theo luật.
– Đề nghị hoãn phiên tòa vì tòa đã không cấp giấy cho LS Nguyễn Thị Dương Hà từ vụ sơ thẩm. Nếu vụ sơ thẩm đã từ chối, giờ vụ phúc thẩm cũng từ chối là không không đúng luật.
– Yêu cầu Tòa cung cấp đơn và tài liệu kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân:
– Căn cứ các điều luật 42,45, bộ luật TTHS, Vũ đề nghị đọc toàn văn…
– Trong quá trình tham gia vụ án, LS Hà đã vi phạm.
– Những người như Hoàng Công Tư, Lê Nguyễn Như Quỳnh không phải là nhân chứng vụ án.
– Bị cáo thừa nhận trả lời các đài, báo liên quan đến An ninh Quốc gia nên không cần triệu tập.
Trong quá trình đó, đại diện Viện Kiểm sát đã nổi nóng, phát biểu tự do không cần chủ tọa cho phép, lập tức được ông Vũ nhắc nhở “Hãy bình tĩnh”. Cũng như khi một vị thuộc Viện Kiểm sát phát biểu giọng nói ấp úng, ông Vũ nhắc ngay và đề nghị nói to, nói rõ để còn nghe, đàng hoàng dõng dạc lên không việc gì phải ấp úng… làm cả phòng xử ồ lên cười, bớt đi phần căng thẳng trong tòa.
Cù Huy Hà Vũ giơ hai tay hình chữ V: ” Chiến thắng, chiến thắng cuối cùng”.
Hội đồng xét xử tạm nghỉ vào phòng nghị án để xem xét.
Hà Nội, ngày 3/8/2011
- J.B Nguyễn Hữu Vinh
Ông Trương Văn Dũng (nick Fb Truong van Dung -người hoạt động Nhân quyền bị công an Hoàn Kiếm cưỡng bức bắt cóc trên đường phố về trụ sở để « làm việc »
10 Avr
Theo thông tin từ Fb Ngô Duy Quyền: Ông Trương Văn Dũng (nick FbTruong van Dung -người hoạt động Nhân quyền bị công an Hoàn Kiếm cưỡng bức bắt cóc trên đường phố về trụ sở để « làm việc » về sự « Có mặt ngày 14/3/2015 tại khu vực tượng đài Lý Thái Tổ, chứng kiến những người mặc áo DLV » sau khi đã có giấy triệu tập lần thứ 4.
Phải nói rõ ngay rằng Việc cơ quan công an triệu tập công dân để lấy thông tin về nhóm DLV phá rối buổi tưởng niệm 64 chiến sỹ Hải quân Việt nam bị Trung quốc sát hại tại đảo Gạc Ma là rất vô lý nếu không muốn nói là họ muốn làm việc này để nhằm lấy lòng Trung quốc nhân chuyến đi thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh.
Nếu công an muốn làm rõ việc đám DLV đã có những hành vi gây rối làm xấu mặt nhà nước thiết nghĩ cơ quan điều tra phải cho triệu tập chúng mới đúng chứ không phải triệu tập những người đi tưởng niệm.
Khi công an thực sự chỉ muốn lấy thông tin của nhân chứng, lẽ ra họ có thể cử cán bộ đến gia đình ông Trương Văn Dũng để tìm hiểu chứ không phải triệu tập ông.
Nay họ lại cưỡng bức công dân một cách vô luật pháp như vậy, gia đình ông Dũng phải có những hành động cụ thể để phản đối cơ quan công an quận Hoàn kiếm. Những việc có thể phải làm là:
1/ Gửi đơn khiếu nại lên các cấp có thẩm quyền: Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng chính phủ, Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2/ Thông tin đến tất cả các Đại sứ quán tại Hà Nội.
3/ Thông tin đến các cơ quan truyền thông trong nước và Quốc tế tại Hà Nội và các cơ quan Thông tấn báo chí trên thế giới.
4/ Thông tin đến các cơ quan Nhân quyền Liên hợp Quốc.
5/ Về phía gia đình: Sẵn sàng cho phương án căng băng rôn khẩu hiệu đòi trả tự do lập tức cho ông Trương Văn Dũng ngay tại cổng cơ quan công an Hoàn Kiếm (sau khi thông báo cho các cơ quan thông tấn trong ngoài nước đến chứng kiến)
6/ Chuẩn bị xăng (đủ dùng) buộc vào người để sẵn sàng tự thiêu phản đối nếu bị đàn áp. (Đã đến lúc cần có sự hy sinh cao nhất để gây tiếng vang nhằm thức tỉnh sự quan tâm hơn nữa của cộng đồng đến vấn đề nhân quyền tại Hà nội nói riêng và Việt nam nói chung)
Ảnh DLB: Lúc 13 giờ trưa ngày 22/3/2014, nhà hoạt động Trương Văn Dũng đã bị 4 viên công an thường phục dùng tuýp sắt đánh trọng thương gần khu vực cây xăng Nam Đồng (góc đường Hồ Đắc Di và Nguyễn Lương Bằng, quận Đống Đa, Hà Nội).
VOA Tiếng Việt, RFI Tiếng Việt Đại Sứ Quán Mĩ, Đại sứ quán Canada tại Việt Nam Thomas Trung Viet Ha Rfa Angelina Trang Huỳnh Nguyễn Tường ThụyThao Teresa Ha Thanh Lan Le Mai Thanh Huynh Ngoc Chenh Chú TễuSông Quê
Cách đây 40 năm, VNDCCH đã xâm lược và thôn tính một quốc gia có chủ quyền là VNCH.
10 Avr
Cách đây 40 năm, VNDCCH đã xâm lược và thôn tính một quốc gia có chủ quyền là VNCH.
Phần 1: Cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ từ Vua Thành Thái được VNCH chọn là lá quốc kỳ.
Vua Thành Thái tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Lân (阮福寶嶙), còn có tên là Nguyễn Phúc Chiêu (阮福昭). Ông là con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Từ Minh Hoàng hậu (Phan Thị Điểu), sinh ngày 22 tháng 2 năm Kỷ Mão, tức 14 tháng 3 năm 1879 tại Huế.
Ngày 2 tháng 2 năm 1889 Bửu Lân lên ngôi lấy hiệu là Thành Thái. Vua Thành Thái được đánh giá là người cầu tiến, yêu nước và chống Pháp. Khác với những vị vua trước đây, ông học chữ Nho, học tiếng Pháp và cũng cho cả con cái của mình cùng theo học chữ Pháp. Không nói ra, nhưng rõ ràng ý định của ông là học chữ Pháp để có thể giao tiếp với những người này với tinh thần chống Pháp.
Vua Thành Thái rất thích đọc những tân thư chữ Hán của Trung Quốc và Nhật Bản. Nhờ đó vua có tinh thần tự cường dân tộc và đầu óc cải cách. Vua Thành Thái làm thơ không nhiều, nhưng có những bài xuất sắc.
Vua Thành Thái dần dần bộc lộ tinh thần dân tộc rất cao. Ông khinh ghét những bọn quan lại xu phụ. Có ý kiến cho rằng ông đã đồng tình giúp đỡ… tạo điều kiện cho Cường Để xuất dương theo Phan Bội Châu sang Nhật.
Dưới triều Thành Thái tuy vẫn còn có những cuộc vận động chống Pháp, nhưng nhìn chung Việt Nam cũng đã đi vào ổn định, nên đã có nhiều công trình mới được xây dựng. Nhất là ở kinh đô Huế, các bệnh viện, trường Quốc học, chợ Đông Ba, cầu Tràng Tiền… đều được xây dựng vào thời kỳ này. Như trường hợp trường Quốc học Huế năm 1896, chính nhà vua đã gợi ý vấn đề thành lập.
Trước các ý tưởng cấp tiến của vua Thành Thái, người Pháp lo ngại tìm cách ngăn trở. Để che mắt, Thành Thái giả hành động như một người mất trí. Khi các bản vẽ vũ khí của ông bị phát hiện, Thành Thái giả điên, cào cấu các bà cung phi và xé nát các bản vẽ. Lợi dụng cơ hội này, người Pháp vu cho ông bị điên, ép ông thoái vị, nhường ngôi cho con vì lý do sức khỏe. Khâm sứ Pháp còn nói thẳng là đã biết ông có ý đồ chống Pháp, nên không để ông ở ngôi được. Còn nếu Thành Thái muốn tại vị thì ông phải ký vào một tờ giấy xin lỗi, tuyên bố với quốc dân là có âm mưu chống lại nước Pháp, nay phải thành thực hồi tâm. Nhưng ông đã ném tờ tuyên cáo thảo sẵn ấy xuống đất, từ chối.
Ngày 12 tháng 9 năm 1907, Thành Thái bị đưa đi quản thúc ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu ngày nay). Đến nǎm 1916 ông đày ra đảo Réunion cùng với con trai là vua Duy Tân.
Vua Duy Tân (chữ Hán: 維新; 19 tháng 9, 1900 – 26 tháng 12, 1945) là vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Nguyễn (ở ngôi từ 1907 tới 1916), sau vua Thành Thái.
Khi vua cha bị thực dân Pháp lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên, ông dần dần khẳng định thái độ bất hợp tác với Pháp. Năm 1916, lúc ở Âu châu có cuộc Đại chiến, ông bí mật liên lạc với các lãnh tụ Việt Nam Quang Phục Hội như Thái Phiên, Trần Cao Vân, ông dự định khởi nghĩa. Dự định thất bại và Duy Tân bị bắt ngày ngày 6 tháng 5 và đến ngày 3 tháng 11 năm 1916 ông bị đem an trí trên đảo Réunion ở Ấn Độ Dương.
Việt Nam Quang Phục Hội được Phan Bội Châu thành lập từ 1912. Biết được vua Duy Tân là người yêu nước chống Pháp nên Việt Nam Quang Phục Hội quyết định móc nối. Hai lãnh đạo của hội là Trần Cao Vân và Thái Phiên bỏ tiền vận động người tài xế riêng của vua Duy Tân xin thôi việc. Thay vào đó là Phạm Hữu Khánh, một thành viên của hội.
Đêm 2 tháng 5, Trần Cao Vân và Thái Phiên đưa thuyền đến bến Thương Bạc đón vua Duy Tân. Nhà vua cải trang theo lối thường dân đi cùng hai người hộ vệ là Tôn Thái Đề và Nguyễn Quang Siêu. Họ tới làng Hà Trung, lên nhà một hội viên Việt Nam Quang Phục hội để chờ giờ phát lệnh bằng súng thần công ở Huế. Nhưng chờ đến ba giờ sáng vẫn không nghe hiệu lệnh, biết đã thất bại, Trần Cao Vân và Thái Phiên định đưa vua Duy Tân tới vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi. Sáng ngày 6 tháng 5 năm 1916, họ bị bắt.
Khâm sứ tại Huế và Toàn quyền thuyết phục vua Duy Tân trở lại ngai vàng nhưng ông không đồng ý:
“Các ngài muốn bắt buộc tôi phải làm vua nước Nam, thì hãy coi tôi như là một ông vua đã trưởng thành và có quyền tự do hành động, nhất là quyền tự do trao đổi tin tức và ý kiến với chính phủ Pháp. »
Ngày 28 tháng 3 năm 1987, hài cốt của vua Duy Tân được gia đình đưa từ M’Baiki, Trung Phi về Paris làm lễ cầu siêu tại Viện Quốc tế Phật học Vincennes và sau đó đưa về an táng tại An Lăng, Huế, cạnh nơi an nghỉ của vua cha Thành Thái, vào ngày 6 tháng 4 năm 1987.
Ngày 5 tháng 12 năm 1992, thành phố Saint-Denis đảo La Réunion khánh thành một đại lộ mang tên ông: Đại lộ Vĩnh San.
Hà Nội có đường Duy Tân và đường Thành Thái ở phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy.
Sài Gòn có đường Thành Thái ở phường 12, quận 10 và đường Duy Tân ở phường 15 quận Phú Nhuận.
Vì yêu nước chống Pháp mà cả hai vua Thành Thái và Duy Tân bị truất ngôi và bị đi đày. Không một người nào kể cả chính quyền cộng sản cũng không thể bôi nhọ hai người cho dù họ muốn. Tại sao họ muốn điều đó, vì họ sợ một lá cờ biểu tượng của hai vị vua, lá cờ vàng ba sọc đỏ, một lá cờ của cả dân tộc, một lá cờ của lòng yêu nước chống ngoại xâm. Cộng sản sẽ mừng lắm, nếu như lá cờ đó của vua Bảo Đại chẳng hạn.
Về ý nghĩa của lá cờ vàng ba sọc đỏ, theo giáo sư Nguyễn Ngọc Huy thì:
“ …quan niệm cổ của dân tộc Việt Nam, màu vàng thuộc hành thổ và màu đỏ thuộc hành hỏa và vì hỏa sanh thổ nên hai màu này rất hợp với nhau. …, ba sọc đỏ nhỏ như những tia nắng rọi xuống một mặt đất rộng rãi làm cho mặt đất này ấm áp và có điều kiện thuận lợi cho cây cỏ mọc lên được”. “…nền vàng tượng trưng cho quốc gia và dân tộc Việt Nam nói chung và ba sọc đỏ tượng trưng cho ba kỳ. Vậy, ba sọc đỏ nằm trên nền vàng hàm ý là nước Việt Nam gồm cả ba kỳ và dân tộc Việt Nam gồm người của cả ba kỳ. »
Ngược với lá cờ đỏ sao vàng được mang từ nước ngoài, từ một chủ nghĩa ngoại lai thì lá cờ vàng được sinh ra tại Việt Nam với đầy đủ bản tính dân tộc, thống nhất và độc lập. Hai vị vua cũng sẵn sàng từ bỏ ngai vàng để đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập cùng lá cờ.
Không thể hủy diệt danh tiếng của hai vị vua, cộng sản tìm mọi cách xóa đi dấu vết của lá cờ vàng. Chẳng những chương trình giáo dục không nói đến lịch sử lá cờ vàng ba sọc đỏ, mà cộng sản tuyên truyền rằng lá cờ chỉ là của VNCH và còn tìm mọi cách xóa dấu vết lai lịch của nó trên cả internet.
Cờ vàng ba sọc đỏ đã bay phấp phới trước của Toàn quyền ở Hà Nội năm 1953, khi mà VNCH chưa ra đời và Việt Minh vẫn còn ở trên rừng.
Trên trang wiki « Quốc kỳ Việt Nam », giai đoạn Liên Bang Đông Dương 1883-1945 đáng ra có 3 lá cờ của triều đình Việt Nam là Đại Nam kỳ (1885 – 1890), Cờ vàng ba sọc đỏ (1890-1920) và Long tinh kỳ (1920 – 1945) cùng những lời giới thiệu các vua đương thời, nhưng chỉ có hai lá cờ Đại Nam Kỳ và Long Tinh Kỳ hiển thị và không có một chữ nào nói về hai vua Thành Thái và Duy Tân. Trang này bị cộng sản lũng đoạn và khóa lại, không ai có thể sửa đổi bổ sung hai vị vua và lá cờ vàng ba sọc đỏ. Một bằng chứng của sự bóp méo lịch sử và thủ đoạn lừa dối dân tộc cũng như có thái độ coi thường hai vị vua yêu nước Thành Thái và Duy Tân.
Chỉ có những kẻ bán nước mới lo sợ một lá cờ yêu nước, một lá cờ của dân tộc, một lá cờ của người Việt Nam.
Cách đây không lâu, cũng trang này, nhưng phần tiếng Anh còn nguyên các lá cờ trong một bảng (như của Scots), nhưng khi có tố cáo bên tiếng Việt bỏ cờ vàng của hai vị vua và bằng chứng nằm ở bên tiếng Anh, thì cộng sản đã vào trang tiếng Anh tháo những lá cờ đó xuống.
Vì vậy trong bài này có copy tất cả các trang tiếng khác có nói rõ cờ vàng ba sọc đỏ là cờ từ thời hai vị vua Thành Thái và Duy Tân phòng khi cộng sản tìm cách sửa chúng, bóp méo sự thực. Ngay cả trang tiếng Việt cũng được copy lại làm bằng chứng cộng sản giấu nhẹm cờ vàng ba sọc đỏ và hai vị vua trong giai đoạn 1890-1920.
Chiếm VNCH bằng vũ lực, nhưng không chiếm được lòng dân, nên cộng sản sợ lá cờ vàng. Cộng hoà Liên bang Đức thống nhất với Cộng hoà Dân chủ Đức bằng con đường hoà bình qua bầu cử và trưng cầu ý dân, nên không một giọt máu bị đổ. Cờ của Cộng hoà Dân chủ Đức vẫn được những người yêu thích trưng bày như họ muốn. Ví dụ hình chiếc xe Trabant, biểu tượng của ngành xe hơi Đông Đức với quốc kỳ Đông Đức vẫn chạy ngay trên đường phố Tây Berlin hơn 10 năm sau ngày thống nhất. Nhà xuất bản Neues Deutschland của đảng SED cầm quyền Đông Đức (tương đương với tờ Nhân Dân của đảng cộng sản Việt Nam) vẫn tồn tại. (những hình cuối cùng).
Các hình kèm theo : vua Thành Thái, vua Duy Tân, trang mạng cờ vàng : worldstatesmen, belarus, catalan, Trung Quốc, scots 1-2, Anh, Pháp, Nhật, Nga, Sloven, Thái 1-2, Ukrain, …, , và riêng trang tiếng Việt thì cờ vàng ba sọc đỏ của hai vua bị đục bỏ, cũng như không một lời nào về hai vị.




Phần 2: cờ đỏ sao vàng và nguồn gốc của nó
Theo những gì ghi trên wiki (http://vi.wikipedia.org/wiki/Quốc_kỳ_Việt_Nam) thì : nguyên mẫu của quốc kỳ Việt Nam hiện nay được ghi nhận xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23 tháng 11 năm 1940. Tuy nhiên, dù đã tồn tại hơn 70 năm nhưng tác giả của lá cờ vẫn không được xác định một cách chính xác.
Có hai giả thuyết được đưa ra :
– Từ năm 1976, theo tìm hiểu của nhà văn Sơn Tùng, lá cờ này đã được dùng lần đầu tiên trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940 và tác giả là ông Nguyễn Hữu Tiến, lúc đó thường được gọi là « ông Hai Bắc Kỳ »
Tuy nhiên, trong công văn số 1393/VHTT-BTCM do Thứ trưởng Bộ Văn hóa – thông tin Lưu Trần Tiêu ký ngày 18 tháng 4 năm 2001 có ghi: « Tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh đều không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc »
– Quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy mẫu từ hiệu kỳ Cờ đỏ sao vàng (hay còn gọi là cờ sao mai) của Mặt trận Việt Minh ở Bắc kỳ từ trước tháng 8 năm 1945. Theo Võ Nguyên Giáp, hiệu kỳ này do Hồ Chí Minh mang về từ nước ngoài và được chính thức treo lần đầu tiên vào ngày « 19/5/1941, lá cờ được treo giữa hang Pắc Bó, khai mạc Hội nghị thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội »[4]. Vào năm 1944, Văn Cao sáng tác Tiến quân ca, tuy trong ca khúc có những câu như « …Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,… Sao vàng phấp phới… » nhưng lúc đó ông cũng chưa thấy lá cờ mà chỉ tưởng tượng ra.
Trong hai khả năng trên, thì đảng CSVN đã không công nhận giả thuyết thứ nhất. Chỉ còn giả thuyết thứ hai là cờ đỏ sao vàng được Hồ Chí Minh mang từ nước ngoài về. Nước ngoài, ở đây được hiểu là Trung Quốc, vì Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở Trung Quốc cho đến khi quay về Việt Nam. Mà ông ta cũng chỉ ở lại Việt Nam không lâu rồi lại sang Trung Quốc. Chỉ sau 08/1945 thì Hồ Chí Minh mới ở lại Việt Nam thường xuyên.
Lá cờ là chuyện quan trọng, vậy mà tại sao nó lại không được xác định cho đến tận những năm 80, khi có người đặt vấn đề. Chắc hẳn, những người cộng sản quen thói áp đặt lên người dân những gì mà họ nghĩ ra hay mang từ ngoại quốc về, theo kiểu dân chủ của họ, nên qua bằng đó năm họ mới phải đứng trước vấn đề « đẽo chân cho vừa giày » đối với lá cờ đỏ.
Cũng nên biết, vào những năm 80 thì những người cộng sản có chức vụ lớn trong giai đoạn Nam Kỳ khởi nghĩa đều còn sống như Trường Chinh (Xứ Ủy viên Bắc Kỳ 36-39, Tổng bí thư 41), Lê Duẩn (Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Ban thường vụ Trung ương Đảng), Võ Nguyên Giáp (Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ, dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long 39-40) … Không nhẽ những người này, chẳng phải mù chữ, cũng không biết gì về cờ đỏ sao vàng trong Nam Kỳ khởi nghĩa hay sao. Chỉ có thể giải thích được là lá cờ này không tồn tại lúc đó. Cờ búa liềm thì có, vì theo cờ của Liên Xô, mà Trần Phú, Lê Hồng Phong, …, đã có cơ hội được biết.
Cho đến khi bị hỏi, những người cộng sản mới bắt đầu tưởng tượng, nền đỏ là máu, ngôi sao năm cánh cho « sĩ, nông, công, binh, thương ». Nhưng giả thiết này không thể đứng vững.
Tại sao, những người cộng sản lại phải quanh co kiếm cách giải thích để tránh bị tố cáo lá cờ của họ do thế lực ngoại bang (Trung Quốc) giao cho Hồ Chí Minh mang về áp đặt lên đất Việt. Vì lúc này, trên mạng người ta phát hiện ra lá cờ đỏ sao vàng đó là phiên bản của cờ cộng sản Phúc Kiến (1933-1934). Có thể không hoàn toàn 100% nhưng cũng không xa. Cũng là nền đỏ, cũng sao vàng có cánh dày. Mãi đến 1955, CSVN mới đổi lá cờ lại cho cánh của nó thanh hơn, không loại trừ để xóa giấu vết nguồn gốc Phúc Kiến.
Giả thuyết lá cờ đỏ xuất phát từ cộng sản Trung Quốc có cơ sở hơn là giả thuyết mà CSVN đưa ra do họ tự nghĩ « sĩ, nông, công, binh, thương ». Bởi vì từ khi đảng CSVN được thành lập, mục tiêu của họ là « trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ », ngay từ phong trào xô viết Nghệ Tĩnh, qua Cải cách ruộng đất cho đến nay. Sĩ phu hay trí thức đều là mục tiêu cần phải diệt mà cộng sản đề ra. Trí thức và cộng sản không bao giờ đi với nhau. Khi con người có trí thức thì người ta sẽ biết cộng sản là kẻ cản sự phát triển của nhân loại. Để tồn tại, cộng sản tiêu diệt trí thức nhằm thực hiệc chính sách ngu dân đăng dễ cai trị họ. Vậy thì hà cớ gì mà cộng sản lại dành một cách sao cho kẻ thù của họ là « trí thức ». Cứ coi Nhân Văn Giai Phẩm thì biết, đến 1954-1956 cộng sản đày đọa cánh sao « sĩ » của sao vàng ra sao. Đến nay, thử hỏi đã có ai thực sự là trí thức được cộng sản tín nhiệm hay còn cộng tác với cộng sản sau khi thấy rõ bản chất cộng sản. Từ Phan Khôi, qua Nguyễn Mạnh Tường đến Trần Đức Thảo, …, bị trù dập đến cuối đời.
Một vấn đề quan trọng khác, « binh » là một trong 5 cánh sao. « Binh » là binh lính, có nghĩa thuộc quân đội chính quy cho dù có thể chỉ có vũ khí đơn sơ. Nếu không thì chỉ cùng lắm như dạng dân quân, du kích, …, tức là dân có vũ khí. Vào thời Nam Kỳ khởi nghĩa, không người Việt nào có khái niệm đến quân đội trong lá cờ, vì làm gì có người lính nào. Ngay cả quân đội Việt Nam cũng chỉ ra đời ngày 22/12/1944, với hơn 30 người. Như vậy, ý niệm quân đội là một trong năm cánh sao chỉ là đẽo chân cho vừa cái giày hợp với lá cờ được mang từ nước ngoài về. Cờ Liên Xô không có sao vàng. Cờ Phúc Kiến thì có và Mao cũng đã có quân đội chính quy : Bát lộ quân. Điều này phải chăng thêm một giải thích Hồ Chí Minh vác cờ của Mao về Việt Nam.
Và cuối cùng « thương » là thương nhân. Có ai nghĩ rằng cộng sản lại đội lên mặt họ « thương nhân » không? Thương nhân bị tiêu diệt trong xã hội cộng sản. Họ bị coi là ăn bám, bóc lột vì không làm ra sản phẩm. Mua bán dưới chế độ XHCN đều qua cửa hàng mậu dịch nhà nước. Ngăn sông cấm chợ, cũng là những biện pháp thủ tiêu thương nhân. Chỉ cuối những năm 80, thương nhân nhỏ mới được phép hành nghề.
Ngoài « công » và « nông », 3 cánh sao mà cộng sản áp đặt là « sĩ », « binh » và « thương » cho một lá cờ tưởng tượng thời Nam Kỳ khởi nghĩa là hoàn toàn vô căn cứ, phản lại chính sách của họ « trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ », vượt qua sự hiểu biết của họ về quân đội vào lúc đó và nói dối lòng căm thù của họ với « thương nhân ».
Từ trên cho thấy, giả thuyết duy nhất chấp nhận được là : năm 1941, Hồ Chí Minh đã mang cờ đỏ sao vàng của Mao về áp đặt lên đầu người Việt.
Dưới đây là các hình : « trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ » năm 1931 (trang Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh) và năm 1954-1956 Cải cách ruộng đất, một lá cờ Trung Quốc với sao vàng cánh dày (như cờ đỏ trước năm 1955, mà không nước nào trên thế giới có), cờ đỏ Việt Nam (1945-1955 cánh dày).
Nếu như có người còn nghi ngờ wiki bị sửa đổi, thì đây là báo Tiền Phong và Tuổi trẻ không phải của lề trái có ghi rõ ràng.
Không ai biết cờ Nam kỳ sao bao nhiêu cánh, nằm ở chỗ nào. Trừ ông Hồ chợt nghĩ ngay ra cách làm sao 5 cánh dày đặt giữa cờ y trang … cờ Phúc Kiến.
Trắng trợn bịa đặt hơn nữa tờ http://infonet.vn/y-nghia-lich-su-cua-quoc-ky-va-quoc-ca-vi… viết :
Bà Nguyễn Thị Xu – Con gái liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến ngậm ngùi: “Khi còn đang hoạt động thì bố tôi vẽ ra mẫu cờ Tổ quốc nên bị bắt tù đầy. Rồi cụ mất lúc tôi hãy còn bé nên không gặp bố lần nào nữa. Ông Văn Cao và ông Sơn Tùng cũng về 1, 2 lần và mang cái ảnh cụ tôi vẽ ra lá cờ Tổ quốc”.
Trong khi công văn số 1393/VHTT-BTCM do Thứ trưởng Bộ Văn hóa – thông tin Lưu Trần Tiêu ký ngày 18-4-2001 khẳng định: “Tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh đều không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc”.
Cờ đỏ sao vàng – bằng chứng dã tâm Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam
Cờ đỏ xuất hiện ở Phúc Kiến năm 1933-1934. Năm 1936, Mao khi còn chưa thắng Tưởng nhưng đã tuyên bố sẽ tiến xuống phía Nam (bán đảo Đông Dương, Thái Lan, …). Năm 1941, Hồ Chí Minh mang lá cờ (giống 100%) Phúc Kiến về Việt Nam.
Vào năm 2002, trang mạng worldstatesmen chấm org là một trang mạng lưu trữ những di tích chi tiết về lịch sử đã đưa ra tiểu sử những lá cờ của Trung Quốc. Một trong những lá cờ Trung Quốc thuộc Tỉnh Phúc Kiến. Lá cờ đại diện cho Chủ Tịch Phúc Kiến có từ năm 1933 – 1934 là cờ mà Hồ Chí Minh đã mang về Việt Nam.
« Chairman of the People’s Government (at Fuzhou) 21 Nov 1933 – 21 Jan 1934 Li Jishen (b. 1884 – d. 1959) »
Sau khi dân mạng tìm thấy được lá cờ của Tỉnh Phúc Kiến thì vấn đề nầy được đưa lên rầm rộ trên các diễn đàn, các blogs cá nhân thì lá cờ này bị rút khỏi trang mạng worldstatesmen nhằm che giấu chứng tích lịch sử nầy.
Lá cờ Tỉnh Phúc Kiến và cũng là cờ đỏ sao vàng được trưng bày trên worldstatesmen được vài tháng sau thì bị biến mất.
Hiện trang http://www.worldstatesmen.org/China.html không còn nhìn thấy lá cờ Phúc Kiến, nhưng nó được lưu lại trong các trang cũ của nó (history)
Một trong những trang cũ đó là trang ngày 10/10/2002:http://web.archive.org/…/htt…//worldstatesmen.org/China.html
Sau khi con bài Lê Hữu Tiến, mà Tuyên giáo và các dự luận viên dựa vào để đi tuyên truyền, bị vạch mặt, thì con bài khác là Lê Quang Sô được thay thế là « tác giả » lá cờ, như Lê Lai cứu chúa cho Hồ Chí Minh.
Nhưng, chẳng còn ai tin vào thông tin của đảng nữa. Phải chăng, cũng vì lá cờ đỏ từ Phúc Kiến sang Việt nam mà Dương Khiết Trì gọi ĐCSVN là đứa con hoang?




Phần 3: Hồ Chí Minh (HCM), biểu tượng của đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) – vượt biên cứu … bản thân
HCM, trong bài này được coi là Nguyễn Sinh Cuông, có một tiểu sử bất minh, ngày sinh cũng như ngày chết bị sửa đi lại nhiều lần, nghĩa là dọc cuộc đời.
Cha HCM là Nguyễn Sinh Sắc, do bị tội ngộ sát mà bị triều đình lột chức quan tri huyện. Ông Sắc say rượu và sai nha lính đánh chết một người tù. Đáng ra ông Sắc bị đánh thêm, nhưng có người xin cho được miễn.
Dù là một chế độ phong kiến và dưới thời Pháp thuộc, nhưng luật được tôn trọng hơn thời XHCN ngày nay đối với quan lại lạm dụng đến trở thành tội phạm.
Lịch sử ĐCSVN bóp méo sự thực và tuyên truyền ông Sắc vì hoạt động cách mạng mà bị sa thải.
Do cha bị sa thải, mà HCM không còn điều kiện để học thêm, nên đã ung dung xuống tàu xin việc để sang Pháp. Chiếc tàu của Pháp kiên cố hàng ngàn lần những thuyền, mủng. Hành động này của HCM chẳng chứng tỏ lòng dũng cảm so với hàng triệu thuyền nhân chạy công an, bị bỏ tù, đút tiền, bị bão gió, bị hải tặc, bị đói khát.
Đặt chân tới Pháp, việc làm « cách mạng » đầu tiên của HCM là xin vào trường Thuộc địa, nơi đào tạo quan lại, ngang Tri huyện cho Việt Nam, tức ngang chức của ông Sắc khi bị đuổi. (2 hình thư kèm)
Đơn xin học của HCM cũng là bằng chứng đầu tiên bất minh tiểu sử. HCM khi xin học, nói sinh 1892. Trong khi đó : năm 1920, HCM khai với một quận cảnh sát tại Paris ngày sinh của mình là 15 tháng 1 năm 1894 và theo một tài liệu do Phòng nhì Pháp lập năm 1931, có sự xác nhận của một số nhân chứng làng Kim Liên, quê nội của HCM, thì HCM sinh tháng 4 năm 1894.
Nhiều tài liệu, nói HCM học trường College, nhưng chưa học Thành chung. Có nghĩa là phải thêm một năm nữa mới hết cấp II. College tiếng Pháp là cấp II, chứ không phải là trường Đại học theo hệ Mỹ là điều mà DLV quảng cáo.
Việc làm « cách mạng » tiếp theo của HCM là gửi thư từ Mỹ về Việt Nam xin phục hồi chức và trợ cấp (welfare) cho cha. (hình thư kèm)
http://www.bbc.co.uk/…/print…/030902_hcm_missing_years.shtml
BBC:Cuốn sách của bà mở đầu bằng hội nghị hòa bình tại Paris năm 1919 khi lần đầu tiên ông Hồ Chí Minh – mà lúc này có tên Nguyễn Ái Quốc – được nhiều người biết tới. Vậy trước giai đoạn này chúng ta có biết gì nhiều về hoạt động của ông, đặc biệt là việc người cha của ông có ảnh hưởng thế nào đến ông không?
Sophie Quinn-Judge (đại học LSE, London, tác giả « Hochiminh: The missing years ») : Cha của ông Hồ là một nhân vật rất đáng chú ý và tôi hi vọng sẽ có thêm tài liệu nghiên cứu tiếng Việt để hiểu rõ hơn thân thế của người này. Nhưng rõ ràng là việc người cha bị thất sủng, không còn là quan cấp tỉnh trong chế độ Pháp đã có tác động đến cuộc sống ông Hồ.
Bởi sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị miễn nhiệm tại tỉnh Bình Định, con ông Nguyễn Tất Thành buộc phải thôi học ở trường Quốc học Huế và trở thành thầy giáo tại Phan Thiết. Rồi ông vào Nam và như mọi người đều biết, ông đi Pháp năm 1911.
Nếu cha ông vẫn còn tại chức, thì có lẽ người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã tiếp tục đi học ở Huế và sự nghiệp chống thực dân của ông có thể đã ngả sang một hướng khác. Chúng ta không biết chắc, nhưng những hoàn cảnh bên ngoài đã buộc ông phải ra nước ngoài.


Phần 4: Hồ Chí Minh (HCM), biểu tượng của đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) – người cướp công của cả nhóm Nguyễn Ái Quốc.
Lịch sử do ĐCSVN cùng với cuốn sách tự thêu dệt và tự ca ngợi mình của HCM dưới bút danh Trần Dân Tiên « Những Mẩu Chuyện Về Cuộc Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch », luôn viết rằng dân Việt ngỡ ngàng khi biết HCM là Nguyễn Ái Quốc lừng danh.
Nhưng, cho đến nay vẫn còn rất nhiều người không biết, Nguyễn Ái Quốc là một nhóm 5 người, gồm 4 vị có tên tuổi với trình độ hơn người và Nguyễn Tất Thành.
Từ Thuỵ Khuê trên đài phát thanh quốc tế của Pháp: http://vi.rfi.fr/…/20100905-phan-xv-phan-khoi-chuong-1a-nh…/
Hội Người An Nam Yêu Nước ra đời (khoảng 1916). Một bút hiệu mới xuất hiện: Nguyễn Ái Quấc, tên chung của Nhóm Ngũ Long (Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Tất Thành). Ngòi bút Nguyễn Ái Quấc hoạt động mạnh từ giữa năm 1919 đến 1923, trên các báo tại Paris, đặc biệt trên tờ Le Paria từ 1922 đến 1925.
1 – Phan Châu Trinh(1872-1926)
Phan Châu Trinh sinh ngày 9/9/1872, tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Cha là Phan Văn Bình, một võ quan ở biên giới vùng núi. Thiếu thời, Phan theo cha học võ và tham dự phong trào Cần Vương. Năm 1887, cha bị lãnh đạo nghi ngờ và xử tử. Phan được anh cả là Phan Văn Cừ trông nom, trở về đi học. Đậu cử nhân năm 1900, phó bảng năm 1901. Bạn học cùng khoá với Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Đình Hiến, Ngô Đức Kế, Nguyễn Sinh Huy (cha của Nguyễn Tất Thành). Tất cả đều đỗ đạt cao. Năm 1903, Phan được bổ Thừa biện Bộ Lễ. Nhưng ông chỉ làm việc hơn một năm rồi xin từ chức.
2 – Phan Văn Trường (1878- 1933)
Phan Văn Trường là nhà trí thức có công xây dựng nền móng đầu tiên của phong trào Việt kiều yêu nước tại Pháp. Nhưng công lao của ông hầu như ít ai biết đến. Ông lại mất từ năm 1933, cho nên sau này, mọi việc ông làm được gán cho Hồ Chí Minh, mà hầu như không có ai phản biện.
Phan Văn Trường sinh năm 1878 tại làng Đông Ngạc, tỉnh Hà Đông. Học trường dòng, rồi trường thông ngôn. Làm thông ngôn cho Toà Sứ. 1908, đậu ngạch tham tá, biệt phái sang Paris làm giáo sư phụ giảng tiếng Việt (Répétiteur d’Annamite) tại trường Ngôn ngữ Đông phương (Ecole des Langues Orientales) và học Luật. 1912, xong cử nhân, ông ghi tên vào luật sư đoàn, tập sự tại toà Thượng Thẩm Paris.
1912, ông lập hội Đồng bào Thân ái, cơ sở đầu tiên của người Việt yêu nước tại Paris.
3 – Nguyễn Thế Truyền (1898-1969)
Nguyễn Thế Truyền sinh ngày 17/12/1898 tại làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng. Cha là Nguyễn Duy Nhạc. Ông là Nguyễn Duy Hàn, tuần phủ Thái Bình, bị hạ sát ngày 12/4/1913, vì bom của Phan Văn Tráng, trong Quang Phục Hội (Phan Bội Châu). Năm 1910, Truyền 12 tuổi, được phó công sứ Thái Bình Dupuy đem về Pháp du học. Vào nội trú trường Parangon (Joinville le Pont, ngoại ô Paris) trực thuộc Alliances françaises do André Salles, cựu thanh tra thuộc địa làm giám đốc. Theo Phan Văn Trường, trường Parangon có mục đích đào tạo những trẻ em thuộc địa để trở thành những « công dân tốt » trung thành với mẫu quốc. Là học sinh xuất sắc, Nguyễn Thế Truyền liên tiếp được học bổng của Alliances françaises từ 1913 đến 1922. Năm 1915, đậu Brevet Supérieur, về nước một năm, học thêm Hán văn, rồi trở lại Pháp học tiếp kỹ sư hóa học (1916-1920) ở Toulouse. 1920, tốt nghiệp, về nước một năm, học tiếp Hán văn. Tháng 8/1921 trở lại Paris, sửa soạn luận án tiến sĩ, học thêm triết (đậu cử nhân triết năm 1922).
4 – Nguyễn An Ninh (1900-1943)
Nguyễn An Ninh sinh ngày 5/9/1900 tại Chợ lớn. Là con và cháu của hai nhà cách mạng: Cha là Nguyễn An Khương,chú là Nguyễn An Cư, và cô ruột, đều là những nhà cách mạng. Nguyễn An Khương, đại diện Đông Kinh Nghiã Thục, lập khách sạn Chiêu Nam lầu để tài trợ cho phong trào Duy tân và Đông du. Dịch sách chữ Hán sang tiếng Việt. Viết bài trên Nông Cổ Mím-Đàm kêu gọi lòng yêu nước. Nguyễn An Cư, là nhà văn, nhà nho uyên thâm, thày thuốc Nam nổi tiếng. Gia đình gốc ở Quán Tre, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (Sàigòn).
Nguyễn An Ninh tiếp nhận hai nền giáo dục từ nhỏ: Hán học, do cha và cô ruột dạy và Pháp văn: học trường Sở Cọp (ngang vườn bách thú), rồi trường dòng Taberd, và lycée Chasseloup Laubat. Làm báo tiếng Pháp rất sớm khi vừa xong bằng Brevet Élémentaire (Sơ học). Nổi tiếng bất khuất, chửi Tây, đánh Tây. Thủa nhỏ có tật nói cà lăm, nhưng tự luyện khỏi cà lăm. Khi ở Paris, ngày nghỉ thường ra ngoại ô, vào rừng luyện giọng hàng giờ, sau trở thành nhà diễn thuyết hùng hồn, lôi cuốn. Năm 1916, ra Hà Nội học trường thuốc, sáu tháng sau bỏ thuốc qua Luật. Không đầy một năm sau, Ninh về Sàigòn rồi sang Pháp học tiếp Luật. Đó là năm 1918 (theo Phương Lan-Bùi Thế Mỹ, Hồ Hữu Tường và Lê Văn Thử). « Ninh sang Pháp du học vào năm 1918, lúc Đức Quốc đã thua trận. Đến năm 1920, đã đoạt được bằng Cử Nhân Luật, vào lúc mới 20 tuổi » (Phương Lan- Bùi Thế Mỹ, trang 11)
Đêm 15/10/1923, Nguyễn An Ninh diễn thuyết ở hội Khuyến học Sàigòn, bài Cao Vọng Thanh niên, có tiếng vang lớn, Thống đốc Nam Kỳ gọi Ninh lên cảnh cáo.
Ngày 10/12/1923, phát hành số 1, báo La Cloche fêlée (Chuông rè) do Nguyễn An Ninh sáng lập, Jean de la Bâtie (Lê Văn Thử ghi Dejean de la Bâtie), làm chủ nhiệm. Bâtie sẽ là thày dạy tiếng Pháp cho Phan Khôi. Việc Phan Khôi bị mật thám theo dõi phải lánh xuống Cà Mau ba năm trong khoảng thời gian này, chắc có liên quan tới báo Chuông rè.
Nguyễn An Ninh còn là người anh cả nếu không muốn nói là cha đẻ của phong trào cách mạng thanh niên, chủ yếu nhóm Trốt-kít, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Huỳnh Văn Phương… những thanh niên học trường Tây, sử dụng ngôn ngữ Voltaire, dùng tinh thần cách mạng 1789 để chống thực dân Pháp tại Pháp và tại Nam Kỳ, trong suốt 25 năm, từ 1920 đến 1945.
5 – Nguyễn Tất Thành (1890-1969)
Khác hẳn với các nhà cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, là có chủ đích rõ ràng. Chủ đích đó không phục vụ sự thật, như Phan Bội Châu viết Ngục Trung Thư hay Tự Phán: thật như đếm, sai lầm của mình cũng viết, ý kiến nào do Nguyễn Thành hay Lương Khải Siêu nghĩ ra cũng nói rõ.
Hồ Chí Minh không ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của ông. Đó là sự cách biệt sâu xa về nhân cách giữa hai nhà cách mạng. Lời Phan Khôi dặn con: « Khi con gái của Mác hỏi cha thích tính gì nhất? Mác đã trả lời: tính thật thà! » (Phan Thị Thái, Nhớ cha tôi học giả Phan Khôi, Kiến thức ngày nay, tháng 12/1996), là một chúc thư mà cũng là một lời cảnh cáo Hồ Chí Minh về toàn diện lịch sử mờ ám của ông.
————
Lời bàn:
Nguyễn Tất Thành sang Pháp ở đậu nhà luật sư Phan Văn Trường, được Phó bảng Phan Chu Trinh dạy nghề việc chân tay, được bác sĩ Nguyễn Thế Truyền giúp đỡ và gửi sang Liên Xô và được cả nhà báo Nguyễn An Ninh dạy tiếng Pháp.
Toàn bộ các tác phẩm nổi tiếng bằng tiếng Pháp của nhóm Nguyễn Ái Quốc đều được cho là do Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền viết.
Việc Nguyễn Tất Thành được cử đi giao « Thỉnh nguyện thư 8 điểm », như một người đi phân phát báo của một Toà soạn, mà nhận hết kết quả của cà Ban biên tập, thì còn trên cơ hàng ngàn lần những kẻ đạo văn cho cả quyển.
Khi đi giao « Thỉnh nguyện thư 8 điểm », chưa hẳn Nguyễn Tất Thành đã hiểu hết nội dung của nó:
1- Ân xá toàn thể chính trị phạm Việt Nam.
2- Cải cách nền pháp lý Đông Dương, cho người Việt Nam cũng được bảo đảm về mặt pháp lý như người Âu, bỏ hẳn Tòa án đặc biệt, công cụ để khủng bố những người Việt Nam lương thiện nhất.
3- Tự do báo chí và tự do tư tưởng.
4- Tự do lập hội và tự do hội họp.
5- Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do ra nước ngoài.
6- Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh.
7- Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp.
8- Phải có đại biểu thường trực người Việt Nam do người bản xứ bầu ra, ở bên cạnh Nghị viện Pháp để trình bày nguyện vọng của người bản xứ”.
Bởi vì sau khi cướp được chính quyền từ Chính phủ Trần Trọng Kim, ĐCSVN dưới quyền HCM trong 24 năm đến 1969 và với những kẻ khác cho đến nay, không có một điểm nào trong 8 điểm trên được thoả mãn. Thậm trí chế độ XHCN còn tệ hại hơn rất nhiều so với chế độ phong kiến thuộc địa thực dân.
Ví dụ, báo chí tư nhân, tự do ứng cử và tự do mít tinh, biểu tình:
Nguyễn An Ninh cho ra tờ báo Pháp văn La cloche fêlée (Tiếng chuông rè, có người dịch Tiếng chuông rạn) ở Sài Gòn để công kích chính sách thực dân Pháp, đề cao các nhà cách mạng, làm cho người đọc tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc và truyền bá những tư tưởng tự do (số đầu tiên ra ngày 10 tháng 12 năm 1923)
Cuối năm 1925, sau khi Luật sư Phan Văn Trường (1875-1933) về nước, cho khôi phục lại Tiếng chuông rè, có ông Ninh cộng tác. Từ đây, khuynh hướng của tờ báo chống thực dân theo quan điểm chủ nghĩa Marx-Lenin rõ rệt.
Năm 1931, Nguyễn An Ninh viết cho tờ Trung Lập của Nguyễn Văn Tạo (1908-1970), cho tờ Tranh đấu của nhóm Tạ Thu Thâu (1906-1946), Trần Văn Thạch (1905-1946), Phan Văn Hùm (1902-1946).
Năm 1939, ông Ninh viết cho báo Dân Chúng, góp phần tổ chức nhiều cuộc biểu tình đòi các quyền tự do dân chủ, ra ứng cử vào Hội đồng Quản hạt (Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ).
Ngày 4/4/1926, lễ quốc tang nhà chí sĩ Phan Chu Trinh trở thành cuộc vận động xuống đường vĩ đại với 60,000 – 100,000 người dân Sài Gòn tham dự (năm 1945, thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn có dân số là 500.000). Báo chí tư nhân đưa tin và bình luận, mà chính quyền phong kiến cũng như thuộc địa không làm bất cứ gì để cản trở. Ngược lại, lễ tang của Trần Độ hay Hoàng Minh Chính cho đến Bùi Ngọc Tấn, bị chính quyền, tự vỗ ngực là của dân, phá tan nát.
Phần 5: Chính phủ Trần Trọng Kim với một nước Việt Nam độc lập toàn vẹn lãnh thổ
Cộng sản đã tuyên bố cướp chính quyền năm 1945. Điều đó có nghĩa là Việt nam khi đó có một chính quyền thực sự rồi bị cộng sản cướp. Chứ không có tình trạng vô Chính phủ. Để có tiếng chính danh, cộng sản không ngừng bôi nhọ Chính phủ Trần Trọng Kim, nào là bù nhìn của Nhật, nào là không làm gì cho dân cho nước.
Ngày nay, thế hệ trẻ cũng bị nhồi sọ mà cho rằng Chính phủ Trần Trọng Kim hoặc không tồn tại, hoặc không đáng tồn tại mà phải để chỗ cho cộng sản.
Nhưng, lịch sử thì không thể bị bóp méo. Một trong những bằng chứng về những gì Chính phủ Trần Trọng Kim đã làm lại từ chính tờ báo của chính quyền cộng sản đăng lên. Đó là tờ Văn hóa Nghệ An:http://vanhoanghean.com.vn/…/hue-nam-1945-va-chinh-phu-tran…*
…Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong một hoàn cảnh rất tình cờ của lịch sử, không do kết quả tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một đảng phái hay một phong trào chính trị nào. Sau gần một thế kỉ bị Pháp đô hộ, lần đầu tiên nước Việt Nam được độc lập(dù mới chỉ một phần) mà không phải hi sinh xương máu.
Việt Nam được độc lập (dù mới chỉ một phần) mà không phải hi sinh xương máu. Đó là một tình thế lý tưởng, còn hơn cả Ấn Độ tuy cũng không hi sinh sương máu nhưng phải 2 năm sau đó, 1947.
Cộng sản đã thí bao nhiêu dân để có được một cái « độc lập » trong vòng tay của quốc tế cộng sản?
Chính phủ Nhật giữ Bảo Đại nhưng không muốn giữ Phạm Quỳnh vì ông là người bị coi là thân Pháp. Thật ra, Phạm Quỳnh là một học giả yêu nước nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hoà, chủ trương rằng Việt Nam thời đó không thể chống nổi Pháp nên cần phải học hỏi văn minh Tây phương qua văn hoá Pháp để dần dần đòi lại quyền tự chủ.
Chính vì là « một học giả, yêu nước nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hoà, chủ trương … dần dần đòi lại quyền tự chủ », mà Phạm Quỳnh đã bị Hồ giết. Đó cũng là số phận của bất cứ ai giỏi hơn Hồ, cho dù yêu nước, thương dân.
… sau ngày Nhật đầu hàng đồng minh, Đại sứ Yokohama thuật lại buổi yết kiến vua Bảo Đại để báo tin việc chính phủ Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và trao trả độc lập cho Việt Nam. Phạm Quỳnh hiện diện trong buổi tiếp kiến này yêu cầu Nhật Bản thừa nhận nền độc lập của Việt Nam một cách chính thức vì Pháp đã bị tước quyền bảo hộ. Ông nhấn mạnh rằng: « Để chúng tôi có thể hợp tác hữu hiệu với Nhật Bản, chúng tôi cần phải có được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân, và để đạt được điều đó, uy tín của chính phủ chúng tôi cần phải được tăng cường bằng một hành động long trọng tuyên cáo độc lập ». Yokohama trả lời rằng việc tuyên cáo độc lập để chứng tỏ chủ quyền là hành động nội bộ mà « Ngài có tự do tuyệt đối để hành động theo sự phán xét của chính phủ ngài ».
Phạm Quỳnh mong muốn có một Việt Nam độc lập và Nhật đã đồng ý. Như vậy không ai có thể lên án Phạm Quỳnh về vấn đề độc lập. Ngoại trừ, cộng sản tìm mọi cớ giết ông ta.
Đoạn dưới đây gói gọn những gì mà cộng sản đã làm để bôi nhọ Chính phủ Trần TRọng Kim:
Chính phủ Trần Trọng Kim thường không được nhắc nhở đến trong lịch sử tranh đấu giành độc lập cho dân tộc, hoặc nếu có thì cũng chỉ được coi như một chính phủ chuyển tiếp trong một thời gian ngắn ngủi không có thành tích gì đáng kể. Việt Minh thì dứt khoát lên án chính phủ Kim là « bù nhìn » do Nhật tạo ra và chỉ đem lại cho Việt Nam một nền « độc lập bánh vẽ ». Nhiều nhà lãnh đạo chính trị và tác giả ngoại quốc cũng đồng ý một cách thiếu thận trọng như thế. Đến nay, hơn nửa thế kỉ đã trôi qua, giai đoạn lịch sử này cần được xem xét lại một cách khách quan về tính chất chính đáng của chính phủ ấy.
Nhật đảo chính Pháp ngày 09/03/1945. Chỉ 2 ngày sau, 11/03/1945, vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập và Hiệp ước Việt – Pháp năm 1884 không còn hiệu lực vì Pháp không còn bảo hộ được cho Việt Nam.
Những lý do mà Việt Nam có thể độc lập mà không tốn xương máu đã thuyết phục Trần Trọng Kim nhận thành lập Chính phủ:
Luật sư Trịnh Đình Thảo, sau này là Chủ tịch của Liên minh Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình (LMDTDCHB) trong hệ thống Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (MTDTGPMN) cho biết Trần Trọng Kim « không tin ở sự thành thật của nhà cầm quyền người Nhật và lo ngại bị lôi cuốn vào những biến cố có hại cho tương lai của xứ sở » nhưng ông Thảo đã thuyết phục được ông Kim nhận lời yêu cầu của Bảo Đại với lý do « phải gấp rút thành lập chính phủ Việt Nam độc lập để đặt các lực lượng đồng minh, nhất là Pháp, trước một tình trạng pháp lý không thể đảo ngược bằng lời tuyên cáo hủy bỏ những hiệp ước Bảo hộ năm 1862 và 1874, tuyên cáo nước Việt Nam độc lập và thống nhất ».
Cộng sản đã làm gì so với Chính phủ Trần Trọng Kim?
1 – gây đổ máu, gây chiến tranh, tiêu diệt những người Việt yêu nước : Quốc dân đảng (vụ Ôn Như Hầu), Tạ Thu Thâu, … Tội lỗi đều do Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp gây nên.
2 – tạo điều kiện cho quân Pháp-Anh và Tưởng vào Việt Nam. Vì nếu Chính phủ Trần Trọng Kim còn tồn tại, thì nối tiếp của Bảo Đại có danh chính ngôn thuận và các Hiệp ước với Pháp cũng bị vô hiệu hóa.
3 – chia cắt đất nước, rồi rước Pháp từ Nam ra Bắc và lại xin vào Liên hiệp Pháp theo Hiệp ước sơ bộ Fontainebleau 06/03/1946.
Hãy coi Chính phủ Trần Trọng Kim mà cộng sản gọi là Chính phủ bù nhìn đã làm những gì:
Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong những điều kiện khó khăn về chính trị, an ninh và kinh tế như vậy. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Nội các, bên cạnh công tác khẩn cấp cứu trợ nạn đói ở miền Bắc đã làm ngót hai triệu người thiệt mạng, chính phủ Trần Trọng Kim đã ấn định một chương trình sáu điểm:
1. Chuyển giao tất cả các cơ sở hành chính cho các viên chức Việt Nam.
2. Thâu hồi đất Nam Kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp.
3. Ân xá toàn thể các phạm nhân chính trị.
4. Cho phép thành lập các đảng phái chính trị.
5. Miễn thuế cho công chức, thợ thuyền và dân nghèo.
6. Thiết lập các Uỷ ban tư vấn quốc gia để soạn thảo Hiến pháp và nghiên cứu cải tổ chính trị, hành chính và giáo dục.
Chỉ trong thời gian bốn tháng (từ 17 – 4 đến 16 – 8), chính phủ Kim đã thực hiện được gần hết chương trình này.
Chính phủ cũng cứu trợ nạn đói mà khẩn cấp nữa, đâu cần gì đến cộng sản.
Theo 2 điều đầu, thì đến 16/08/1945 Việt Nam đã gần như độc lập với đầy đủ các cơ quan hành chánh. Không tốn một viên đạn. Mà từ Móng Cái đến Cà Mau, chứ không chỉ một miền.
Những điều 3 đến 6 mà Chính phủ Trần Trọng Kim làm được khi đó, thì chỉ là mơ ước của người dân Việt hiện nay, tức là 68 năm sau với hàng triệu sinh mạng.
Bước tiến hay thụt lùi? cách mạng hay phản động? Có khó trả lời không?
Những thành quả của Chính phủ Trần Trọng Kim được tóm tắt:
« – Cứu đói: Bộ Tiếp tế do bác sĩ Nguyễn Hữu Thi cầm đầu nỗ lực điều động việc vận tải thóc từ Nam ra Bắc. … nhờ sự thành lập Tổng hội Cứu tế nạn đói để phối hợp hoạt động với những hội chẩn tế và những đoàn thanh niên cứu đói trên toàn quốc … số người chết vì nạn đói … (giảm rất nhiều) »
Vận động toàn quốc cứu đói. Cộng sản làm gì được hơn?
– Chủ quyền: Để biểu hiệu cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ, quốc hiệu « Việt Nam » chính thức thay thế cho quốc hiệu « An Nam » đang được sử dụng…. Ngày 1 – 8, Thủ tướng Kim phải đích thân từ kinh đô Huế ra Hà Nội gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi Yuitsu, không những yêu cầu trả ngay phần còn lại của lãnh thổ mà còn đòi luôn các công sở thuộc về phủ toàn quyền Pháp khi trước. Tất cả những đòi hỏi này đều được Tsuchihashi chấp thuận, và hai bên ấn định ngày trao trả Nam Bộ là 8 – 8 và ngày trao trả các công sở là một tuần sau đó. Cũng trong dịp gặp Tsuchihashi, Trần Trọng Kim đã được Nhật đồng ý chuyển giao lại các binh sĩ Việt Nam, cung cấp 4.000 khẩu súng mới và đạn dược để tổ chức đội quân bảo an.
Lấy lại toàn bộ chủ quyền trên cả nước. Mọi công sở đều thuộc về người Việt. Có tiềm năng quân đội mà Nhật chịu cung cấp vũ khí.Cũng xin nói ở đây. Nhiều người trẻ cho rằng An Nam là tên nước cho đến thời Pháp thuộc và HCM và đảng CSVN mới là kẻ khai sinh ra nước Việt Nam. Thì ở đây, chính Văn hóa Nghệ An của đảng CSVN công nhận, Chính phủ Trần Trọng Kim đã khai sinh ra tên nước Việt Nam.
– Cải tổ: Vốn là một nhà giáo dục, Trần Trọng Kim rất chú trọng đến việc cải tổ hệ thống giáo dục, bắt đầu bằng việc sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy. Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, không những là một nhà khoa học mà còn là một học giả uyên bác, đã hoạch định xây dựng một nền quốc học trên cơ sở dân tộc và tiến bộ, nhưng chưa kịp thi hành trong một nhiệm kỳ quá ngắn ngủi. Hệ thống và chương trình Trung học do ông soạn thảo đã được các chính phủ quốc gia tiếp tục áp dụng với đôi chút sửa đổi trong nhiều năm về sau.
Phổ cập tiếng Việt. Các chương trình giáo dục mà các Chính quyền sau này còn phải làm kim chỉ nam. Chính cộng sản cũng phải công nhận tài năng của Hoàng Xuân Hãn. So với chương trình của mấy người bẻ ghi xe lửa, y tá, hoạn lợn, …, thì một trời một vực.
– Về tư pháp, do đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo, Thủ tướng Kim ký nghị định ân xá ngày 2 – 5 với lệnh « Thả ngay tất cả các tù nhân chính trị » và ngày 8 – 5 thành lập Uỷ ban soạn thảo Hiến pháp trên căn bản thống nhất xứ sở, các quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn. Ngoài ra, miễn hay giảm 13 hạng thuế được thi hành dưới thời Pháp và Nhật.
Không có tù chính trị, tự do tôn giáo, nghiệp đoàn, Hiến pháp dân chủ … Đâu cần phải dân trí cao, cũng làm được cả đó. Tại sao bây giờ lại cấm dân vì cho rằng dân không đủ trình độ tự do tôn giáo, nghiệp đoàn, …?
– Chính trị: Với chủ trương « hợp nhất tất cả các phần tử quốc dân để củng cố độc lập của quốc gia và gây mạnh cái tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội, » …vinh danh các anh hùng dân tộc đã chiến thắng quân xâm lược và những nhà cách mạng đã hi sinh cho Tổ quốc, thay đổi tên đường phố và phá hủy những tượng đài biểu thị nền đô hộ của Pháp…khuyến khích thanh niên sinh viên tham gia các sinh hoạt chính trị, văn hoá, xã hội… Ngoài ra, chính phủ Kim cũng thực hiện tinh thần hoà giải và đoàn kết dân tộc, không phân biệt đảng phái, không chỉ bằng việc thả hết các chính trị phạm và kêu gọi họ hợp tác, mà còn can thiệp với Nhật để các thanh niên bị bắt về tội theo Việt Minh chống Nhật cũng được phóng thích.
Những kết quả trên đây cho thấy nội các Trần Trọng Kim, dù không phải là những chính trị gia có thành tích và kinh nghiệm, song đều là những nhà trí thức nhiệt tình với đất nước, hết lòng phục vụ cho quyền lợi chung của dân tộc, không tham nhũng, không chia rẽ bè phái, không tham quyền cố vị. Trước tình thế rối ren của Cách mạng Tháng Tám, Thủ tướng Kim được quân đội Nhật cho biết họ « còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân đội đồng minh đến thay, » nhưng ông đã từ chối yêu cầu Nhật bảo vệ chính phủ và muốn duy trì trật tự vì muốn tránh đổ máu và rối loạn.
Chính phủ Trần Trọng Kim có những phẩm chất gì? « trí thức nhiệt tình với đất nước, hết lòng phục vụ cho quyền lợi chung của dân tộc, không tham nhũng, không chia rẽ bè phái, không tham quyền cố vị ». Ai trong chính quyền hiện nay có một chút xíu của một trong các phẩm chất đó?
Chính phủ Trần Trọng Kim khuyến khích thanh niên tham gia chính trị, thì ngày nay chính trị là điều cấm kỵ chẳng những với thanh niên mà với mọi người dân. Thay vào đó là những trò nhảm nhí là ru ngủ thanh niên điều mà cộng sản lên án chế độ thuộc địa Pháp.
Chỉ vì lòng nhân ái, tránh đổ máu, mà Chính phủ Trần Trọng Kim đã không nhờ Nhật can thiệp diệt cỏ dại là cộng sản mà để lại hậu quả không thể lường là một Việt Nam rơi vào cảnh nồi da nấu thịt, một xã hội là một nhà tù lớn, một xã hội mà quyền con người chỉ còn là số không. Tóm lại, là một sự thụt lùi hàng trăm năm. Xã hội dưới thời Trần Trọng Kim là một thiên đường của người dân hiện nay.
Kết luận của bài viết trên báo Văn hóa Nghệ An phần nào trả lại cho Trần Trọng Kim những gì thuộc về Trần Trọng Kim và cũng qua đó gián tiếp những gì mà cộng sản đã phá qua kết quả cướp của họ:
Trong thời gian quá ngắn phục vụ đất nước, chính phủ Trần Trọng Kim không mắc phải sai lầm nào đáng bị chỉ trích, trái lại, đã thực hiện được nhiều thành tích đáng kể nhất là việc lấy lại được miền Nam và ba nhượng địa quan trọng ở miền Bắc, hoàn thành được việc thống nhất đất nước như đã nói trên. Tất cả những điều đó cho thấy Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim không phải là « bù nhìn » của Nhật và nền độc lập của Việt Nam, dù chưa hoàn toàn, vẫn là một thực tại chứ không phải « bánh vẽ », nhất là so với những điều kiện của một « quốc gia tự do » và viễn tưởng thống nhất mơ hồ như trong Hiệp định sơ bộ 6 – 3 năm 1946 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh phải ký kết với Cao uỷ Bollaert.
Từ Trần Trọng Kim đến Hồ Chí Minh mới chỉ trong khoảng 1 năm 1945-1946 đã là một sự thụt lùi rõ ràng về chủ quyền và độc lập. Việt nam đã phải trả giá với hàng triệu sinh mạng do các cuộc chiến mà Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, …, gây ra để thây tóm quyền lực và phục vụ quốc tế cộng sản. Gây thù oán với nhiều quốc gia. Sau mấy chục năm, đến nay, sự thụt lùi là toàn diện cho đến bị phá hoàn toàn, từ chính trị, văn hóa, tính dân tộc, đạo đức, giáo dục và đặc biệt là nhân quyền với các tự do chính trị, tôn giáo, ngôn luận, …
Thủ bút của Trần Trọng Kim-Thư gửi Hoàng Xuân Hãn
Thủ bút của Trần Trọng Kim
gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947
Nguyễn Đức Toàn
Viện nghiên cứu Hán Nôm
Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.
Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.
Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt.
Nội dung như sau :
Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 1947(1)
Ông Hãn(2)
Hôm ông Phan văn Giáo(3) đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài(4) xem.
Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.
Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy(5), hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau(6) do ông D’argenlieu(7) sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được(8).
Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây(9), không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền(10) và Khiêm(11), họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa.
Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài(12).
Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.
Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo(13), Hoè(14) và Sâm(15). Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia(16), mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến(17), họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.
Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:
身 在 南 蕃 無 所 預
心 懐 百 憂 復 千 慮
(Thân tại Nam phiên vô sở dự,
Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.
= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,
Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)
Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.
Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁(Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.
Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh(18) bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:
Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ
Đất khách mơ – màng những thở – than,
Mảng tin bác bị lũ hung tàn.
Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,
Căm giận quân thù đã tím gan.
Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.
Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân(19) gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.
Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu(20), xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt(21) đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)(22)
Ông có biết tin ông Bùi Kỷ(23) bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.
Nhà tôi và Chương(24) đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?
Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.
Nay kính thư
Trần Trọng Kim [tr4]
Chú thích :
1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.
2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.
3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.
4. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)
5. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.
6. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)
7. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)
8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167…
9. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”
10. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)
11. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.
12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.
13. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.
14. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)
15. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)
16. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự « khó tính » của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần « Nam kỳ quốc » và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.
17. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)
18. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.
19. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)
20. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)
21. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.
22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.
23. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)
24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)
Thư mục tham khảo
1.Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969
2. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
3. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
4. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
5. La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)
——–
Đọc lá thư của cụ Trần Trọng Kim, chúng ta biết rõ hơn cụ là người uyên bác, yêu nước ra sao. Và cụ cũng đã biết bản chất của cộng sản núp dưới danh nghĩa quốc gia ra sao ngay sau khi chúng cướp được chính quyền và trở mặt với dân tộc. Vì vậy mà cụ tiếc cho năm 1945, với câu nói về cộng sản : chúng ta bị bọn cướp lừa. Tiếc cho dân tộc, tiếc cho đất nước, một cơ hội bằng vàng bị mất để rồi phải trải qua hàng mấy chục năm huynh đệ tương tàn mà hậu quả là một chế độ độc tài tham nhũng hối lộ với chính sách ngu dân và tiêu diệt văn hóa dân tộc.






Phần 6: TẠI SAO CỘNG SẢN GIẾT PHẠM QUỲNH ?
Trong phần 5 nói về Chính phủ Trần Trọng kim, có nói đến Phạm Quỳnh: « Phạm Quỳnh mong muốn có một Việt Nam độc lập và Nhật đã đồng ý. Như vậy không ai có thể lên án Phạm Quỳnh về vấn đề độc lập. Ngoại trừ, cộng sản tìm mọi cớ giết ông ta. »
Cộng sản tiêu diệt tất cả nhưng ai không phục vụ họ, kể cả nhưng người yêu nước. Từ Tạ Thu Thâu qua Nguyễn Bình đến Nguyễn Văn Bông, …, những người có khả năng góp phần xây dựng đất nước.
Trong buổi phỏng vấn ngày 25 tháng 6 năm 1946, Hồ Chí Minh đã trả lời đảng viên Xã hội Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: « Ce fut un patriote et nous le pleurons… Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés » = « (Tạ Thu Thâu) là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất… Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt. »
Phạm Quỳnh là một nạn nhân của cộng sản.
Bài dưới đây của TRẦN GIA PHỤNG (Toronto, Canada)
Việt Minh cộng sản đã giết Phạm Quỳnh (1892-1945) hai lần: Lần thứ nhất hạ sát, che giấu và phi tang thân xác ông tại Huế năm 1945. Lần thứ hai, bóp méo lịch sử, viết sai lạc về Phạm Quỳnh, nhằm hủy diệt luôn sự nghiệp và thanh danh của ông. Một câu hỏi cần được đặt ra là lúc đó Phạm Quỳnh đã rút lui khỏi chính trường, tại sao cộng sản lại giết Phạm Quỳnh, trong khi cộng sản không giết Trần Trọng Kim và toàn bộ nhân viên nội các Trần Trọng Kim, là những người đang còn hoạt động? Câu hỏi nầy cần tách ra làm hai phần để dễ tìm hiểu:
Thứ nhất: Từ khi đến Trung Hoa hoạt động năm 1924, Hồ Chí Minh, điệp viên của Đê Tam Quốc tế Cộng sản, lúc đó có tên Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy, đã chủ trương “giết tiềm lực”. Giết tiềm lực là tiêu diệt tất cả những cá nhân có khả năng tiềm tàng mà không chịu theo chủ nghĩa cộng sản hay đảng Cộng Sản, có thể sẽ có hại cho đảng Cộng sản trong tương lai. Những người nầy về sau có thể sẽ hoạt động chính trị và có thể sẽ gây trở ngại, gây nguy hiểm cho sự phát triển của cộng sản. Nạn nhân danh tiếng đầu tiên của chủ trương giết tiềm lực của Hồ Chí Minh là Phan Bội Châu (1867-1940). Phan Bội Châu bị Lý Thụy bán tin cho Pháp, để Pháp bắt Phan Bội Châu năm 1925 tại nhà ga Thượng Hải, nhằm đoạt lấy tổ chức của Phan Bội Châu. (Tưởng Vĩnh Kính, Nhất cá Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụy trang giả, bản dịch của Nguyễn Thượng Huyền, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, California: Nxb. Văn Nghệ, 1999, tt. 84-85.)
Từ đó, Hồ Chí Minh và phe đảng thi hành chủ trương giết tiềm lực, ngầm thủ tiêu rất nhiều thanh niên sinh viên hoạt động chính trị, và nhất là năm 1945, khi nắm được quyền lực, Việt Minh (VM), mặt trận ngoại vi của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), đã giết hầu hết những nhân tài không theo VM.
Tại Huế, VM tìm tất cả các cách nhắm cô lập vua Bảo Đại. Cách tốt nhất là cách ly nhà vua với những người có khả năng và uy tín thân cận bên cạnh nhà vua, trong đó quan trọng hơn cả là Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi. Do đó, VM ra lệnh bắt Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi cùng con của ông Khôi là Ngô Đình Huân ngày 23-8-1945. Đồng thời VM sắp đặt những người của VM như Tạ Quang Bửu, Phạm Khắc Hòe vây quanh rỉ tai nhà vua, phóng đại về kháng chiến, về Việt Minh.(Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, tr. 184.)
Theo David G. Marr trong Vietnam 1945, The Quest for Power, sau khi Phạm Quỳnh và hai cha con Ngô Đình Khôi bị bắt, người Nhật can thiệp một cách yếu ớt không hiệu quả. Ngày 28-8, sáu người Pháp nhảy dù xuống một địa điểm cách kinh thành Huế khoảng 20 cây số nhắm mục đích bắt liên lạc với vua Bảo Đại và các cựu quan Nam triều. Lúc đầu, VM địa phương tưởng những người Pháp nầy là người của phe Đồng Minh, cho họ trú tạm tại một ngôi nhà thờ, nhưng khi biết rằng đây là những người Pháp có ý định tìm cách liên lạc với các quan chức Nam triều cũ, VM liền giết bốn người, và cầm tù hai người đến tháng 6-1946. (David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power [Việt Nam 1945, đi tìm quyền lực] University of California Press, tt. 452-453.)
Trong khi cô đơn, lại bị Phạm Khắc Hòe xúi giục và hù dọa, vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị ngày 25-8-1945, và làm lễ thoái vị tại cửa Ngọ Môn ngày 30-8-1945, với sự hiện diện của đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, và Cù Huy Cận.
Theo hồi ký của Trần Huy Liệu, sau khi Nhật đầu hàng, người Pháp nhảy dù xuống Huế, liền hỏi ngay đến Bảo Đại, Phạm Quỳnh và những người cộng tác với Pháp trước đó. Việt Minh bắt được toán người Pháp nầy và “xử lý thích đáng” Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh. (Nguyên văn lời của Trần Huy Liệu.) Theo lối chơi chữ của Trần Huy Liệu, “xử lý thích đáng” có nghĩa là thủ tiêu hai ông Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh.
Nhiều người cho rằng việc người Pháp muốn kiếm cách liên lạc với cựu hoàng Bảo Đại và Phạm Quỳnh (vì lý do gì không được rõ) vô tình đã làm cho VM lo ngại, sợ rằng một khi người Pháp trở lui, Pháp sẽ nhờ Phạm Quỳnh và những người đã từng làm việc với Pháp như Ngô Đình Khôi giúp Pháp lật ngược thế cờ, đưa cựu hoàng trở lại cầm quyền.
Do đó VM vội vàng “mời” cựu hoàng Bảo Đại rời Huế ngày 4-9-1945, ra Hà Nội làm cố vấn chính phủ, để cách ly cựu hoàng với cố đô, chiếc nôi của nhà Nguyễn, đồng thời cách ly cựu hoàng với những cận thần cũ. Vì vậy VM giết ngay các ông Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi ngày 6-9 để trừ hậu hoạn. Trong khi đó, nếu người Pháp trở lui Huế, người Pháp cũng không hợp tác với Trần Trọng Kim, vì ông Kim và nội các của ông bị gán cho là thân Nhật.
Phạm Quỳnh trong bộ Âu phục
Thứ hai: Khi cướp chính quyền, VM đã chủ ý giết một số người trong đó có Phạm Quỳnh. Việt Minh chủ ý giết Phạm Quỳnh vì:
1) Phạm Quỳnh muốn xây dựng nền quân chủ lập hiến tại nước ta, và cho rằng cộng sản là “nạn dịch” gây bất ổn xã hội. (Phạm Quỳnh, “Ce que sera l’Annam dans cinquante ans?”[Nước Nam sẽ ra sao năm mươi năm sau?], Essais franco-annamites (1929-1932), Huế: Nxb. Bùi Huy Tín, 1937, tr. 500.) Phạm Quỳnh muốn xây dựng nền quốc học trong khi Việt Minh muốn phổ biến chủ nghĩa cộng sản.
2) Ở trong nước, Phạm Quỳnh tiêu biểu cho giới trí thức làm văn hóa, theo chủ nghĩa dân tộc, lập trường quốc gia, bất bạo động, dấn thân hoạt động chính trị. Việt Minh giết Phạm Quỳnh để đe dọa, uy hiếp và khủng bố tinh thần giới trí thức hoạt động văn hóa trên toàn quốc. Đây là lối mà người xưa gọi là “sát nhất nhân, vạn nhân cụ “(giết một người, mười ngàn người sợ).
3) Đối với nước ngoài, Phạm Quỳnh là người được Pháp ủng hộ và rất có uy tín trên chính trường Pháp. Với đường lối ôn hòa, ông còn có thể được cả Nhật, Trung Hoa (lúc bấy giờ do Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng cầm quyền), Anh, Hoa Kỳ chấp nhận hơn là đường lối cực đoan theo Liên Xô của Hồ Chí Minh.
4) Hồ Chí Minh muốn chụp lấy ngay thời cơ tạo ra do khoảng trống chính trị sau tối hậu thư Potsdam vào cuối tháng 7-1945, nên chủ trương tiêu diệt tất cả những người nào có khả năng tranh quyền với Hồ Chí Minh, để cho ở trong cũng như ngoài nước thấy rằng chỉ có một mình Hồ Chí Minh mới xứng đáng lãnh đạo đất nước. Phạm Quỳnh đã từng là thượng thư bộ Lại, đứng đầu triều đình Huế. Đặc biệt những điều ông viết về tương lai thế giới mà ông đưa ra từ 1930 trong bài “Ce que sera l ‘ Annam dans cinquante ans?” [Nước Nam sẽ ra sao năm mươi năm sau?] đều đã diễn ra đúng theo ông tiên liệu, như mối đe dọa của Nhật Bản, nạn dịch cộng sản, xung đột Thái Bình Dương, đại hỏa hoạn ở châu Âu [thế chiến 2]. Nhờ thế mà uy tín Phạm Quỳnh lên rất cao.
Phạm Quỳnh có uy tín và tư thế lớn đối với dư luận trong và ngoài nước, là một trong những người có thể trở thành đối thủ đáng ngại của Hồ Chí Minh, nên Hồ Chí Minh quyết tiêu diệt Phạm Quỳnh để tránh trở ngại về sau.
5) Khi mới nổi dậy năm 1945, để lôi cuốn quần chúng, Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, chứ không phải là đảng viên cộng sản, và Hồ Chí Minh ra đi để tìm đường cứu nước, đồng thời Hồ Chí Minh tự giấu thật kín chuyện xin vào học trường Thuộc Địa Paris mà bị loại. Một chuyện nữa cũng thuộc loại “thâm cung bí sử” của Hồ Chí Minh là việc Nguyễn Ái Quốc gia nhập Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) ở Paris vào đầu năm 1922. (Jacques Dalloz, “Les Vietnamiens dans la franc-maçonnerie coloniale” [Người Việt trong hội Tam Điểm thuộc địa], tạp chí Revue Française d’Histoire d’Outre-mer, Tam cá nguyệt 3, 1998, Paris: Société Française d’Histoire d’Outre-mer, tr. 105.) Hội Tam Điểm là một hội có chủ trương chính trị đối lập với đảng Cộng Sản và là kẻ thù của đảng Cộng Sản.
Cũng trong năm 1922, theo lời mời của chính quyền Pháp, Phạm Quỳnh đến Paris diễn thuyết tại Trường Thuộc Địa (École Coloniale) ngày 31-5-1922 về đề tài “Sự tiến hóa về đường tinh thần của dân Việt Nam từ ngày đặt bảo hộ đến giờ”. Sau đó, Phạm Quỳnh ở lại Paris để đi diễn thuyết vài nơi, kể cả Viện Hàn lâm Pháp. Trong thời gian ở Paris, Phạm Quỳnh ghi nhật ký là đã gặp gỡ những “chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi”, và không nêu tên những người ông đã gặp trong nhật ký. Tuy nhiên, trên sổ lịch để bàn, Phạm Quỳnh ghi rõ: [Thứ Năm, 13-17]: “Ăn cơm Annam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Villa des Gobelins)”. [Tờ lịch Chủ nhật 16-7]: “Ở nhà, Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” [Chủ nhật 16-7] [Chuyền có thể là Nguyễn Thế Truyền.]
Như thế, Phạm Quỳnh là một trong những người biết rõ tung tích Hồ Chí Minh ở Paris, biết rõ Hồ Chí Minh đã gia nhập hội Tam Điểm Pháp, và đặc biệt Phạm Quỳnh còn sống cho đến 1945. (Những người khác như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh đều đã từ trần.) Phạm Quỳnh là một nho sĩ chính trực nên ông không tiết lộ cho vua Bảo Đại biết điều nầy, do đó nhà vua mới bị Phạm Khắc Hòe dẫn dụ về nhân vật Hồ Chí Minh. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, tt. 184-185.) Phải chăng vì là người đã lỡ “biết quá nhiều” về Hồ Chí Minh mà Phạm Quỳnh bị Hồ Chí Minh ám hại?
Do những lẽ trên, nếu không có những người Pháp nhảy dù xuống Huế như tác giả David G. Marr viết hay Trần Huy Liệu kể, cộng sản cũng vẫn giết Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh và Trần Trọng Kim đều là hai nhà văn hóa, và chính trị nổi tiếng trên toàn quốc. Trần Trọng Kim viết khảo cứu có tính cách hoàn toàn chuyên môn, chứ không có chủ trương chính trị lâu dài; nội các Trần Trọng Kim gồm những chuyên viên cần thiết cho việc xây dựng cơ sở căn bản trong giai đoạn chuyển tiếp từ chính quyền Pháp qua chính quyền Việt. Trần Trọng Kim ít biết về những hoạt động của Hồ Chí Minh lúc còn ở Paris.
Ngược lại, Phạm Quỳnh trước tác với một ý hướng chính trị rõ ràng: xây dựng một nền văn hóa dân tộc, bảo tồn quốc tuý, nâng cao trình độ văn hóa của dân chúng bằng cách phổ biến văn hóa Âu tây, dịch thuật những tư tưởng dân quyền của Montesquieu, Voltaire, Rousseau. Phạm Quỳnh tham gia triều đình Huế cũng nhắm đến một chủ đích rõ ràng: tranh đấu ôn hòa, nhưng cương quyết yêu cầu Pháp trả lại chủ quyền cho triều đình, và xây dựng một hiến pháp làm luật lệ căn bản của quốc gia.
Ảnh hưởng văn hóa và chính trị của Phạm Quỳnh khá rộng rãi trên các tầng lớp quần chúng, nhất là giới trí thức trung lưu, từ lớp trí thức Nho học đến cả lớp trí thức và thanh niên tân học. Tạp chí Nam Phong được các lớp người ưu tú ở các địa phương lúc bấy giờ trên toàn quốc xem như loại sách báo giáo khoa chỉ đường. Đó là điều mà cộng sản chẳng những không thể chấp nhận và cũng không thể dung thứ, vì cộng sản muốn nắm độc quyền lãnh đạo chính trị, độc quyền yêu nước, độc quyền chân lý.
Xin hãy chú ý thêm ngày Phạm Quỳnh bị sát hại. Phạm Quỳnh bị bắt ngày 23-8-1945, và bị giết ngày 6-9, nghĩa là ông không bị nhóm VM địa phương Huế giết liền khi họ nổi dậy. Vua Bảo Đại thoái vị ngày 30-8-1945 với sự chứng kiến của đại diện chính phủ Việt Minh từ Hà Nội đến là Trần Huy Liệu (bộ trưởng bộ Tuyên truyền), Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận (bộ trưởng không bộ nào tức quốc vụ khanh). Phạm Quỳnh bị giam giữ một thời gian, rồi mới bị giết ngày 6-9-1945, nghĩa là lúc đó đã có mặt của đại diện trung ương của VM và của đảng CSĐD.
Khi đã có sự hiện diện của đại diện trung ương, các cán bộ VM địa phương chắc chắn không dám tự tiện ra tay, mà chắc chắn phải có ý kiến của trung ương. Nhóm Trần Huy Liệu cũng không thể tự quyết định được việc nầy. Như vậy phải chăng chính nhóm Trần Huy Liệu đã đem lệnh từ Hà Nội vào Huế để giết Phạm Quỳnh? Và lệnh đó từ đâu, nếu không phải là từ Hồ Chí Minh?
Sau khi Phạm Quỳnh bị giết, hai người con gái đầu của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh. Dưới đây là lời kể của bà Thức:”… Tháng 8 năm 1945, Thầy tôi ra đi!… Sau đó, chị tôi [tên Giá] và tôi nhờ một anh bạn là Vũ Đình Huỳnh ngày ấy là garde-corps [cận vệ] cho cụ Hồ, giới thiệu đến thăm cụ và hỏi truyện [tức chuyện Phạm Quỳnh]. Cụ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về… Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội và có thể có nhiều sai sót đáng tiếc…” (Hồi ký viết tại Paris ngày 28-10-1992 của bà Phạm Thị Thức, nhân kỷ niệm 100 năm sinh niên Phạm Quỳnh, tài liệu gia đình.)
Phạm Quỳnh bị giết ngày 6-9-1945. Hồ Chí Minh cướp chính quyền ngày 2-9-1945, ra lệnh “mời” Bảo Đại ra Hà Nội, và Bảo Đại rời Huế ngày 4-9-1945. Như thế có nghĩa là Hồ Chí Minh đã về Việt Nam, đã cướp được chính quyền, đã nghĩ đến cựu triều đình Huế, đến việc đưa Bảo Đại ra Hà Nội, vậy chắc chắn Hồ Chí Minh không thể quên hay không biết chuyện Phạm Quỳnh. Lối lý luận của Hồ Chí Minh là cách chối tội thông thường cổ điển của VM: “Mất mùa là tại thiên tai,/ Được mùa là tại thiên tài đảng ta.)
Giết xong Phạm Quỳnh, cộng sản tính việc hủy diệt luôn hình ảnh sáng chói nhà văn hóa Phạm Quỳnh, tức giết Phạm Quỳnh lần thứ hai. Việc nầy thì không thể nói là Hồ Chí Minh không biết gì cả. Đảng Cộng Sản quy chụp cho Phạm Quỳnh tội “phản quốc, làm tay sai cho Pháp”. Gần 40 năm sau, trong Từ điển văn học, gồm 2 tập, mỗi tập trên 600 trang, gồm nhiều người viết, do Uỷ ban Khoa học Xã hội xuất bản tại Hà Nội năm 1984, vẫn không có mục “Phạm Quỳnh”. Khi viết về các nhóm văn hóa, sách nầy không thể loại nhóm Nam Phong vì nhóm Nam Phong có khá nhiều tác giả nổi tiếng.
Nói đến nhóm Nam Phong, trang 121-123, tập 2, tác giả Nguyễn Phương Chi, trong ban biên tập từ điển, vẫn còn gọi Phạm Quỳnh là “bồi bút, phản động”. Hơn thế nữa, năm 1997, trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, do nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội ấn hành, Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế biên tập, mục “Phạm Quỳnh”, trang 758-759, hai tác giả nầy viết: “Hoạn lộ của ông [chỉ Phạm Quỳnh] lên nhanh như diều gặp gió vì gắn bó mật thiết với các quan thầy thực dân…Ngày 23-8-1945, Phạm bị các lực lượng yêu nước bắt ở Huế, rồi sau đó bị xử bắn ở l.[làng] Hiền Sĩ, t.[tỉnh] Thừa Thiên, hưởng dương 53 tuổi.”
Các tác giả cộng sản thường đưa ra chiêu bài yêu nước và dân tộc để quy chụp những người không theo khuynh hướng của cộng sản là phản động, phản quốc, trong khi chính vì Hồ Chí Minh khăng khăng đi theo cộng sản Liên Xô mà Việt Nam không được các nước Đồng Minh thừa nhận sau năm 1945. Cũng chính vì đảng Cộng Sản chủ trương ý thức hệ cộng sản mà gây ra mâu thuẫn quốc cộng, phá hoại tình đoàn kết dân tộc, là một trong những nguyên nhân chính đưa đến chiến tranh Việt Nam từ 1946 đến 1975, và hậu quả còn kéo dài mãi cho đến ngày nay.
Sau năm 1954, rồi 1975, chính đảng Cộng sản Việt Nam đã nhập cảng và áp dụng một cách máy móc chính sách văn hóa Mác, Mao và kinh tế chỉ huy rập theo khuôn Liên Xô và Trung Cộng, đã làm cho Bắc Việt rồi cả Việt Nam suy kiệt về mọi mặt cho đến ngày nay mà chưa tìm ra lối thoát.
Nếu nói rằng: Phạm Quỳnh hợp tác với Pháp để mưu cầu chủ quyền cho Việt Nam, bảo vệ quyền lợi của quốc gia là làm tay sai cho ngoại bang, còn Hồ Chí Minh và đảng cộng sản theo Nga Hoa, bán đứng quyền lợi đất nước, thì không phải là tay sai ngoại bang? Nếu nói rằng Phạm Quỳnh hợp tác công khai với Pháp, viết bài trình thuật rõ ràng các hoạt động của ông là phản quốc, trong khi Hồ Chí Minh làm gián điệp cho Đệ tam Quốc tế Cộng sản, cầu viện Trung Quốc và Liên Xô là không phản quốc?
Nếu nói rằng Phạm Quỳnh viết bài quảng bá học thuật Âu tây, đề cao tư tưởng dân quyền của Voltaire, Montesquieu, Rousseau là không có tinh thần dân tộc, còn cộng sản phổ biến tư tưởng Marx, Lenin, và nhất là chủ nghĩa Stalin thì gọi là gì? Phạm Quỳnh dịch thơ Corneille, Racine là bồi bút, còn Tố Hữu làm thơ gọi Stalin là ông nội, “thương cha thương mẹ thương chồng / thương mình thương một thương ông thương mười”, thì không bồi bút?
Nói cho cùng, nếu Phạm Quỳnh chỉ là người học trò bình thường của Voltaire, Montesquieu hoặc Rousseau thì cũng đáng mừng cho dân tộc Việt Nam, vì tư tưởng của các nhà học giả Pháp nầy là ánh sáng soi đường cho nhân dân toàn thế giới xây dựng nền tự do dân chủ phân quyền pháp trị.
Trong khi đó Hồ Chí Minh là “một người học trò trung thành của Các Mác và V. I. Lê-nin” (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1975, tr. 160.), và nhất là người học trò xuất sắc của Stalin, thì thực tế lịch sử đã chứng minh rằng đó là hiểm họa độc tài đen tối khốc liệt nhất từ trước đến nay trong lịch sử Việt Nam.
Dầu sao, việc tuyên truyền của cộng sản một thời gây nhiễu xạ hình ảnh của Phạm Quỳnh và ảnh hưởng không ít đến dư luận dân chúng, làm nhiều người, kể cả vài kẻ tự mệnh danh là trí thức tiến bộ, hiểu sai về Phạm Quỳnh, và hiểu sai luôn về một số nhân vật chính trị theo khuynh hướng quốc gia dân tộc. Phạm Quỳnh đã từng nói: “Về phần tôi, tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi là một người ở buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông…”. (Thư ngày 30-12-1933 của Phạm Quỳnh gời Louis Marty, Hành trình nhật ký, Paris: Nxb. Ý Việt, 1997, phần “Dẫn nhập”, không đề trang.)
Ngày nay, sau những biến động đảo điên của thời cuộc, mọi người nên công tâm tìm hiểu Phạm Quỳnh và nhìn lại sự nghiệp của ông. Trước ngã ba đường vào đầu thế kỷ 20, giữa cựu học, Tây học, và tân học, Phạm Quỳnh chọn con đường tân học, cải tiến và hoàn chỉnh văn học Quốc ngữ để làm phương tiện xây dựng quốc học, vừa bảo vệ quốc hồn quốc túy, vừa bồi đắp thêm bằng cách du nhập những tinh hoa văn hóa nước ngoài.
Chủ trương hòa nhập văn hóa (acculturation) của Phạm Quỳnh xét cho cùng rất quý báu và cần thiết cho đất nước, vì nếu chỉ mãi mê tranh đấu chính trị và quân sự, mà không xây dựng nền văn hóa dân tộc dựa trên quốc hồn, quốc học và quốc văn, thì người Việt vẫn bị trì trệ trong sự nô lệ tinh thần. Những đóng góp của ông trong việc phát triển nền văn chương Quốc ngữ thật lớn lao. Những vấn đề văn chương, triết lý tổng hợp đông tây ông đã viết, những ý kiến do ông đưa ra trong các bài báo, kể cả những ý kiến ông tranh luận về truyện Kiều, về Nho giáo, vẫn còn có giá trị. Giấc mơ của Phạm Quỳnh về quốc học, quốc hồn lại càng cần được cổ xúy làm nền tảng giáo dục tinh thần cho mọi người Việt Nam ngày nay ở trong cũng như ở ngoài nước. Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn của Việt Nam thời hiện đại.
Về chính trị, Phạm Quỳnh viết nhiều tiểu luận bằng tiếng Việt cũng như bằng tiếng Pháp để tranh đấu thực hiện lý tưởng chính trị của ông. Nhiều người thường đồng nghĩa nền quân chủ với phong kiến hoặc thực dân, nên cho rằng quan niệm quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh là thủ cựu. Cần phải chú ý là Phạm Quỳnh chủ trương bất bạo động. Ông chọn thể chế quân chủ lập hiến với hy vọng thúc đẩy Việt Nam chuyển biến một cách ôn hòa trong trật tự.
Nhìn ra nước ngoài, hiện nhiều nước trên thế giới vẫn duy trì nền quân chủ lập hiến, nhưng vẫn là những nước hết sức dân chủ như Anh Quốc, Nhật Bản, Thuỵ Điển, Bỉ… Ở trong nước, xét trên chiều dài của lịch sử, từ ngày Pháp đặt nền đô hộ năm 1884 đến năm 1945, tuy các vua nhà Nguyễn bị người Pháp khống chế, nhưng vua vẫn là biểu tượng cao cả của đất nước, nên các cuộc nổi dậy kháng Pháp từ Bắc vào Nam đều quy hướng về một mối, đó là triều đình ở kinh đô Huế. Trái lại từ năm 1945 trở đi, khi VM cộng sản cướp chính quyền, người Việt Nam bị chia rẽ trầm trọng thành nhiều phe nhóm khác nhau, theo những quan điểm khác nhau. Do đó, Phạm Quỳnh có phần hữu lý khi ông chủ trương cải cách ôn hòa, và chọn quân chủ lập hiến theo đại nghị chế thay thế cho nền quân chủ chuyên chế.
Ngày nay, cục diện chính trị Việt Nam đã thay đổi hẳn, quan niệm quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh không còn phù hợp, nhưng không thể vì thế mà phủ nhận tinh thần ái quốc, lòng can đảm và sự tận tình của ông trên con đường phụng sự quê hương. Phạm Quỳnh đã âm thầm tranh đấu bất bạo động để đòi hỏi chủ quyền cho đất nước. Ông đã hết lòng hoạt động vì nước và đã hy sinh vì lý tưởng của mình. Đó là điều thật đáng trân quý nơi Phạm Quỳnh, nhà trí thức dấn thân hoạt động chính trị.
Một điều đáng ghi nhận cuối cùng trong cách thức hành xử của Phạm Quỳnh. Ông theo đuổi một lý tưởng chính trị trường kỳ và bất bạo động, nên ông luôn luôn cố gắng làm những gì có lợi cho đất nước và đồng bào, đồng thời tránh không làm bất cứ việc gì có hại cho quốc gia dân tộc. Phạm Quỳnh sống lương thiện, không tham ô nhũng lạm, và cũng không hề gây tội ác giết hại đồng bào. Thái độ nầy là điều mà rất ít nhà hoạt động chính trị của mọi khuynh hướng thực hiện được, và là một điểm son sáng chói phân biệt Phạm Quỳnh với những người ra hợp tác với Pháp để trục lợi cầu vinh.
Đây là điều cần phải được tách bạch. Trong việc hợp tác với Pháp, có hai hạng người: hạng thứ nhất là những kẻ hợp tác để mưu cầu danh lợi riêng tư, lợi dụng quyền thế, hống hách bóc lột đồng bào; hạng thứ hai ra tham chính, làm việc với Pháp, không dựa vào quyền thế để hiếp đáp dân chúng, mà dùng quyền thế để cứu giúp đồng bào, và vẫn giữ được khí tiết riêng của mình như Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Trương Vĩnh Ký, và biết bao nhiêu người vô danh khác.
Phải tránh vơ đũa cả nắm, và phải rõ ràng như thế mới hiểu được tâm trạng cùng sự can đảm của những nhà trí thức, trong hoàn cảnh éo le của đất nước, dấn thân hoạt động chính trị, phụng sự dân tộc, nhất thời đã bị hiểu lầm sau những cơn lốc tranh chấp chính trị kéo dài trên quê hương yêu dấu, trong đó Phạm Quỳnh là trường hợp điển hình nhất.

Phần 7: Cải cách ruộng đất (CCRD) – gây hận thù, giết người lành, tiêu diệt đảng phái đối lập như Quốc Dân đảng, xỉ vả ông bà, lừa thày phản bạn, …, tạo những cái máy mù quáng điên cuồng phục vụ CNCS và những kẻ hưởng lợi từ nó. Theo ông Nguyễn Minh Cần, nguyên phó chủ tịch Hà Nội, tỵ nạn chính trị ở Liên Xô, thời xét lại, thì có 172.000 nạn nhân. Nhưng trên cả là đạo đức luân lý từ ngàn năm bị xoá bỏ từ đây, bị thay bằng luân lý hận thù chém giết của cộng sản.
Toàn cảnh CCRD được nhìn qua vụ giết bà Cát Hanh Long – Nguyễn Thị Năm, người đã có thời gian nuôi Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ,Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị, …, người có 2 con trai là đại đội trưởng Nguyễn Hanh và Trung đoàn trưởng Nguyễn Cát trong quân Việt Minh.
« Tìm mộ bà Cát Hanh Long » trên « An ninh thế giới »:http://antg.cand.com.vn/…/Chuyen-ve-nguoi-phu-nu-tung-bi-x…/
« … Cụ bà Nguyễn Thị Năm … Khăn vấn, tóc đen nhưng nhức chải ngôi giữa. Nét mày và miệng thanh tú. Ảnh cụ bà chụp khi hơn 40 tuổi. Tướng những người phụ nữ có cung mệnh ích phu vượng tử. Cụ ông không may bạo bệnh mất sớm trước năm 1945. Một mình cụ bà những đảm lược thông minh tháo vát chèo chống đưa con thuyền Cát Hanh Long qua bão tố thác ghềnh.
… buổi sáng ngày 25/8/1945 đoàn xe của ông Trần Huy Liệu thay mặt cho Chính phủ lâm thời cùng đoàn xe của ông Nguyễn Lương Bằng đại diện cho Mặt trận Việt Minh cùng xuất phát từ Hà Nội có sứ mệnh vào Huế tiếp nhận sự đầu hàng của Bảo Đại. Chả là chàng trai Nguyễn Hanh khi đó mới 22 tuổi, được chọn trong đội hình Thanh niên thành Hoàng Diệu có vinh dự được tháp tùng đoàn.
Thời điểm đấu tố giông gió ấy, Nguyễn Hanh đang ở Nam Ninh, Trung Quốc. Tin tức về một cuộc cải cách trời long đất lở cũng sang được bên đó nhưng tuyền một thông tin dân phấn khởi đang vùng lên đánh đổ địa chủ ác bá, người cày có ruộng. Nguyễn Hanh không một chút mơ hồ nghi ngại… Một ngày tháng 6/1953, Nguyễn Hanh được chỉ thị về nước có lệnh gấp. Nguyễn Hanh được dẫn ngay vào một trại cải tạo.
Cái điều Nguyễn Hanh không ngờ không biết khi đó mẹ mình đã bị bắn. Cho mãi sau này, trong một đợt tiếp tế thăm nuôi, vợ anh mới hé cho tin ấy.
Còn Nguyễn Cát, người con trai thứ thời điểm bà Năm bị thụ hình, đang ở đâu?
Cũng như ông anh, ông Cát khi đó đang được học tập chỉnh huấn bên Trung Quốc có điều không cùng nơi. Cũng phải, ông em hình như có chí tiến thủ hơn người anh (đại đội trưởng). Năm 1953 đã là Trung đoàn trưởng của Sư 308.
… nhiều bản chứng của nhiều cán bộ cao cấp. Trong đó có ông Đào An Thái, nguyên Cục trưởng Cục Lưu trữ. Ông Hoàng Thế Thiện, nguyên Bí thư Đảng ủy chuyên gia giúp bạn K trực thuộc Trung ương. Ông Nhi Quý nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên.
Xin biên ra một đoạn.
Anh Nguyễn Cát (tức Công) đã được chúng tôi tổ chức vào một trong những nhóm Thanh niên cứu quốc hoạt động bí mật ở thị xã Thái Nguyên trước Tổng khởi nghĩa.
Tháng 5/1945 anh Cát đưa lên chiến khu 20 ngàn bạc Đông Dương (thời giá khi đó tương đương 700 lạng vàng) tiền của gia đình anh ủng hộ đoàn thể. Tôi đã nhận tiền và giao lại cho Ban cán sự Võ Nhai.
Anh Cát thường xuyên cung cấp cho chiến khu thuốc chữa bệnh, máy đánh chữ, giấy mực và nhiều thứ khác khi chiến khu yêu cầu. Anh Cát tích cực thực hiện những chỉ thị của Ban cán sự. Sau Cách mạng anh Cát được giao công tác ở Ty Tuyên truyền tỉnh. Sau đó được rèn luyện thử thách trong bộ đội. Tham gia nhiều trận đánh và đã bị thương. Qua nhiều gian khó thử thách vẫn trung thành tận tụy với cách mạng.
Cũng như ông anh, từ Trung Quốc, Trung đoàn trưởng Nguyễn Cát bị dẫn ngay về nước và vào thẳng một trại cải tạo ở Thái Nguyên.
Trong thời gian Nguyễn Cát bị giam, vợ ông Cát, bà Đỗ Ngọc Diệp vốn là cán bộ bí mật hoạt động từ năm 1944 khi ấy may mà đang hoạt động trong vòng địch hậu Bắc Ninh nên vô tình bà thoát không bị bắt và đấu tố. Nhưng không thoát được sự động viên của tổ chức rằng cô còn trẻ đang có tương lai nên cắt đứt với con cái địa chủ cường hào ác bá.
Riêng cụ Nguyễn Thị Năm Cát Hanh Long thì vẫn… đợi ?
Trên cao xanh kia, cụ bà đã mỉm cười nơi chín suối được chưa khi mới có động thái duy nhất của chính thể là hạ thành phần cho cụ từ tư sản địa chủ cường hào gian ác xuống tư sản địa chủ kháng chiến!
Người con trai còn lại duy nhất của cụ bà Nguyễn Thị Năm Cát Hanh Long năm nay tròn 90 có lẽ vẫn tiếp tục đợi? »
—–
Những lý do mà bà Năm phải chết:
– HCM xin viện trợ của Liên Xô với lời hứa thực hiện CCRD do Trung Quốc chỉ đạo theo mẫu Liên Xô (2 hình kèm), với 5% người dân phải bị đấu tố đến bị giết.
– đường lối của Trung Quốc: gây hận thù để con cháu giết ông bà, cha mẹ, để huynh đệ tương tàn, …. Tất cả, để tiêu diệt đối lập, bất đồng chính kiến, để dựng lên một chế độ độc tài toàn trị, một chế độ Phong kiến hà khắc man rợ nhất. Giết bà Năm, chứng tỏ cho người dân thấy, ai cũng có thể bị cộng sản giết, bị khủng bố, kể cả người mà họ đáng ra phải mang ơn, kể cả đồng đội của họ. (hình kèm)
– trung thành và mong đền nợ vũ khí từ quan thày Stalin và Mao, HCM với chức vụ Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam và nhà nước đã phát động và làm tư tưởng chiến dịch Cải cách ruộng đất bằng phát súng bắn vào bà Năm qua bài viết bịa đặt, vu khống trắng trợn « Địa chủ ác ghê » được đăng trên báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), ngày 21 tháng 7 năm 1953 dưới bút danh C.B (của bác). Sau này bài viết được đưa vào tập tài liệu « Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất » của HCM do báo Nhân Dân xuất bản năm 1955. Toàn văn:
Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoá – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ:
Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:
Giết chết 14 nông dân.
Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.
Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người – năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.
Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân – Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang.
Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.
Thế là ba mẹ con địa chủ Cát-hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!
Còn những cảnh chúng tra tấn nông dân thiếu tô thiếu nợ, thì tàn nhẫn không kém gì thực dân Pháp. Thí dụ:
Trời rét, chúng bắt nông dân cởi trần, rồi dội nước lạnh vào người. Hoặc bắt đội thùng nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.
Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống.
Chúng đóng gióng trâu vào mồm nông dân, làm cho gẫy răng hộc máu. Bơm nước vào bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra.
Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên.
Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt.
Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng. Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến.
Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo. Mẹ con Cát-hanh-Long không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước hại dân. Thật là:
Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng,
Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!
—–
Chính HCM sau đó nhỏ nước mắt cá sấu và phủi tay bằng lời nói dối trắng trợn khác trước các nhà báo « người ta không đánh phụ nữ dù chỉ bằng hoa hồng ». Nói láo bỉ ổi không chớp mắt.
Ngay khi chưa thắng được Pháp, cộng sản đã tiêu diệt các đảng phải, tổ chức chính trị khác, như Quốc Dân đảng trong Cải cách ruộng đất, được bắt đầu từ năm 1953. Đây cũng là bài học cho những người muốn cùng đường với CSVN chống Tàu (nếu như CSVN dám chống lại quan thày), thì số phận họ sẽ được định đoạt trước khi CSVN có thể thắng được Tàu.





Phần 8: Hiệp định Geneve 1954 và cái gọi là Tổng tuyển cử
Sau thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ trước Việt Minh, Trung Quốc (tướng Tàu là Trần Canh) và Liên Xô (bài báo Liên nói thẳng rằng « Pháo phòng không của Liên Xô đã tiêu diệt hoàn toàn hệ thống phòng thủ của Pháp » ở cứ điểm 17 nghìn quân tại Điện Biên), vấn đề Đông Dương được đưa vào thêm Hội nghị Geneve, đáng ra là chỉ giải quyết cuộc chiến ở Triều Tiên.
Hai chính phủ Việt Nam có đại diện ở Geneve là VNDCCH (thành lập ngày 02/09/1945, sau khi Việt Minh cộng sản cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim) và Quốc gia Việt Nam (tuy bị gián đoạn nhưng là nối tiếp của Đế quốc Việt Nam của Bảo Đại – Trần Trọng Kim, thành lập tháng 6/1945). Cả hai đều tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
Trong đàm phán, VNDCCH có Trung Quốc hậu thuẫn còn Quốc gia Việt Nam thì có Pháp. VNDCCH và Trung Quốc đòi chia cắt Việt Nam, còn Quốc gia Việt Nam thì phản đối.
Ông Trần Văn Đỗ, trưởng đoàn đại diện của Quốc gia Việt Nam tuyên bố sẽ không ký vào Hiệp định Genève với lý do hiệp định gây chia cắt Việt Nam và đẩy Quốc gia Việt Nam vào thế nguy hiểm. Đại diện phái đoàn Quốc gia Việt Nam ra một tuyên bố riêng:
« … chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở. »
—–
Hiệp định Genève có nội dung cơ bản như sau (bình luận trong ngoặc kép):
1. Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào công việc nội bộ 3 nước.
2. Các bên tham chiến thực hiện ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương
(không bên nào được phép chuẩn bị cho chiến tranh)
3. Các bên tham chiến thực hiện cam kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực, trao trả tù binh
(quân đội mỗi bên được rút về phần đất của mình, mà không được đưa quân xâm nhập vào vùng của đối phương)
4. Dân chúng mỗi bên có quyền di cư sang lãnh thổ do bên kia kiểm soát trong thời gian quân đội hai bên đang tập kết
(người dân nếu muốn di cư, họ không thể bị cản trở)
5. Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự,vũ khí nước ngoài vào Đông Dương. Nước ngòai không được đặt căn cứ quân sự tại Đông Dương
(sẽ nói kỹ ở dưới)
6. Thành lập Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương (tiếng Anh: International Control Commission, ICC; tiếng Pháp: Commission Internationale pour la Surveillance et le Contrôle, CISC) gồm Ấn Độ, Ba Lan và Canada, với Ấn Độ làm chủ tịch.
7. Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân sự tạm thời. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung về miền Bắc; Chính quyền và quân đội khối Liên hiệp Pháp tập trung về miền Nam. Khoản a, điều 14 ghi rõ: « Trong khi đợi tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân đội của mình tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ trách quản lý hành chính ở vùng ấy. »
Điều 6 Bản Tuyên bố chung ghi rõ: « Đường ranh giới quân sự tạm thời này không thể diễn giải bằng bất cứ cách nào rằng đó là một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ. »
Hiệp định Genève không có điều khoản nào quy định chi tiết về thời điểm cũng như cách thức tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam-Bắc Việt Nam. Nhưng Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève ghi rõ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956. Không nước nào ký vào Bản tuyên bố cuối cùng.
—–
Như vậy, Hiệp định không bắt buộc có Tổng tuyển cử vì không ai ký, nên lý do mà VNDCCH đưa ra là VNCH vi phạm Hiệp định cho Tổng tuyển cử là sai. Cái cớ để VNDCCH tấn công VNCH không thể chấp nhận được. Rất nhiều người Việt Nam bị lừa vì chuyện cắt xén chữ, bóp méo sự thực này.
Ngược lại, VNDCCH lại là kẻ đầu tiên vi phạm Hiệp định Geneve ngay từ khi các chữ ký chưa ráo mực.
VNDCCH đã vi phạm điều 2 và 3 khi chuẩn bị chiến tranh và cho lính xâm nhập VNCH, như ví dụ: « Nguyễn Đình Tỉnh quê ở thôn Phù Lưu, xã Lưu Nguyên, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông cũ, nay là thành phố Hà Nội. Ông Tỉnh tham gia Cách mạng tháng 4 năm 1945; vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 7 năm 1950, công tác ở ngành tình báo. Đầu năm 1955, ông được lệnh bí mật vào Nam, hoạt động trong vùng tạm chiếm… »http://www.qdnd.vn/…/vi-…/61/43/56/57/57/156198/Default.aspx
Trong khi người miền Nam được tự do tập kết ra Bắc, thì người dân miền Bắc bị cản trở. Ví dụ như, bị thông báo đã hết hạn, trong khi còn hạn di cư. Chỉ đường sai cho những nông dân. Khủng bố những người muốn di cư. Ngoài ý đồ làm giảm sức mạnh của miền Nam, thì miền Bắc còn chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử nếu có, vì với số dân bị ngăn cản di cư, họ sẽ có nhiều dân hơn miền Nam và do đó nhiều Nghị sĩ trong một quốc hội chung, nhờ chính sách khủng bố và « đảng cử dân bầu ». Cơ quan lựa ứng cử viên cho đảng là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời ngày 10/09/1955.
Từ năm 1954 qua 1975 đến nay, cộng sản nắm quyền miền Bắc 21 năm và sau đó 39 năm. Họ có đủ điều kiện, nhưng lại chưa bao giờ để cho người dân có được một cuộc bầu cử tự do. Vậy thì cái Tổng tuyển cử mà họ tưởng tượng cũng chỉ có thể là cái « đảng cử dân bầu », không hơn chẳng kém.
—–
Những lý do mà VNCH không coi trọng cái gọi là Tổng tuyển cử của VNDCCH được nói đến trong lá thư của VNCH gửi chính phủ Cộng hoà Liên Bang Đức ngày 26.04.1958 (http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=20077)
1) Họ hãy để cho 92 319 người và 1955 gia đình thực hiện ý nguyện của mình là được di cư về miền Nam, đơn của những người và gia đình này đã nộp cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, để những người này được đoàn tụ với gia đình của họ.
2) Họ nên giảm lực lượng quân sự của họ tương đương với miền Nam Việt Nam. Việc giảm bớt phải được xác nhận là đúng bởi một Ủy ban quốc tế hữu trách. Sau đó vấn đề giới hạn lực lượng quân đội của hai vùng mới được bàn thảo.
3) Họ cần phải xóa bỏ cái gọi là „Ủy ban Giải phóng miền Nam“, bằng cách từ bỏ khủng bố, giết dân cư của những làng mạc xa xôi hẻo lánh, phá hoại cơ sở Chính phủ nhằm cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt trong lĩnh vực cải cách ruộng đất và nông nghiệp.
4) Họ phải từ bỏ sự độc quyền kinh tế của đảng Cộng sản, để nhân dân miền Bắc Việt Nam được làm việc trong hoàn toàn tự do và qua đó, có thể tăng mức sống của họ hiện đã bị giảm xuống đến mức chưa từng có từ xưa đến nay.
5) Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng ca ngợi họ trong các bưu thiếp. Họ nên giải tán ban biên tập công tác tuyên truyền phục vụ bưu thiếp. Họ không được trả thù những người nhận hoặc gửi bưu thiếp.
6) Họ phải tôn trọng các quyền tự do dân chủ trong khu vực của họ như ở miền Nam và nâng cao mức sống của dân chúng miền Bắc, ít nhất được tương đương với dân chúng miền Nam; họ không được dùng chế độ vô nhân đạo của họ để làm cho khoảng cách giữa hai vùng lớn hơn nữa.
—–
Tóm lại: chính quyền VNDCCH (bắc Việt) đã không tuân thủ :
– chính sách di cư : ngăn cản người vào Nam, quân nhân CS không rút về phía bắc
– không truy tố những người đã hợp tác với đối phương : phân biệt đối xử lý lịch (cho đến ngày nay chưa hết)
– giảm trừ quân sự : tăng từ 7 lên 20 sư đoàn
– thành lập Ủy ban giải phóng miền Nam : ý đồ gây hấn chiến tranh thay vì thống nhất bằng con đường hoà bình
– không có tự do kinh tế : ngăn sông cấm chợ
– không có tự do thư tín, tự do chính trị : không có đối lập chính trị
– không có tự do dân chủ : từ khi ra đời, VNDCCH không có cuộc bầu cử tự do bầu nào ở trong những vùng họ có chính quyền
Như vậy, làm sao có thể đảm bảo một cuộc bầu cử tự do công bằng. Sau 40 năm xâm lược VNCH, VN cũng đã đâu có bầu cử tự do, huống chi vào năm 1956.
Ai còn có thể tin vào lời hứa, lời cam kết của CS? Ấy vậy mà hơn 50 năm về trước VNCH đã thấy rồi. bài học nào cũng phải trả giá, nhưng bài học này dân tộc VN trả quá đắt, mà vẫn còn chưa hết.


Phần 9: Ngày 9 tháng tư năm đó và … nếu.
Chắc ít ai biết, ngày này là một ngày quan trọng thay đổi thế giới. Ngày này, 09/04 cách đây đúng 150 năm, quân đội miền Nam, với Tổng thống Jefferson Davis và tổng tư lệnh Robert E. Lee, đã hạ súng đầu hàng quân miền Bắc, với Tổng thống Abraham Lincoln và tổng tư lệnh Ulysses S. Grant.
Ngày chính thức kết thúc cuộc nội chiến, cũng là ngày mà tướng Ulysses S. Grant cùng quân miền Bắc đứng nghiêm chào tướng Robert E. Lee với quân miền Nam không vũ khí rời chiến trận và trở về gia đình.
Cũng dễ hiểu, không ai hay gần như không ai biết, vì Mỹ chẳng có bao giờ kỷ niệm ngày này. Hàng năm, không. Mỗi 5 năm, không. Mỗi 10 năm, không. Mỗi 50 năm, không. 100 năm, cũng không.
Tại sao? Để có ngày đó, hơn 620.000 lính chết sau 5 năm đối đầu giữa 2 miền. Thành phố, làng mạc bị tàn phá. Người Mỹ nào có thể ăn mừng ngày đó? Chẳng ai cả, vì họ biết ngày họ là kẻ thắng và họ cũng là kẻ thua. Họ là một. Và như vậy, đồng lòng, không hận thù, họ cùng nhau đã vượt qua tất cả, kể cả vượt thế giới và trở thành cường quốc số một.
110 năm sau, lúc mà ai cũng biết Mỹ là cường quốc số một, thì lại có những kẻ độc ác, tham tàn, hợm hĩnh, bần tiện cũng kết thúc một cuộc chiến, nhưng chẳng học được gì từ Mỹ để đưa đất nước đuổi theo những nước lân cận không có gì nổi bật, chứ đừng nói mơ ước hơn.
Những kẻ chữ tác đánh chữ tộ đó đã cóp nhặt được chút ít Hiến pháp Mỹ đủ để lừa dân cướp chính quyền cho chúng, nhưng lại làm ngược lại những gì Mỹ đã làm. Có khác gì học « đau bụng, ăn nhân sâm … » mà thiếu « thì chết ». Và đất nước mà chúng đè đâu cưỡi cổ đang chết vì đau bụng (nghèo đói, cạn tài nguyên, mất biển, đảo, đất) và bị nhét nhân sâm (CNCS) vào miệng.
Nếu như, nếu như, … và nếu như.
Nếu như, miền Bắc Mỹ bị những kẻ khốn nạn cầm đầu lúc đó, thì quân miền Nam đã bị đưa hết vào các trại cải tạo, nhà tù trá hình. Nhà cửa của họ sẽ bị tịch thu hết. Vợ con của họ sẽ phải phục vụ những tên cướp và bị đày lên các vùng kinh tế, trại tập trung trá hình.
Thì nước Mỹ ngày nay đầy rẫy bọn tham nhũng hối lộ phè phỡn bằng tiền thuế của dân.
Thì nước Mỹ ngày nay tối ngày mang rá đi xin viện trợ, cầu cạnh ODA …
Thì phụ nữ Mỹ tìm cách thoát nước bằng cả cách cưới những người Mê Hi Cô già, bệnh hoạn … để đổi đời cho bản thân và cho cả gia đình
Thì mặt trận thứ 2 trong cả hai thế chiến không tồn tại do vắng Mỹ.
Thì Đức đã có thể thắng và nghiền nát cộng sản Liên Xô. Bởi vì, Đức sẽ có hậu phương vững mạnh ở phía Tây và Liên Xô không có sự giúp đỡ của Mỹ theo điều luật LLA (Lend-Lease Act) được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 11/03/1941 : không còn phong toả tiền của Liên Xô vì Lenin không chịu trả nợ 631 triệu $, bỏ cấm vận vũ khí vào Liên Xô, cho phép các công ty Mỹ quan hệ kinh tế Liên Xô, Liên Xô được phép mua vũ khí Mỹ.
31/07/1941, Mỹ cho Liên Xô 200 máy bay tiếp tế P-40. Ngày 07/11/1941, Mỹ cho Liên Xô vay 1 tỷ $ không lãi…. Viện trợ của Mỹ cho Liên Xô dừng vào ngày 12/05/1945, 4 ngày sau khi Đức đầu hàng. Không có viện trợ từ Mỹ và Anh, ngoài tiền còn có khoảng 18 triệu tấn hàng hoá, vũ khí, …, Liên Xô chỉ có thể chống cự Đức khoảng 1 năm http://www.persee.fr/…/a…/receo_0338-0599_1984_num_15_3_2510
Và nếu như Liên Xô đầu hàng Đức thì số nạn nhân trên thế giới sẽ ít hơn rất nhiều. Phát xít Đức, Ý, Nhật làm khoảng 30 triệu nạn nhân. Nhưng cộng sản thì gây gấp 5-10 lần số nạn nhân như vậy. Chỉ riêng ở đất nước gặp nạn cướp cộng sản, cuộc chiến huynh đệ Nam – Bắc do chúng gây ra đã làm chết 2-5 triệu người.
Và nếu như Liên Xô đầu hàng Đức, thế giới đã mở mắt với tội ác của phát xít từ 70-80 năm rồi sẽ lật đổ nó, chứ không bị chìm đắm trong mộng mị tội ác của cộng sản đến ngày nay mà còn chưa dứt.




Thông tin cho rằng Blogger Điếu Cày « từ chối cầm cờ vàng » là hòan tòan sai sự thật.
29 OctThông tin cho rằng Blogger Điếu Cày « từ chối cầm cờ vàng » là hòan tòan sai sự thật.
Các hình ảnh dưới đây chứng minh có hai lần hai người đưa cờ vàng cho Blogger Điếu Cày và ông ấy đã cầm. Nhưng bị người bảo vệ da trắng phía sau giằng lấy và trả lại cho chủ nhân.
Để rõ hơn xin mời quý vị xem Youtube ở phút 1:38 và phút 2:27.
http://www.youtube.com/watch?v=xfmOINvN0IY
© Tác giả gửi đến Ban biên tập.
© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam
Sáng hôm qua 28/10/2014, nhiều nhóm dân oan Bắc – Trung – Nam
29 OctDân oan Bắc Trung Nam khiếu kiện bị công an Hà Nội đánh đập, giằng cướp biểu ngữ
Thư mời tham dự buổi Hội Luận Truyền Thông với blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải
29 OctThư mời tham dự buổi Hội Luận Truyền Thông với blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải
Đài STBN sẽ tuyền hình trực tiếp toàn bộ buổi hội luận truyền thông trên hệ thống SBTN toàn thế giới.
*
Đây là một minh chứng cảm động về vai trò cần thiết của truyền thông trong việc đánh động sự quan tâm của người dân đối với những nỗ lực tranh đấu cho tự do dân chủ tại Việt Nam.
Ba kịch bản cho tương lai Việt Nam
22 AoûtĐể khích lệ tinh thần Chiến Đấu trước phiên tòa bất công tỉnh Đồng Tháp ngày 26/8/2014, xin mời anh em cùng nghe ca khúc Dậy Mà Đi.
https://www.youtube.com/watch?v=RTZGvMDT2b0
Ba kịch bản cho tương lai Việt Nam
Tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu, vẫn còn là câu hỏi rất khó với bất cứ ai quan tâm, lo lắng cho đất nước này. Nó khó như giải một phương trình gồm nhiều ẩn số. Trong đó, ẩn số quan trọng nhất, khó phán đoán nhất là các tính toán và cân nhắc của giới lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay.
Điều đó khẳng định rằng tương lai của đất nước phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của giới lãnh đạo.Cơ hội đã đến, mọi cánh cửa đã mở. Tiếp tục lối mòn xưa hay chuyển hướng đưa đất nước vào con đường phát triển theo văn minh của nhân loại.
Dựa trên sự phán đoán các tính toán và cân nhắc của giới lãnh đạo, có thể phác thảo ra ba kịch bản chính cho tương lai Việt Nam, như sau:
1. Trò chơi cân bằng trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc tiếp tục được áp dụng.
Đây là kịch bản dễ xảy ra nhất. Nó dựa trên sự suy luận rằng giữ chế độ là nhu cầu lớn nhất của giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay.
Theo kịch bản này, quan hệ Việt – Trung không còn ở mức «4 tốt, 16 chữ vàng» nữa, nhưng vẫn giữ ở mức «hai bên cùng có lợi». Lãnh đạo Việt Nam không đặt vấn để thoát hẳn ra khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc mà lợi dụng mối quan hệ này để củng cố chế độ. Đổi lại Trung Quốc không có thêm sự khiêu khích lộ liễu nào nữa ngoài Biển Đông, hoặc nếu có cũng dựa trên những thỏa thuận ngầm với lãnh đạo Việt Nam và được hai bên giữ kín. Trung Quốc không «làm xấu mặt» Việt Nam thêm nữa, để đổi lấy việc làm ngơ trước các kế hoạch xác định chủ quyền ở những khu vực Trung Quốc đã chiếm. Đợi một thời gian im ắng, Trung Quốc lại tiếp tục xây phi trường và căn cứ quân sự ở Gạc Ma, xây các ngọn hải đăng tại quần đảo Hoàng Sa.
Trong khi đó, những bước xích lại gần nhau giữa Mỹ và Việt Nam chỉ giữ ở mức «đủ để cân bằng với Trung Quốc». Mỹ được đáp ứng để thỏa mãn là Trung Quốc không hung hăng thêm nữa. Tình hình «nguyên trạng» như trước giàn khoan được cam kết giữ, đủ để hài lòng cả ba bên Mỹ, Trung, Việt. Cả Mỹ và Trung Quốc đều ngầm hiểu «mi không đụng đến lợi ích của ta, thì ta không đụng đến lợi ích của mi» như phương châm đã hình thành từ thời Thượng Hải 1972.
Một số lĩnh vực trong quan hệ Mỹ-Việt có thể tiến bộ nhất định. Nhưng không đạt đến mức Mỹ mong đợi, do Việt Nam không đáp ứng được đầy đủ những điều kiện mà phía Mỹ đưa ra. Những tiến bộ được giữ ở mức đủ để Mỹ đừng buông tay. Nhịp điệu «bắt thả» rất nhịp nhàng để đổi lấy việc thực hiện cam kết của Mỹ.
Những tiến bộ về dân chủ và nhân quyền, nếu có thì chỉ là hình thức bề ngoài. Tư tưởng đi theo Mỹ là mất đảng, là mắc mưu «diễn biến hòa bình» ít nhiều vẫn đang còn tồn tại trong giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã vừa tuyên bố tại Bộ Công an: «Dứt khoát không để nhen nhóm hình thành tổ chức chống đối phá hoại đất nước». Tuyên bố này đi ngược phát biểu dân chủ đầu năm, đã được ngài John Mc Cain «biểu dương» trong chuyến thăm vừa rồi tại Việt Nam.
2. «Đường lối mềm dẻo, khôn khéo» bị thất bại. Việt Nam bị kẹt trong xung đột về chủ trương của Mỹ và Trung Quốc. Quan hệ Việt-Trung dần trở nên căng thẳng. Quan hệ Việt-Mỹ được thúc đẩy nhưng không đủ để Mỹ can dự trực tiếp. Có khả năng đụng độ trên Biển Đông, trong đó Việt Nam được hậu thuẫn bởi vũ khí của Mỹ.
Kịch bản này là hậu quả chính sách «mềm dẻo, khôn khéo», trong khi Mỹ và Trung Quốc đều có tính toán riêng của mình.
Với Trung Quốc, sự kiện đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là một phần của kế hoạch của Trung Quốc vươn ra biển khơi, độc chiếm Biển Đông, hợp pháp hóa đường lưỡi bò và kiểm soát các đường hàng hải huyết mạch.
Những hành động mới đây của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ làm Trung Quốc rất nóng mắt. Họ tiếp tục tiến hành đồng loạt các biện pháp vừa hăm dọa, cưỡng ép và bắt chẹt đối với Việt Nam. Họ không muốn Việt Nam ngả quá nhiều với Mỹ để ngăn cản chủ trương trên của họ.
Thời gian tới, họ tiếp tục gây sức ép lên giới lãnh đạo để Việt Nam tiếp tục trấn áp các hoạt động chống Trung Quốc, gây rối làm bất ổn cả về kinh tế lẫn xã hội ở Việt Nam, làm các nhà đầu tư nước ngoài không dám tiếp tục đầu tư, dùng các biện pháp về tài chính và thương mại để khống chế Việt Nam chặt chẽ hơn.
Với Mỹ, các chuyến đi liên tiếp vừa rồi đến Việt Nam của Thượng nghị sĩ John Mc Cain và của Tướng George Martin Dempsey chứng tỏ Mỹ đã cảm thấy quá muộn trong những biện pháp ngăn chặn sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc. Việc các quan chức Mỹ có những phát biểu đầy «khích lệ» cho quan hệ Mỹ- Việt chứng tỏ Mỹ thật sự mong muốn có hậu thuẫn cho Việt Nam là mắt xích yếu nhất, nhưng đồng thời cũng là đối tượng chống lại Trung Quốc hiệu quả nhất, nếu được tăng cường sức mạnh. Một quan chức ngoại giao cấp cao của Mỹ cho biết một trong những yếu tố «thú vị» trong quan hệ Mỹ – Việt là «tâm lý chống Trung Quốc sâu sắc» ở Việt Nam.
3. Lãnh đạo Việt Nam buộc phải thay đổi với một kịch bản tương tự như đã diễn ra ở Miến Điện.
Ít có khả năng giới lãnh đạo Việt Nam tự nguyện thay đổi. Kịch bản này có thể xảy ra khi kịch bản đầu thất bại hoặc do một tác động bên ngoài như: sự nổi dậy của nhân dân, vỡ nợ hoặc sụp đổ về kinh tế, một biện pháp trừng phạt của các nước lớn (thí dụ như dự luật chế tài về nhân quyền Ed Royce HR4254).
Đây là kịch bản duy nhất có lợi cho nhân dân và dân tộc Việt Nam.
Kịch bản này cũng dựa trên suy luận rằng, có một nhân vật hoặc một nhóm lãnh đạo, có tư tưởng cải cách, tập hợp đủ lực lượng tạo ra một diễn biến như đã từng xảy ra ở Liên Xô và Đông Âu.
Tóm lại, phán đoán các kịch bản cho tương lai Việt Nam hầu tìm ra được mấu chốt quan trọng nhằm đẩy nhanh quá trình thay đổi, mau chóng đến với đất nước Việt Nam.
Là nhà lãnh đạo thì nhận cho mình trọng trách cao nhất đối với vận mệnh đất nước. Phải có đủ lòng dũng cảm và thành tâm chính trị, lãnh đạo quốc gia phải thực sự vì lợi ích của dân tộc, của đất nước, chứ không thể vì lợi ích của một đảng, một phe nhóm hoặc chỉ vì lợi ích cá nhân.
Là con dân Việt Nam, thì việc đòi hỏi để có được một cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc trong một quốc gia thịnh vượng, không thể chỉ còn là một lời thỉnh cầu mà phải ý thức tự đứng lên giành lấy nó. Xây dựng một xã hội dân sự mà trong đó mọi công dân Việt Nam quan tâm đến các tổ chức lãnh đạo đang điều hành đất đất nước, hiểu được cơ chế mà nó đang hoạt động, nắm được những biện pháp, chính sách mà các cơ quan này đang tiến hành. Tương lai, vận mệnh của mình nằm trong đó.
Việt Nam đang có cơ hội tốt để hướng tới một tương lai thực sự độc lập, dân chủ và tự do.
Đặng Xương Hùng
Nguồn: tintuchangngayonline.com

CĂN BỆNH SỢ CHÍNH TRỊ CỦA NGƯỜI VIỆT.
26 AvrMột bài viết ngắn rất hay ! Kính mời các bạn bỏ khoảng 3 phút để theo dõi.
CĂN BỆNH SỢ CHÍNH TRỊ CỦA NGƯỜI VIỆT.
« Thực chất chính trị gần gũi với người dân như cơm ăn nước uống hàng ngày »
Người Việt lâu nay vốn sợ chính trị. Nói chuyện với bạn bè trên FB, mình vẫn hay bắt gặp những câu đại loại như: « Thôi, nói chuyện khác đi, đụng tới ba cái chính trị nhức đầu lắm » hoặc « Rảnh quá ha, để thời gian đó làm chuyện khác có ích hơn… ».
Các trang Web giải trí bao giờ cũng đông lượng truy cập hơn hẳn các trang chính trị. Các ngôi sao ca nhạc, hài kịch biếng ăn, cảm cúm… hoặc tậu nhà, mua xe là có hàng vạn người theo dõi, nhưng diễn biến chính trị của đất nước thì rất ít người quan tâm.
Thế nhưng đây là đặc điểm của các nước có nền dân trí thấp. Ngày xưa các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vẫn hay than vãn về sự vô tâm của dân mình. Ngày nay nhiều người vẫn hay tỏ vẻ thương hại trước sự ngu ngơ,khờ dại của dân Bắc Hàn nhưng đâu biết rằng dân các nước phát triển nhìn mình cũng thế. Họ cũng nghĩ dân Việt Nam quá tội nghiệp, chẳng biết gì đến quyền của mình.
Chính trị là một khái niệm dễ gây dị ứng. Nó được hiểu như là một lĩnh vực khô khan, gây nhức đầu, chóng mặt, bất an… Không chỉ người lao động kiêng nói chính trị mà ngay cả giới trí thức cũng tránh xa nó như tránh hủi. Nói chính trị, làm chính trị, tham vọng chính trị… luôn được dùng với hàm ý mỉa mai. Nó dường như là độc quyền của giới lãnh đạo và người dân chỉ được biết đến chính trị khi nào Đảng cần biến các nghị quyết của Đảng thành « hành động cách mạng ».
Thực chất chính trị gần gũi với người dân như cơm ăn nước uống hàng ngày. Chỉ có điều họ không nhận thức được điều này.
– Giá xăng, giá điện,giá sữa…tăng liên tục là do đâu ? Chính là do độc quyền kinh tế. Phanh phui vấn nạn này sẽ lòi ra các nhóm lợi ích. Là một vấn đề chính trị.
– Cuối tháng nghe con cái xin tiền đóng học phí, bảo hiểm, quỹ lớp, sách giáo khoa, học thêm… Là vấn đề thuộc về ngân sách dành cho giáo dục. Cũng chính trị.
– Vào bệnh viện bị chặt chém không thương tiếc tiền khám chữa bệnh…Lỗi cơ chế. Cũng chính trị.
Thế nhưng con người ta chỉ cảm thấy hơi thở của chính trị nóng rực bên tai mỗi khi có việc động chạm đến cửa quan. Chầu chực chờ đợi, bị khất hẹn lần lửa, bị lừa phỉnh, mất tiền vì nạn hối lộ tham ô… lúc đó họ mới thấy mình dại, chẳng biết gì về chính trị, về cách thức tổ chức của bộ máy nhà nước để ai nói sao nghe vậy, chẳng khác một con lừa.
Nói đến « dân chủ » người Việt chỉ biết đến một khái niệm mơ hồ là người dân làm chủ đất nước mình. Người ta không biết biểu hiện cụ thể của nó như thế nào. Cũng như người nông dân suốt đời chân lấm tay bùn… đâu biết đến cuộc sống tiện nghi nên chỉ một « nắm xôi » đôi khi cũng đủ để thỏa mãn. Họ đâu biết là nếu nước có dân chủ thực sự, họ sẽ tận hưởng được nhiều cái sung sướng như thế nào.
Trước tiên là lá phiếu của họ có thể quyết định đến các ông tai to mặt lớn mà họ vẫn nghĩ là đang nắm quyền sinh sát vận mệnh của họ. Nếu như dân các nước phát triển bằng mọi cách phải gởi cho được lá phiếu mình đi thì người Việt lại mang tư tưởng: « Không có mợ, chợ vẫn đông », việc mình có hay không tham gia bầu cử cũng chẳng ảnh hưởng gì đến sinh mệnh đất nước.
Dân chủ sẽ thúc đẩy kinh tế tạo ra thặng dư khiến phúc lợi xã hội lớn. Con cái họ đến trường sẽ được thầy cô giáo dục chu đáo. Vào bệnh viện, các bác sĩ sẽ săn đón, lễ phép chứ không đụng một chút là chửi như tát nước vào mặt. Ra đường gặp anh CA cũng được chào hỏi, thưa gửi đàng hoàng chứ không phải là thái độ hách dịch, lỗ mãng… Về già họ cũng sẽ được chăm lo đầy đủ về vật chất, sức khỏe chứ không phải bị bỏ mặc cho đến ngày ra nghĩa trang hoặc lò thiêu.
Như vậy, chừng nào người Việt vẫn sợ chính trị, vẫn chưa biết quyền của mình thì chừng đó họ vẫn còn bị đè đầu, cưỡi cổ, lá phiếu của họ vẫn chẳng hơn gì một tấm giấy đi vệ sinh. Họ vẫn để những ông nghị như Hoàng Hữu Phước làm đại diện cho họ, vẫn để những bà bộ trưởng như Nguyễn Thị Kim Tiến nắm trong tay vấn đề sức khỏe của họ. Cũng chỉ vì họ chưa biết rằng ngòi bút đôi khi sắc hơn lưỡi kiếm. Và mọi chính thể độc tài đều rất sợ tiếng nói chính trị của người dân. Không ai có thể cởi trói cho mình bằng chính mình. Nhưng suy cho cùng không phải ai cũng hiểu được điều này. Bởi nếu không thế nước đã chẳng phải HÈN như bây giờ.
Nguồn: FB Dương Hoài Linh – Hình minh họa: Internet
Những lời phát biểu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm
3 NovNhững lời phát biểu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Trần Quốc Việt (Danlambao) – Nhân dịp năm mươi năm ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng bào đệ Ngô Đình Nhu bị sát hại trong cuộc đảo chính đẫm máu vào ngày 2 tháng 11, 1963, chúng tôi sưu tầm và trích dịch một số lời phát biểu sau của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Nguồn: Wilson Center Digital Archive
http://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/118361


















































































































































41 Ý kiến:
Lưu Ý :
– Những phản hồi sử dụng « Nặc danh/Ẩn danh »sẽ không được xuất hiện. Các bạn có thể chọn một nickname cho mình khi phản hồi bằng cách sử dụng các chức năng : « Tên/Url », hoặc bằng tài khoản Google
– Nếu nội dung phản hồi quá dài sẽ bị máy chủ BlogSpot hiểu lầm là Spam (không cho hiện lên), xin bạn vui lòng chia nội dung thành nhiều phần, hoặc chờ Dân Làm Báo cho xuất hiện lại phản hồi
– Những phản hồi chữ Việt không dấu cũng sẽ bị xóa.
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời
Trả lời