Tổng Thống Ngô Đình Diệm

12 Jan
Tháng 11 tưởng niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Xin mọi người hãy đề phòng âm mưu thâm độc :Việt cộng đang gắp lửa bỏ …tay người min nam
Nguyễn Mỹ Hào
Chỉ còn thiếu 5 năm nữa là tròn một trăm (100) năm những nhà nước theo chủ nghĩa quái thai cộng sản hiện hữu trên trái đất, dù nay chỉ còn loe nghoe mấy mống như Việt Nam, Tầu lục địa, đảo quốc Cu Ba, bắc Cao Ly và Lào quốc. Nhưng những núi tội ác do những con người cộng sản gây ra cho nhân loại như giết hại cả trăm triệu người mà trong cuốn Hắc thư – Le livre noir du Communisme của một số nhà trí thức người Pháp viết ra, đứng đầu la Stéphane Courtois. Rồi Quốc hội châu Âu ra nghị quyết lên án và quy kết tội ác cộng sản, cũng như một bia đá hoa cương mầu đen đã được dựng lên tại thủ đô Hoa Thịnh đốn – Hoa Kỳ để tưởng niệm những nạn nhân của cái chủ nghĩa không tưởng này.
Riêng tại Việt Nam thì bọn tội đồ quốc tặc Hồ chí Minh và bè lũ cho đến nay, đã, đang và sẽ vẫn còn gây ra cho dân tộc và đất nươc biết bao đau thương, tang tóc, khổ ải trùm lên đầu lên cổ người dân trong nước đang phải ngày đêm chịu đựng. Đất nước thì tan hoang, môi trường sinh thái bị ô nhiễm trầm trọng. Đảng Cộng sản Việt Nam đang làm tha hóa nền luân lý và đạo đức dân tộc, biến nền văn hóa nhân bản, dân tộc và khai phóng của tổ tiên Hồng Lạc ra thành mớ văn hóa nô dịch bán nước. Biến xã hội lành mạnh thành xã hội đen với những băng đảng côn đồ . Xã hội Việt Nam ngày nay đang bị bọn Việt cộng làm băng hoại xuống tận cùng vực thẳm. Bần cùng hóa người dân, biến họ thành công cụ sản xuất và chỉ được ngoan ngoãn nghe lời và làm theo mà không được suy nghĩ, nói điều gì hay làm việc gì trái ý đảng, nếu không như vậy thì là phản động là thù địch. Luật đảng trên hiến pháp, đảng viên là hạng siêu công dân. Bằng chứng văn tự, giấy tờ bọn quốc tặc Việt cộng bán nước, dâng biển, hải đảo và đất liền cho Tầu cộng như công hàm năm 1958, hiệp ước biên giới năm 1999, hiệp ước biển năm 2000 rành rành ra đó.
Còn buôn dân thì ôi thôi đã có hàng mấy trăm ngàn phụ nữ Việt Nam bị lừa bán đi, phải siêu bạt đến những làng mạc khỉ ho cò gáy nơi đảo quốc Đài loan, thôn quê giá lạnh ở đất nước Nam Hàn, miền sỏi đá Tân cương để làm vợ những đàn ông bản xứ khật khùng, luống tuổi; cho nên đã có những vụ bị chính người chồng sát hại. Bộ xã hội của cái gọi là chính phủ CHXHCNVN hằng năm phải có kế hoạch xuất cảng lao động với con số cả mấy trăm ngàn người, bằng cách để ngay cho các tổ chức công quyền, kể cả những đơn vị quân đội đứng ra chiêu dụ người dân cầm cố tài sản như thẻ đỏ chứng nhận quyền sở hữu nhà đất lấy hàng chục ngàn dollar nộp cho nhà nước để được đi. Bảo kê cho những tổ chức tội phạm, những tên bất lương đưa những bé gái sang Kampuchea, Thái lan bán cho tú bà, nhà chứa.
Đúng ra không phải đảng Cộng sản Việt Nam không biết, không thấy những việc họ làm như trên, trái lại, chúng rất rành rẽ và biết rất cặn kẽ, chi ly, song vẫn làm, bởi tuy mang vóc dáng hình hài là người, nhưng chế độ cộng sản vốn mang sẵn bản chất thú vật, mà chẳng có lấy một chút nào là bản tính con người . Cho nên không phải bây giờ, từ ngay sau ngày được về Hà Nội – tháng 10/1954, bọn Hồ tặc đã có kế hoạch tạm gọi là “gắp lửa bỏ tay người” để chạy tội. Đến nay có thể nói chúng đã thành công được một phần nhỏ đối với một số người trong nước, cũng như với số không ít người đang sinh sống ở hải ngoại. Người viết gặp trường hợp xin kể ra sau đây để xin mọi người suy ngẫm và nếu xét ra thấy có phần nào đúng thì xin hãy đề phòng kẻo mắc mưu Việt cộng.
… Tôi có người em nay cũng đã ngồi ở chiếu cổ lai hi, xuất thân khóa hai mươi mấyThủ Đức – trước trận Mậu Thân 1968 khoảng hai năm, chuẩn bị đeo 1 bông mai bạc vào ngày quân lực 19/6/1975 nếu không có Quốc hận 30/4, hiện định cư tại một thanh phố nhỏ tiểu bang Washington. Nhân cần giải quyết chút công việc chung gia đình, vào đầu tháng 9/2012 vừa rồi chú đến San Jose California. Gặp nhau anh em nói đủ mọi chuyện, nhưng chú ít đề cập đến hiện tình đất nước và luôn hỏi về Nền Đệ Nhất Cộng Hòa, đặc biệt là về gia đình họ Ngô. Như chú hỏi tại sao bà Nhu lại được xưng là đệ nhất phu nhân, hiến pháp đâu có cho phép, tại sao ông Cẩn lại là cố vấn miền Trung.Tại sao cấm phật giáo treo cờ, trong khi không cấm công giáo ? Tại sao lại có cuộc bắt bớ đêm 20/8/1963? … Chú còn nói : “… cho nên cứ mỗi lần ông Nhu họp với Phạm Hùng là quân đội Việt Nam Cộng Hòa phải thua trận mà sự thiệt hại cả tiểu đoàn …” Tất nhiên tôi với sự hiểu biết đã trả lời và giải thích, chú nghe, nhưng xem ra trong lòng không mấy thỏa mãn, có lẽ là cần giữ gìn chút di sản gia phong cũng như sự hiểu biết của tôi chỉ có vậy nên chú không đẩy câu chuyện xa hơn nữa. Sau một tuần xong công việc, bố con chú từ giã trở về Washington. Phần tôi tự suy nghĩ là tại sao ông này nay lại có ý tưởng và đặt vấn đề như vậy, có phải chỉ để tìm hiểu một giai đoạn lịch, vì lúc ấy chú vẫn chưa hoàn tất chương trình học vấn đệ nhị cấp, tuy biết nhưng không thông suốt và tường tận chăng ?
Nhưng không phải vậy. Sau sáu ngày về nhà, chú gửi qua bưu điện cho tôi một bì thư trong có 3 trang giấy đánh máy (in một mặt) kèm mấy chữ viết tay “… Anh, Em được người bạn gởi cho tài liệu này, em photo gửi xuống anh, Anh đọc cho đỡ buồn …” . Ngay đầu trang nhứt có dòng chữ Tổng giám mục Ngô Đình Thục : Nhiều tham vọng nhiều cay đắng – Thứ Bẩy 06/09/2008 lấy xuống từ website, nguồn online CAND.com.vn. Hết bài có hai chữ Văn Thư. Với câu mở đầu “Theo lời nhận xét của ông Quách Tòng Đức, từng …” để đưa người đọc vào nội dung chính lá nói về thân thế và việc làm của TGM Ngô Đình Thục, bằng giọng điệu hạ cấp của mớ danh từ cầu Ông Lãnh … như nói về một người đi tu mà viết ăn nên làm ra, hoạn lộ sau này của Ngô Đình Thục…Cũng như phải mượn lời của linh mục Trần Tam Tỉnh ( những ai biết rõ về lm này?) của tướng nổi loạn Nguyễn Chánh Thi (chữ dùng của VC) hay người ta nói …Mặc dầu viết chi tiết về nhân vật đề cập như sinh ra con ai, số anh em, học hành và gán cho những toan tính … những việc làm, nhưng hoàn toàn với tôi và nhiều người khác thì chẳng có gì mới lạ. Bởi chúng tôi là những người phải bỏ quê hương miền Bắc chạy vào Nam để rồi ngay đó, tức sau tháng 7/1954 đã cùng với mọi người do Thủ tướng, rồi là Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo khai lập nên nước Việt Nam Cộng Hòa. Cho dù hiện tại bọn Bắc bộ phủ có vo tròn bép méo thì lẽ công bằng của sự thật lịch sử muôn đời vẫn là sự thật.
Tuy một phần dựa vào những sự kiện hiển nhiên như việc TGM Ngô Đình Thục với trách nhiệm của một người đứng đầu tổng giáo phận Vĩnh Long rồi Huế, ngoài việc hướng dẫn tinh thần tín điều giáo lý, còn phải lo nhiều mặt về đời sống vật chất, thì việc tạo mãi, sở hữu chủ những tài sản hầu tìm kiếm những khoản tài chánh để chi dùng cho nhiều công việc chung thì ai, tổ chức tập thể nào và ở đâu cũng phải làm như vậy, nếu là con người có lương tâm và liêm sỉ. Nhưng sau những dòng chữ khai thác lâm sản, mua thương xá Tax, làm chủ nhà sách Albert Portail … để rồi viết …”Thậm chí không ít người miền Nam khi đó còn cho rằng, Tổng giám mục Ngô Đình Thục đã nuôi tham vọng Công giáo hóa toàn bộ cái gọi là nèn đệ nhất cộng hòa …” hoặc như câu : “ …Chính nhà tu này đã có vai trò rất quan trọng trong việc thiết kế những mối quan hệ hữu hảo với phương Tây thông qua Hồng y Giáo chủ Spellman để cuối cùng Washington đã chọn Ngô Đình Diệm làm con bài chống Cộng …” một đoạn khác “… Một nhân chứng khác ở thời đó đã ghi chép lại về thời điểm miền Nam nằm dưới sự trị vì của chế độ gia đình trị của dòng họ Ngô Đình như sau :”Các linh mục thuộc tập đòan Ngô Đình Diệm đã ra sức thao túng, bóc lột, cướp tài sản của dân chúng …Hỏi ngay vậy chứ tại Việt Nam ngày nay (2012) có mấy triệu dân oan đã phải cả hai ba chục năm nay mang đơn đi khiếu kiện vì bị cướp nhà, cướp đất, vụ Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản … thì sao nhỉ ???
Trong khi chính Giáo sư Tiến sĩ Mark Moyar dậy về An ninh Quốc gia tại đại học quân sự Corps University, đồng thời là chuyên gia lịch sử quân sự, và cũng là tác giả nhiều sách nghiên cứu vể chiến tranh Việt Nam khẳng định rằng sự thật là chính Bảo Đại đã bổ nhiệm Ngô Đình Diệm vào chức vụ Thủ tướng chỉ vì uy tín của Ông Diệm nổi bật trong hàng ngũ những người Quốc gia. Lúc ấy người Mỹ không biết gì nhiều về Ông Diệm
Tóm lại, ba trang giấy mà chú em tôi cho là một tài liệu quý giá, hiếm, thì với tôi và có lẽ nhiều người nữa chỉ là tờ giấy vứt đi không hề có chút ích lợi gì kể cả cho việc vệ sinh. Vì rằng chỉ có một phần nhỏ sự thật đương nhiên (nói về TGM. NĐT) nhưng cốt dựa và những sự kiện ấy để đổ cho người ta những tội khác như Công giáo hóa toàn bộ … Đành rằng hầu hết những người Quốc gia chân chính đã dư biết ngay từ những tay gộc cộng sản như quốc tặc Hồ Chí Minh cũng vẫn chỉ là một loại chuyên ăn đứng dựng ngược dối trên lừa dưới – lừa già gạt trẻ; thì việc chúng viết ra những loại rơm rác như trên không mới lạ gì, nhiều, nhiều lắm, kể ngay cả đã từ trước 1975 chúng đã cho phổ biến rộng rãi cuốn Tây dương bí lục … Nhưng cũng lại không ít người tương tợ như chú em tôi, là người Việt Nam yêu nước, nhưng như lời giáo sư Mark Moyar nói, lại “rất dễ tin”. Và bọn Việt cộng đã nhắm đúng vào những người dễ tin, nhất là giới trẻ, để hướng dẫn, lái dần cái nhìn, cái nhận định, nhận xét, tìm hiểu của họ vào đúng mục đích chúng muốn. Nghĩa là bóc lột, cướp tài sản của dân chúng và tham vọng biến Việt Nam Cộng Hòa là nước Công giáo… Kỳ thị tôn giáo, đàn áp Phật giáo là tội của họ Ngô Đình.
Mặt khác nói gì thì nói, chứ theo người viết thì cộng sản ngu nhiều thứ, nhưng về tâm lý người ta chúng không ngu, trái lại rất rành. Dám hỏi cho đến lúc này ai là người lại muốn nước Việt Nam Công giáo hóa? Chắc chắn ngay cả những vị chức sắc và tín hữu của Thiên Chúa, chân chính và hiểu biết cũng không muốn, cũng như tuy đã 49 năm của lịch, nhưng vẫn còn nhiều người liên hệ vụ lễ Phật Đản 1963 – cả trong hàng Giáo phẩm và tín đồ có được bao nhiêu người theo đúng lời Phật dậy là hỉ xả, hay trái lại nếu không còn căm thù thì vẫn tức giận ? Cho nên khi đã gieo được vào tư tưởng người ta những điều chúng muốn thì đâu còn khó khăn gì mà không kích động họ căm thù; từ đó mọi người sẽ quên đi không còn chú ý hay nhớ đến việc chúng làm : “ quốc tặc, tội đồ – buôn dân, bán nước – hèn với giặc ác với dân …”
Nói thêm gia đình chúng tôi là Phật giáo truyền thống – Suốt từ tháng 8/1954 đến biến cố 1/1/1963 người viết tuy là người lam việc tích cực của chế độ nhưng không có được gì để gọi là ưu đãi, bởi Đệ I/CH không có chính sách này. Hoàn toàn không bị ai dụ hay ép vào đảng Cần lao hay cải theo đạo Công giáo.
San Jose cuối tháng 10/2012.
NGUYỄN MỸ HÀO

From: Hung Bui
Xin bấm
vàođây
HIẾN PHÁP ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA VIỆT NAM 1956với TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC, được XÂY DỰNG trên NỀN TẢNG VĂN HÓA LẠC VIỆT để BẢO VỆ QUYỀN CÔNG DÂN và sự TÒAN VẸN LÃNH THỔ trong HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC

VÔ CÙNG TUYỆT VỜI

Bùi Như Hùng

26 – 10 – 2010

Montreal-Quebec-Canada

PHÂN TÍCH và THẨM ĐỊNH HIẾN PHÁP ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA VIỆT NAM 1956

Bùi Như Hùng
2010
– chữ màu nâu là nguyên văn của Hiến Pháp
– chữ màu xanh và nghiêng là lời Thẩm Định của Bùi Như Hùng
MỤC LỤC
A
NHẬP ĐỀ
PHẦN I : PHÂN TÍCH HIẾN PHÁP
Ă Ý NGHĨA
 MINH ĐỊNH LẬP TRƯỜNG VÊ ĐẤT NƯỚC
B MINH ĐỊNH VÊ CHỦ QUYỀN NGƯỜI CÔNG DÂN
C MINH ĐỊNH VÊ TÍNH CÁCH TỔNG THỐNG CHẾ
D TINH THẦN QUỐC GIA DÂN TỘC
D1 Căn Bản
D2 Bổn Phận Công Dân
Đ TỔNG THỐNG CHẾ
Đ1 Căn Bản Tổng Thống Chế
Đ2 Đặc Quyền của Tổng Thống
E QUỐC HỘI
E1 Căn bản
E2 Đặc Quyền Quốc Hội
E3 Tinh Thần
Ê TƯ PHÁP
Ê1 Căn Bản
Ê2 Đặc quyền Tư Pháp
G ĐẶC BIỆT PHÁP VIỆN
G1 Căn Bản
G2 Đặc Quyền Tối Thượng
H TRỌNG TÂM KINH TẾ
H1 Căn Bản: Thành phần hội đồng bao quát
H2 Tinh Thần
I CHÍNH NGHĨA
K SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
PHẦN II : THẨM ĐỊNH HIẾN PHÁP
L ĐẶT TRỌNG TÂM VÀO QUỐC HỘI
M TÍNH CHẤT TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC
M1 Căn Bản
M2 Công Bằng và Tự do tín ngưỡng
N VĂN MINH NHÂN BẢN
O KẾT LUẬN
Xin bấm vào đây >>>
NGUYÊN VĂN của HIẾN PHÁP

A.] NHẬP ĐỀ :

Trong bài PHÂN TÍCH và THẨM ĐỊNH nầy
toàn bộ Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1956 được phân tích từng điều, từng đoạn, có khi từng chữ, rồi tổng hợp ý hướng của Hiến Pháp trong một tinh thần trong sáng và xây dựng để độc giả có căn bản suy tư về một bản văn bất hủ được khai sinh ra trong một bối cảnh vô cùng đặc biệt và trong một thời kỳ lịch sử trọng đại của quốc gia Việt Nam.
Chúng tôi nhận thấy rằng chưa có một Hiến Pháp nào trên thế giới đạt được 2 khía cạnh: Tiên tiến và Bảo vệ Truyền thống Dân tộc trong mục đích phát triển toàn diện con người như Hiến Pháp VNCH 1956.
Dư luận chung của nhiều người nghiên cứu về thể chế Việt Nam Cộng Hòa đều cho rằng ông Ngô Đình Nhu là kiến trúc sư của Hiến Pháp VNCH 1956.
Cũng đúng thôi, vì nếu xét cho đến rốt ráo của cơ chế căn bản của nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam thì ông Ngô Đình Nhu, trong tác phong, hành động và tư tưởng qua các tác phẩm siêu việt của ông [CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM] thì Hiến Pháp VNCH 1956 là sự gởi gắm cho hậu thế một văn bản bất hủ của một bậc tài danh đã từng tốt nghiệp École Nationale des Chartres tại Paris và ông đã từng trông coi thư viện tại VN.
Từng hàng, từng chữ của HpVNCH1956 nói lên niềm tự hào dân tộc và niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước. Đây là bằng cớ hùng hồn của lòng ái quốc của quí vị lãnh đạo thời Đệ Nhất VNCH.
Có nhiều bình luận gia danh tiếng chỉ trích nặng nề HpVNCH1956 vì tuy họ có kiến thức sâu rộng nhưng lại bị các tài liệu xảo trá và ngụy tạo dùng để xuyên tạc bôi nhọ « nhà Ngô » [tỉ như HQ401 Chứng cớ Tội Ác Phao vu của CIA, Băng Đảng của Ngô Đình Nhu …] mà họ đã có những lời phê bình thiên lệch, hoàn toàn sai quấy và lố bịch.
Tất cả những lời phê bình của tất cả những nhà báo, luật gia, chính trị gia Việt Nam sau ngày 1 tháng 11 – 1963 đều bị ảnh hưởng của những tài liệu giả mạo của CIA vô luân, đã trơ trẽn vu cáo chính thể NĐD cho nên những tài liệu phê bình đó dù ít dù nhiều cũng đăng tải định kiến thiên lệch cho nên không có giá trị gì nhiều.
Trong những thập niên 50, rồi 60 đến 70, người ta tin ở tài liệu của CIA như con chiên tin vào Thánh Kinh, chính phủ Hoa Kỳ dựa vào các tài liệu của CIA và dùng làm kim chỉ nam cho các quyết định của họ (cho mãi đến sau nầy, CIA mới lòi chành cái bộ mặt tận cùng đê tiện và gian trá, thì nước VN đã lãnh đủ mọi hậu quả rùng rợn).
Những phê bình gia đó dù tài giỏi (như GS Thạc Sĩ Nguyễn Văn Bông, về Luật Pháp thì không ai giỏi hơn GS Bông) cũng không có đủ khả năng về Hiến Pháp bằng một người đã tốt nghiệp École Nationale des Chartres: chính ở cái điểm nầy mà tôi đã suy nghĩ và viết ra sự Thẩm Định của mình về Hiến Pháp VNCH 1956, nền tảng của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa.
PHẦN I
PHÂN TÍCH HIẾN PHÁP

Ă.] Ý NGHIÃ :

Chưa có một bản văn nào minh định rõ ràng tinh thần dân tộc Việt Nam bất khuất như LỜI MỞ ĐẦUcủa Hiến Pháp với hoài vọng bao la trong một tương lai huy hoàng của đất nước:
Sự tươi đẹp nhất của LỜI MỞ ĐẦU là đã nêu ra 2 yếu tố
lịch sử đấu tranh oai hùng của tổ tiên
ý chí quật cường của toàn dân
do đó mà tác giả của LỜI MỞ ĐẦU phát biểu sự Tin tưởng vào tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam với ý chí và niềm tin mãnh liệt vào quốc gia dân tộc (chứ không muốn ăn bám vào đế quốc dù đỏ dù xanh).

Cái hoài vọng và chủ trương của nhà lãnh đạo ái quốc của đệ Nhất VNCH là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.

Thật là tươi đẹp ! với chú tâm xây dựng một nền văn minh và nhân bản

và Mục đích chính và cũng là mục đích tối hậu là bảo vệ phát triển con người toàn diện chứ không phải để phục vụ cho một chủ nghĩa, hay cho nhiệm vụ thế giới đại đồng hoặc tôn thờ một đấng thần linh của bất cứ một tín ngưỡng nào cả.

Càng đọc càng suy nghĩ càng thấy tính chất siêu việt của nhà Lập Hiến: đây là một Tuyên Ngôn trước Quốc Dân vừa thoát ách thống trị của thực dân ác ôn và nhất là vừa thoát khỏi áp lực rùng rợn chặt đầu mổ bụng của Cờ Máu Việt Minh.

LỜI MỞ ĐẦU

Tin tưởng vào tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy ;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia ;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến :
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là :
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị :
Bảo vệ tự do cho mỗi ngườicho dân tộc ;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị ;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng ;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hòa thành sứ mạng trước đấng Tạo Hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp thuận bản Hiến pháp sau đây :
Chủ đích dân tộc độc lập, cương quyết chống xâm lăng là định kiến của các nhà lập hiến lúc bấy giờ, mà suy tư của họ đã được diễn đạt thật hào hùng và quyết liệt trong niềm tự hào nơi chính dân tộc Việt Nam.
(về 3 chữ đấng Tạo Hóa xin xem mục Tính chất Hữu thần của Tín ngưỡng Dân tộc ở phần M .] dưới đây).

Â.] MINH ĐỊNH LẬP TRƯỜNG về ĐẤT NƯỚC:

Sự minh định vô cùng rõ ràng Việt Nam Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân
và cũng minh định từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan ;

THIÊN THỨ NHẤT

Điều khoản Căn bản

Điều 1. – Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.

B.] MINH ĐỊNH về CHỦ QUYỀN của CÔNG DÂN:

Sự minh định như sau
Điều 2. – Chủ quyền thuộc về toàn dân.
Quyền hạng và ý nghĩa của Hành pháp và lập pháp rất rõ:
Điều 3. – Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
C.] MINH ĐỊNH TÍNH CÁCH TỔNG THỐNG CHẾ:
Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
Sự nêu rõ Tổng thống lãnh đạo Quốc dân là minh định Tổng Thống Chế. Sự lãnh đạo nầy là tượng trưng Quốc Gia Dân Tộc mà không thêm một quyền hạn đặc biệt gì. Quyền hạn của Tổng tống được minh định bởi các điều khoản sau đó từ điều 30 đến điều 46).
Một vài nhà phê bình nông cạn vội cho rằng Tổng thống lãnh đạo Quốc dân là như phía Cờ Máu Hiến pháp 1992 của Hà Nội xác định “Đảng Cộng sản Việt Nam,… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
« Đảng Cộng sản » là danh từ riêng, cho nên khi qui định Đảng Cộng sản Việt Nam,… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là áp bức nhân dân phải tuân thủ mọi quyết định của Đảng Cộng Sản.
HpVNCH1956 không hề đưa ra tên tuổi của một cá nhân hay đòan thể nào để lãnh đạo quốc dân thì là rất hợp pháp ở nơi tính chất uyên nguyên của nó. [phê bình cho rằng chính ông Nhu cố tình thiên vị giành quyền lãnh đạo cho TT Diệm là sai, sự lãnh đạo nầy có hiệu lực với tất cả các vị Tổng Thống tương lai]
Nếu HpVNCH1956 ghi rằng TT Ngô Đình Diệm hay Đảng Cần Lao lãnh đạo Quốc dân thì khi đó mới chỉ trích được, và Việt gian mới có cơ sở để xác minh sự so sánh với Hiến pháp Hà Nội.
Tỉ dụ như Điều Lệ của một hội đoàn ghi là « ông Chủ Tịch đại diện Hội đoàn trong mọi trường hợp » thì có gì là độc tài đâu? có gì là lạm quyền ? có gì là thiên vị.
Do sự suy tư nông cạn và thiên lệch mà một vài tên cán bộ tuyên truyền đen đã vu cáo HpVNCH1956 là chủ trương độc tài (qui hết quyền hạn về cho Tổng Thống).

D.] TINH THẦN QUỐC GIA DÂN TỘC:

Nhà kiến tạo Hiến Pháp đã nói lên sự suy tư lo lắng sâu xa
Điều 4. – Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
Điều 5. – Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
Ưu tư sâu xa của nhà Lập hiến ở vấn đề nhân cách, đó là đối đầu hẳn với chủ nghĩa vô luân của Cờ Máu
Điều 6. – Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
Điều 7. – Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiếp pháp.
Hơn thế nữa nhà Lập hiến đã minh định lập trường của Nước Việt Nam đối với Quốc tế, dưới 2 khía cạnh: chủ quyền quốc giabình đẳng giữa các dân dộc.
Điều 8. – Nước Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.

D1.] Căn Bản

Từ điều 9 đến điều 28 là gồm 20 điều minh định quyền Công Dân vô cùng súc tích: từ quyền tư hữu, tín ngưỡng cho đến mọi thứ tự do trong đời sống riêng tư và trong xã hội.

THIÊN THỨ HAI:

Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân

Điều 9. – Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do, và an toàn.
Điều 10. – Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
Trừ trường hợp phạm phá quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định của các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
Điều 11. – Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
Điều 12. – Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lịnh của Tòa án hoặc khi cần bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những sự đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
Điều 13. – Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cớ vệ sinh hay an ninh công cộng.
Mọi ngươi dân có quyền tự do xuất ngoại, trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh, hay lợi ích công cộng.
Điều 14. – Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
Điều 15. – Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng, và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
Điều 16. – Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc để lật đổ chính thể Cộng hòa.
Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
Nhà kiến tạo Hiến Pháp đã nói lên sự suy tư lo lắng sâu xa về TỰ DO TÍN NGƯỠNG, khác hẳn với Cờ Máu.
Điều 17. – Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
Nhà kiến tạo Hiến Pháp đã đặt Giáo hội Công giáo ở vào tư thế của một kẻ tội phạm vì Thánh Kinh không có luân lý và vi phạm trầm trọng thuần phong mỹ tục.
Điều 18. – Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
Điều 19. – Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
Nhà kiến tạo Hiến Pháp đã nói lên sự suy tư lo lắng sâu xa về QUYỀN TƯ HỮU, ĐỜI SỐNG XỨNG ĐÁNG và THỊNH VƯỢNG XÃ HỘI.
Cờ Máu sau sau 55 năm (1945-2001) thảm sát ít nhất 3 triệu dân (chặt đầu, mổ bụng, chôn sống, đâm chém, bỏ đói cho chết . . .) dưới chiêu bài chuyên chính vô sản, thì quay ra công nhận quyền tư hữu trong chủ trương « kinh tế thị trường ». Cái ngu dại vô cùng tận của Cờ Máu là đây: tàn hại dân tộc.
Điều 20. – Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tư sản vì công ích.
Đây là then chốt của văn bản ấn định rõ ràng quyền tư hữu chống lại Cộng sản Cờ Máu dưới chiêu bài vô sản chuyên chế.
Điều 21. – Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
Điều 22. – Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích độc chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
Quốc gia không thừa nhận chế độc độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh hay vì sự lợi ích công cộng.
Điều 23. – Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
Công chức không có quyền đình công.
Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
Nhà kiến tạo Hiến Pháp đã nói lên sự suy tư lo lắng sâu xa về AN SINH và TƯƠNG TRỢ:
Điều 24. – Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế, Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
Nhà kiến tạo Hiến Pháp đã nói lên sự suy tư lo lắng sâu xa về sự QUAN TRỌNG của GIA ĐÌNH:
Điều 25. – Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi. (còn các lãnh tụ Cờ Máu thì CHỦ TRƯƠNG PHÁ THAI ĂN BÀO THAI)
Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
Điều 26. – Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miến phí.
Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia công nhận.
Điều 27. – Mọi người dân đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
Điều 28. – Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định để tôn trọng quyền của những người khác cũng là thỏa mãn những đồi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống nhứt Quốc gia sẽ bị truất quyền.

D2.] Bổn Phận Công Dân

Điều 29 HpVNCH1956 là điều duy nhất ấn định Bổn Phận người dân:
Điều 29. – Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng theo khả năng đóng góp của mình.
Thêm vào đó Điều 40 của Hp VNCH 1956 là sự tôn trọng tuyệt đối ý kiến của người dân:
Điều 40. – Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng

Đ.] TỔNG THỐNG CHẾ :

Mặc dù Hiến pháp VNCH 1956 qui định VNCH theo Tổng Tống Chế nhưng quyền hạn và nhiệm vụ được ấn định một cách thông thường, không có gì ưu đãi hay áp chế dưới bất cứ hình thức nào.

THIÊN THỨ BA:

Tổng Thống

Đ1.] Căn Bản

Trong mục liên quan đến Tổng thống có cả thảy 18 điểu (từ điều 30 đến điều 47) mà 5 diều đầu tiên nói đến cách bầu và thời hạn nhận trách nhiệm
Điều 30. – Tổng Thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tổng tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng Thống.
Phó Tổng Thống được bầu một lần chung với Tổng Thống chung một danh sách.
Điều 31. – Có quyền tranh cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
1. Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có Quốc Tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến Pháp.
2. Cư ngụ trên lãnh thổ quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất là 15 năm.
3. Đủ 40 tuổi.
4. Hưởng các quyền công dân.
Chức vụ Tổng Thống và Phó Tổng Thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
Điều 32. – Nhiệm kỳ Tổng Thống và Phó Tổng Thống là 5 năm. Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử hai lần nữa.
Điều 33. – Nhiệm kỳ Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức, và nhiệm kỳ tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lúc ấy.
Nhiệm vụ Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn trong những truờng hợp sau đây:
1) Mệnh chung
2) Vì bệnh tật trầm trọng kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc Hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân Biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
3) Từ chức và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc Hội.
4) Bị truất quyền do quyết định của Đặc Biệt Pháp Viện chiếu điều 81.
Điều 34. – Cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống sẽ được cử hành vào ngày Chúa Nhật ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt.
Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng Thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống cho đến hết nhiệm kỳ.
Trong trường hợp dự liệu ở đoạn trên nếu không có Phó Tổng Thống, hoặc nếu Phó Tổng Thống vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ. Chủ Tịch Quốc Hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống để xử lý thường vụ và tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Quốc Hội quyền nhiếp Chủ Tịch Quốc Hội.
Những điều quan trọng đều phải được Quốc Hội thông qua, tất nhiên Tổng thống không thể chuyên quyền được:
Điều 35. – Tổng Thống ký kết và sau khi được Quốc Hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
Tổng Thống bổ nhiệm các Sứ Thần, tiếp nhận uỷ nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
Điều 36. – Với sự thoả thuận của một nửa tổng số Dân Biểu Quốc Hội, Tổng Thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hoà ước.
Điều 40. – Với sự thoả thuận của Quốc Hội, Tổng Thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng Thống và Quốc Hội tôn trọng.
Một số sinh hoạt thông thường trong nhiệm vụ « Trưởng cơ quan, Trưởng nhiệm sở » tương tự như quyền hạn của nguyên thủ quốc gia tại các nước tiên tiến và tự do, như thế thì có gì là độc tài ?
Điều 37. – Tổng Thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến Pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
Tổng Thống là Tổng Tư Lệnh tối cao của các lực lượng quân sự. Tổng Thống ban các loại huy chương. Tổng Thống sử dụng quyền ân xá, giảm xá, ân giảm, hoán cải hình phạt và huyền án.
Điều 38. – Trong truờng hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến Pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp báo động hoặc giới nghiêm, Tổng Thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu ấy.
Tuy nhiên cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
Điều 39. – Tổng Thống tiếp xúc với Quốc Hội bằng thông điệp.
Tổng Thống có thể dự các phiên họp Quốc Hội và tuyên bố trước Quốc Hội.
Mỗi năm vào đầu khoá họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng Thống báo cho Quốc Hội biết tình hình Quốc Gia và chính sách đối nội, đối ngoại của Chính Phủ.
Tôn trọng tuyệt đối ý kiến của người dân:

Điều 40. – Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.

Đ2.] Đặc Quyền của Tổng Thống:

Trong bối cảnh thù trong giặc ngoài, do tình trạng khẩn cấp [đặc biệt của VN lúc bấy giờ] Tổng Thống mới phải ký sắc lệnh cấp thời để ứng phó với tình hình, nhưng sau đó phải được Quốc Hội duyệt xét, đó là các Điều 41, 42 và 43. Điều 44 dự liệu là trong lúc khẩn trương tại một vài vùng, thì quyết định của Tổng Thống cần phải có và chỉ có tính cách tạm thời.
Điều 41. – Giữa hai khoá họp Quốc Hội, Tổng Thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn Phòng Quốc Hội ngay sau khi ấy.
Trong khóa họp thường lệ tiếp cận nếu Quốc Hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
Điều 42.- Trong trường hợp khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc Hội có thể biểu quyết một đạo luật uỷ cho Tổng Thống trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký sắc luật để thực hiện chính sách mà Quốc Hội ấn định trong đạo luật uỷ quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn Phòng Quốc Hội ngay sau khi ký. Ba mươi ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật uỷ quyền, nếu Quốc Hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
Đặc quyền về Ngân sách: Đây là vấn đề cần phải suy luận: Ngân sách là huyết mạch của guồng máy Quốc Gia, nhà Lập hiến nhận thấy phải đối phó với sự trì trệ trong vấn đề biểu quyết ngân sách ở Quốc Hội. Tại sao vậy ?
Nguyên do vì công nhân viênanh em quân nhân xứ ta rất nghèo, trông đến cuối tháng (ăn lương tháng) để được lãnh lương nuôi sống gia đình, không ai có thể đợi một hai tháng [có sống ở đất nước ta và phải có ưu tư đến an sinh dân tộc thì mới nhận thức được sự lo âu cao quí của nhà Lập hiến], do đó mối lo hàng đầu của nhà Lập hiến là phải quyết liệt với kỳ hạn chung quyết ngân sách (dứt khoát trước 31 tháng 12), nếu không thì Tổng Thống có quyền ban hành ngân sách cho tài khóa sau. Đây không phải là độc tài chi cả mà là bổn phận của chính phủ phải bảo đảm đời sống công nhân viên và binh sĩ. Đây là biện pháp cấp thiết cho một xứ nghèo nàn đang bị chiến tranh như Việt Nam mà nhà lãnh đạo đã vô cùng quan tâm (và tận tâm) trong sự thi hành trách nhiệm mà quốc dân giao phó.
Điều 43.- Trong trường hợp ngân sách không được Quốc Hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở điều 60, Tổng Thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khoản sau.
Mỗi tam cá nguyệt, Tổng Thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc Hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
Trong đạo luật ngân sách, Quốc Hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
Quyền hạng của Tổng Tổng cũng chỉ giới hạn tại một vài khu vực mất an ninh. Điều 44 là trong lúc khẩn trương tại một vài vùng, quyết định của Tổng Thống chỉ có tính cách tạm thời (một vài ngày, một vài tháng). Sự chậm trể trong việc chuẩn y ngân sách có thể gây ra nhiều hậu quả không lường được, do đó Quốc hội phải dự liệu bù vào khoản hao hụt (có quyền, tất phải có trách nhiệm).
Điều 44.- Tổng Thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng, các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
3 điều khoản sau đây không có gì đặc biệt.
Điều 45.- Khi nhậm chức, Tổng Thống tuyên thệ như sau:
Tôi long trọng tuyên thệ:
– Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng Thống.
– Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến Pháp.
– Trung thành phụng sự Tổ Quốc và hết lòng phục vụ ích lợi công cộng.
Điều 46.- Tổng Thống có Phó Tổng Thống và các Bộ Trưởng và Thứ Trưởng phụ tá. Các Bộ Trưởng do Tổng Thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng Thống.
Điều 47.- Các Bộ Trưởng và Thứ Trưởng có thể hội kiến với Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch Quốc Hội và các Chủ Tịch Uỷ Ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.

E.] QUỐC HỘI: LẬP PHÁP

Quốc hội là cơ chế căn bản của Tự do Dân chủ.

Trong phần nầy HpVNCH1956 chỉ thành lập một viện là viện Dân biểu. Không có Thượng viện. Có lẽ là để bớt sự rườm rà (gây trễ nãi, và cũng bớt kinh phí cho ngân sách quốc gia).

E1.] Căn Bản :

Có 22 điều liên quan đến Quốc Hội (từ điều 48 đến đến 69) tương đối thông thường, không có gì đặc biệt

THIÊN THỨ TƯ:

Quốc Hội

CHƯƠNG MỘT: DÂN BIỂU

Điều 48.- Đạo luật tuyển cử ấn định số dân biểu Quốc Hội và số đơn vị bầu cử.
Điều 49.- Dân biểu được bầu cử theo lối phổ thông, trực tiếp và kín theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
Điều 50.- Có quyền ứng cử Dân Biểu những người:
1. Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã phục hồi Việt tịch ít nhất ba năm, trừ những người đã phục hồi Việt tịch trước ngày ban hành Hiến Pháp.
2. Hưởng các quyền công dân.
3. Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu.
4. Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
Tuy nhiên trong trường hợp đặc biệt, những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ Quốc hoặc những người phục hồi Việt tịch có thể được Tổng Thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm năm hoặc ba năm ghi trên.
Điều 51.- Nhiệm kỳ Dân Biểu là 3 năm. Các Dân Biểu có thể được tái cử.
Cuộc bầu cử Quốc Hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
Điều 52.- Khi một Dân Biểu từ chức, mệnh chung hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
Sẽ không bầu Dân Biểu thay thế nếu sự khống khuyết xảy ra không đầy 6 tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
Điều 53.- Nhiệm vụ Dân Biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay một nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
Nhiệm vụ Dân Biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ Trưởng và Thứ Trưởng.
Tuy nhiên, Dân Biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá 12 tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân Biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc Hội hoặc tại Uỷ Ban của Quốc Hội.
Dân Biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân Biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
Điều 54.- Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân Biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc Hội hoặc tại Uỷ Ban của Quốc Hội.
Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc Gia, hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân Biểu trong suốt thời gian các khoá họp Quốc Hội kể cả thời gian đi họp và về họp.

E2.] Đặc Quyền Quốc Hội:

CHƯƠNG HAI: QUYỀN HÀNH CỦA QUỐC HỘI

Điều 55.- Quốc Hội biểu quyết các đạo luật. Quốc Hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định Quốc Tế.

CHƯƠNG BA: THỦ TỤC LẬP PHÁP

Điều 56.- Dân Biểu có thể đưa ra Quốc Hội xét các dự án luật. Tổng Thống có thể đưa ra Quốc Hội xét các dự thảo luật.
Cần phải nêu rõ: các dự luật (dự án luật và dự thảo luật) sau khi được Quốc hội biểu quyết chấp thuận thì trở thành luật
Điều 57.- Các dự án và dự thảo luật được Quốc Hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng Thống trong thời hạn 7 ngày tròn.
Tổng Thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn 30 ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc Hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn 7 ngày tròn.
Điều 58.- Trong thời hạn ban hành, Tổng Thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do để yêu cầu Quốc Hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
Khi phúc nghị, nếu Quốc Hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng Thống thì Quốc Hội sẽ chung quyết bằng cuộc minh danh đầu phiếu với đa số 3/4 tổng số Dân Biểu Quốc Hội.
Điều 59.- Trong thời hạn ấn định ở điều 57, nếu Tổng Thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc Hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
Điều 60.- Dự thảo ngân sách phải gửi tới Văn Phòng Quốc Hội trước ngày 30 tháng 9. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày 31 tháng 12.
Điều 61.- Dân Biểu có quyền đề khởi những khoản chi mới nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.

CHƯƠNG TƯ : ĐIỀU HÀNH QUỐC HỘI

Điều 62.- Quốc Hội nhóm họp những khoá thường lệ hoặc bất thường
Điều 63.- Hàng năm có hai khoá họp thường lệ; mỗi khoá đương nhiên bắt đầu ngày Thứ Hai đầu tiên trong tháng 4 dương lịch và một khoá đương nhiên bắt đầu ngày Thứ Hai đầu tiên trong tháng 10 dương lịch. Mỗi khoá họp thường lệ không lâu quá 3 tháng.
Điều 64.- Quốc Hội phải được triệu tập nhóm họp các khoá bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng Thống hoặc quá nửa Tổng Số Dân Biểu Quốc Hội.
Trong trường hợp Tổng Thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khoá họp bất thường do Tổng Thống ấn định.
Trong trường hợp Dân Biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khoá họp bất thường do Văn Phòng Quốc Hội ấn định.
Thời gian mỗi khoá họp bất thường của Quốc Hội không được quá 30 ngày.
Điều 65.- Quốc Hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên Quốc Hội sẽ họp kín, nếu quá nửa số Dân Biểu hiện diện hoặc Tổng Thống yêu cầu.
Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc Hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc Hội họp kín.
Điều 66.- Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân Biểu, Quốc Hội sẽ chỉ định một Ủy Ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
Quốc Hội có trọn quyền định đoạt.
Điều 67.- Quốc Hội sẽ bầu Chủ Tịch, 2 Phó Chủ Tịch, 1 Tổng Thơ Ký, 3 Phó Tổng Thơ Ký và một số nhân viên cần thiết.
Quốc Hội chỉ định các Uỷ Ban.

Điều 68.- Quốc Hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
– Tổ chức nội bộ Quốc Hội và Văn Phòng.
– Thủ tục Quốc Hội và quyền hạn Văn Phòng.
– Kỷ luật trong Quốc Hội và các sự chế tài về kỷ luật.
– Thành phần và quyền hạn các Uỷ Ban.
Điều 69 nầy là để nói về giá trị của một dự luật, chứ không phải luật, nghĩa là nếu 1 dự luật không hội đủ 1/3 dân biểu thì coi như bị hủy mà không được đưa ra Quốc hội thảo luận. Điều luật nầy tránh cho Quốc hội phải thảo luận nhiều dự luật vu vơ.
Điều 69.- Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc Hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ túc số 1/3 tổng số Dân Biểu.

E3.] Tinh Thần :

Xét về khía cạnh Tinh Thần của bản văn nầy thì cũng không khác mấy những bản văn của nhiều nước có nền Cộng Hòa trong thể chế tự do dân chủ.
Dự Luật DL gồm Dự Án Luật DAL (là do Quốc Hội) và Dự Thảo Luật DTL (là do Hành pháp chuyển đến Quốc Hội) phải được 1 phần 3 (1/3) dân biểu chấp thuận mới được cứu xét, nếu nhiều hơn 1/3 thì càng quí [cần nói rõ là DL chưa phải là luật, và DL không có một hiệu lực nào cả, chữ có giá trị của Điều 69 có nghĩa là giá trị của một DL]. Còn những DAL và DTL không hội đủ 1/3 dân biểu chấp thuận thì không được cứu xét để có thể trở thành luật. Điều lệ này rất cần thiết để loại bớt những bản văn DL vu vơ. Sau đó dĩ nhiên DL phải được Quốc hội cứu xét biểu quyết (ở hội nghị khoáng đại với đa số Dân Biểu) chấp thuận thì mới trở thành luật.

Ê

 

Cùng nói lên sự thật của sự thật lịch sử
Sự Thật Lịch Sử
Đ NHT CNG HÒA
của Miền Nam (1955-1963)
Huỳnh Văn Lang
(Bài nói chuyện ở Hội Tác giả VN Hải ngoại, ngày 08-11-2009)
Nội dung của bài nói chuyện hôm nay là những sự kiện hay những biến cố quan trọng nhứt đã đưa đến sự hình thành ra Đệ nhứt Công hòa của miền Nam VN (1956-1963), mà cái ID của nó là Hiến Pháp năm 1956, cũng là phần kết của bài nầy.
Inline image 1
Hưởng ứng lời kêu gọi của thủ tuớng Ngô đình Diệm (NĐD) về giúp nước, từ Chicago, Illinois, tôi về đến Sài gòn ngày 24 tháng 8, 1954 và liền sau đó vì thời cuộc đưa đẩy, thủ tướng NĐD đã đặt để tôi vào những địa vị, nếu gọi được là địa vị hay đúng hơn là cương vị, để tôi thành ra chứng nhân cho những sự kiện tôi muốn ghi lại ra đây. Những sự kiện tôi trình bày sau đây có ba giá trị khác nhau: là chứng nhân, không chứng nhân nhưng biết thật chắc chắn và một ít chuyện không biết chắc, quí vị sẽ phân biệt được 3 giá trị khác nhau đó.
1.- Cương vị thứ nhứt. (Phụ tá Bí thư của thủ tướng NĐD)
Đầu tiên tôi tạm thời thay thế anh Võ văn Hải là bí thư của Thủ tướng, để anh tạm thời giữ chức Chánh văn phòng, thình lình bỏ trống. Ba ngày đầu tôi ăn ngủ trong dinh Gia long, sau được đưa ra ngủ nghỉ ở khách sạn Kinh hoa, Chợ lớn, nhưng luôn luôn về dinh Thủ tướng ăn cơm trưa và tối cho đến khi Thủ tướng cho lệnh bộ Tài chánh cấp cho villa số 140, đường Hai bà Trưng, SG. Cho nên tôi may mắn làm việc bên Thủ tướng cho đến ngày 10 hay 11 tháng 10, 1954. Chính trong thời gian ngắn ngủi 45 ngày nầy đã xảy ra biến cố Nguyễn văn Hinh, Tổng tham mưu quân đội Quốc gia VN muốn đảo chánh.
Để dễ hiểu rõ biến cố nầy thiết nghĩ cũng nên nhắc lại, trước đó, ngày 16, tháng 6, ông Ngô đình Diệm được Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm làm thủ tướng, lập nội các VN thay thế chánh phủ hoàng thân Bửu Lộc. Thiết nghĩ khi bổ nhiệm NĐD, Quốc trưởng Bảo Đại (BĐ) có hội kiến với bộ Ngoại giao Mỹ và cũng có thể với chánh phủ Pháp nữa, vì Pháp dù có thua trận ở Điện biên phủ trong tháng 5 rồi, nhưng vẫn còn nắm quyền Ngoại giao và Quốc phòng ở VN với một đạo quân viễn chinh dù đã thua trận nhưng vẫn còn hùng hổ, đang khi anh em NĐD lại có tiếng là chống Pháp.
Cũng chắc chắn là chánh phủ Hoa kỳ không có liên quan trực tiếp gì đến chuyện bổ nhiệm nầy, vì dù ông Diệm có bôn ba ở Hoa kỳ gấn 3 năm đi nữa, ông có quen thân với nhiều nhận vật có tiếng nói trong chánh trường Hoa kỳ, nhưng thật ra Hoa kỳ chưa nghĩ đến chuyện thay thế Pháp ở Đông dương, cho đến khi chạm mặt với Nga/Tàu ở hội nghị Genève trong tháng 7, 1954.
Sau khi được bổ nhiệm, bất chấp lời can gián của ông Ngô đình Luyện ở Pháp và ông Ngô đình Nhu ở VN, Thủ tướng NĐD về Sài gòn ngày 26, cùng tháng 6, 1954. Tổng liên đoàn Lao công VN cổ động đón tiếp, nhưng số người đến phi trường TSN chưa đến 500. Bốn ngày sau Thù tướng bay ra Hà nội để xem xét tình hình và tiếp xúc chánh khách ngoài Bắc, để rồi trở về Sài gòn thành lập Nội các, ra mắt ngày 7 tháng 7, 1954: Thủ tướng kiêm bộ Quôc phòng và Nội vụ. Chánh phủ chưa kịp làm gì thì ngày 20 cùng tháng Hiệp định Genève ký kết giữa Pháp và Việt minh (VM) thoạt đến, toàn dân dở khóc dở cười, có hòa bình hay đúng hơn chì là đình chiến giữa hai phe, nhưng đất nuớc lại bị chia đôi. (1)
(1) Ngày 21-07-54, đang khi Tồng thống Eisenhower họp báo để giải thích hiệp định Genève cho quốc dân Mỹ, thì ngoài đường có một nhóm sinh viên VN biểu tình lên án các cường quốc chia đôi đất nước của họ. Hôm sau ở trước trụ sở Liên hiệp quốc (UN), New-york, cũng có một nhóm sinh viên VN biểu tình, đông hơn. Cả hai cuộc biểu tình đều do ĐVL, ĐTC & HVL tổ chức, hình HVL có lên báo, lên T. 55 năm sau nhìn lại…
Bao nhiêu vấn đề chánh trị xã hội cả văn hóa…đổ dồn về miền Nam với 36,000 quân viễn chinh Pháp và trào lưu Bắc kỳ di cư chạy giặc CS bắt đầu, người Pháp dự đóan là khoảng 60,000 người, Thủ tướng NĐD hy vọng 100, 000… không dè trào lưu chạy giặc CS bộc phát như thác lũ, quá sự tuởng tượng của mọi người, nghĩa là trong vòng 300 ngày do Hiệp định Genève qui định số người Bắc kỳ di cư lên trên 860,000. Thủ tướng vui bao nhiêu thì càng lo nhiều hơn nữa…
Khi về đến VN, tôi cảm thấy rõ ràng tình trạng quá yếu kém của chánh phủ NĐD cũng như uy tín của tân Thủ tướng quá thấp. Không thấy chánh phủ Bửu Lộc bàn giao lại cái gì, ngoài cái dinh Gia long và sở Nội dịch với năm bảy chiếc xe cũ kỹ, không có một tiểu đội canh gác. Thủ tướng kiêm bộ Quôc phòng, mà không có quân đội, bộ Nội vụ không có Công an Cảnh sát, trong lúc đô thành Sài gòn – Chợ lớn là Bình xuyên, miền Tây Nam kỳ lục tỉnh là Hòa hảo, miền Đông là Cao đài, quần chúng người Nam nghe nói đến NĐD, nhưng không biết NĐD là ai. Ngoài ra sau lưng tướng Ely, Cao ủy Pháp là cả một tập đoàn thực dân đang hôi quyền thế, hôi cả tài sản như buổi chợ chiều. Trong lúc người Mỹ mới nhảy vào chánh trường VN chưa có một chủ trương rõ ràng… Tắt một lời, xã hội miền Nam đang ở trong một tình trạng vô cùng hỗn mang gần như tuyệt vọng, vô phương cứu vãn. Dư luận Quốc tế cho chánh phủ NĐD không thọ quá 6 tháng.
Ưu tư số 1 của Thủ tuớng NĐD là phải nắm lấy quyền hành, là thủ tướng kiêm Quốc phòng, cho nên đầu tiên ông phải nắm quân đội. Tham mưu trưởng Nguyễn văn Hinh (vợ đầm tức nhiên là dân Pháp), cần phải thay thế. Và chính tướng Hinh lại khai chiến trước, ngày 09-09-54 chỉ trích Thủ tướng trên đài phát thanh Pháp Á do anh Phan cao Phái (anh của chị Minh Châu bạn của người viết) quản lý và đòi cải tổ chánh phủ. Thủ tướng Diệm phản pháo ngay, ngày 11-09-54 chỉ thị tướng Hinh phải đi Pháp trong vòng 24 tiếng, gọi là để khảo sát tổ chức quân đội Pháp trong vòng 6 tuần. Tướng Hinh từ chối và vận dụng quân đội trong tay mình để làm loạn, muốn đảo chánh, cho 1 tiểu đội thiết giáp chạy chung quanh dinh Độc lập (mới được Cao ủy Ely giao trả tuần trước) vửa hăm dọa, vừa chửi bới, cùng một lúc cho đài phát thanh quân đội ra rả tố cáo chánh phủ nào là độc tài, nào là tham nhũng v,.v. (Những đêm đó tôi ngủ trong dinh Thủ tướng, sẵn sàng để Thủ tướng xử dụng như một thông dịch viên và đi đêm với CIA Mỹ, khi đại tá Landsdale từ Manila qua VN, đóng đô ở hộp đêm Ma Cabane, trước cửa vườn Tao đàn, cách dinh Thủ tướng một con đường. Đại tá Lansdale có nhiệm vụ giúp chánh phủ NĐD ổn định tính hình). Nội các NĐD sắp sụp đổ đến nơi, vì ngày 20-09-54, 9 trên 18 bộ trưởng yếu bóng vía đệ đơn từ chức. Nên lưu ý là cuộc khủng hỏang nầy xảy ra đúng lúc cuộc Bắc kỳ di cư bộc phát như lũ lụt sông Hồng, CS Hà nội chận đường, đe dọa, bắt cóc, thủ tiêu…vẫn không be nổi.
Nhưng với sự hợp tác chặt chẽ giữa CIA và tòa Đại sứ Mỹ, Thủ tuớng NĐD giải quyết được cuộc khủng hoảng do tướng Nguyễn văn Hinh gây ra, nhưng không phải là không đổ mồ hôi hột: đại sứ Heath cho tướng Hinh biết là nếu có đảo chánh trong tình thế nầy thì Mỹ sẽ cúp viện trợ quân sự ngay, đang khi đại tá Lansdale tìm cách tách tuớng Hinh ra khỏi tham mưu của ông ta là 2 nhơn viên phòng nhì của Pháp, Lansdale biếu hai sĩ quan nầy hai vé máy bay đi Manila du hí năm ngày.
Inline image 2
Qua tháng sau, 1954 thủ tướng NĐD cất chức tướng Hinh và bổ nhiệm tướng Lê văn Tỵ lên thay. (Cũng là lúc thủ tướng NĐD gửi tôi qua bộ Tài chánh có công tác khác, nên những chuyện sau đây tôi không phải là chứng nhân, nhưng biết được rõ ràng.)
Đại sứ Heath và tướng O’Daniel, trưởng đoàn cố vấn quân sự Mỹ, lại yêu cầu thủ tướng Diệm nên giữ tướng Hinh lại trong quân đội. Ông Diệm từ chối. Trước sự cứng rắn của Thủ tướng, đại sứ Heath thay đổi thái độ, từ bạn ra thù ngay và gửi điện tín về Washington, tố cáo thủ tướng là bất tài, không có khả năng dung hợp…cần phải thay đổi.
Nhưng lúc bấy giờ tổng thống Eisenhower và Hội đồng an ninh Quốc gia, cả đa số Lưỡng viện Quốc hội lại nhận thấy Thủ tướng Diệm có thể lãnh đạo mặt trân chống Cộng ở Đông nam Á châu, nên hoàn toàn bác bỏ đề nghị của đại sứ Heath và Tông thống Eisenhower gửi đặc sứ qua thay thế là tướng Collins, bạn thân tin của ông. Đặc sứ Collins đến Sài Gòn mang theo bức thơ của Tổng thống Mỹ xác nhận ủng hộ một mình Thủ tướng NĐD và muốn thảo luận với Thủ tướng một chương trình viện trợ kinh tế quân sự qui mô hơn.
Nhưng lại không dè tướng Collins và tướng Ely là huynh đệ chi binh từ Đệ nhị Thế chiến. Tai hại là đặc sứ Mỹ bị Cao ủy Pháp chi phối hoàn toàn, ngày một ngày hai tuớng Collins thay đổi thái độ đối với Thủ tướng NĐD, có nghĩa là ủng hộ mưu đồ “Diệm must go’’ mà thực dân Pháp đã dàn dựng từ 4, 5 tháng nay.
Ngày 08-12-1954, hai tướng Collins và Ely vào dinh Độc lập chính thức đề nghị với Thủ tướng NĐD nên bổ nhiệm Phan huy Quát làm bộ trưởng Quốc phòng và Bảy Viễn làm bộ trưởng Nội vụ. Tất nhiên Thủ tướng NĐD từ chối và phải từ chối, vì nếu ông chấp nhận thì chẳng hóa ra ông chịu thua và mất gần hết quyền hành – Quốc phòng và Nội vụ là hai bộ quan trọng nhứt của chánh phủ nên ông đã kiêm nhiệm – để cho người Mỹ, qua ông Quát, Đại việt và người Pháp, qua Bảy Viễn, tướng cướp tha hồ giựt dây.
Thế là lại khủng hoảng! Collins còn cực đoan hơn nữa. là đề nghị với Washington: Nên đưa Bảo Đại về, đem Phan huy Quát lên làm thủ tướng thay thế NĐD và ban hành tình trạng khẩn trương, tập hợp các lực lượng quốc gia để thống nhứt hành động. Nếu không thực hiện giải pháp nầy được, thì tốt hơn Mỹ nên rút ra khỏi VN.
Không dè tướng Collins lại dứt khoát đến thế. Trong quan hệ giữa Collins và Ely, làm như có bóng một người đàn bà, tôi không rõ lắm nên không nói ra đây. Tuy nhiên trong khủng hoảng nầy tôi biết rõ một việc, ai là người đã giúp chánh phủ Mỹ khỏi sai lầm trầm trọng, đó là Thương nghị sĩ Mansfield. Nhận được phúc trình và đề nghị dứt khoát, nếu không nói là cực đoan hay ngu xuẩn của đặc sứ Collins, TT Eisenhower, Hội đống An ninh Quôc gia và Foster Dulles, bộ ngoại giao, hội nhau lại, hết sức hoang mang, như bị một búa bổ vào đầu, tóa hỏa tam tinh, nên phải kêu gọi đến ý kiến của bên Dân chủ đối lập, mà người có thớ nhứt là Thương nghị sĩ Mansfield: TNS Mansfield đến tòa Bạch ốc góp ý: Ông Diệm là một tích sản mình vừa thu nhận, dù có nhỏ bé cách mấy đi nữa thì cũng là một tích sản, tại sao mình phải phiêu lưu đi đổi với những giá trị khác, mà mình mù tịt không hiểu biết hay chưa hiểu biết mảy may gì hết.
Thế là Thủ tướng NĐD lại thắng, tất cả chánh phủ Mỹ đều chấp nhận ý kiến của TNS Mansfield vì là khôn ngoan nhứt và ngày 14-12-54 chánh phủ Hoa kỳ chỉ thị cho tướng Collins: Trong tình thế hiện nay, không có một chọn lựa nào khác hơn là tiếp tục viện trợ cho VN và ủng hộ Thủ tướng Diệm.
Nhưng chưa hết, tướng Collins với thực dân Pháp còn quậy nữa, mà năng nổ quyết liệt nhứt là bảy Viễn, Bình Xuyên.
2.- Cương vị thứ hai. ( Công cán ủy viên bộ Tài chánh)
(a) Tiền.
Cuộc khủng hoảng Nguyễn văn Hinh giải quyết chưa xong hay gần xong (10-10-54) thì thủ tướng NĐD gửi tôi qua bộ Tài chánh để giúp bộ trưởng Trần hữu Phuơng, cũng là bạn thân của tôi từ khi còn ở Paris, làm Công cán ủy viên, để hằng ngày theo dõi diễn tiến Hiệp định Paris, mới hợp lại để thay thế Hiệp ước Pau, cũng có nghĩa là phủ định tất cả những ký kết của Hiệp ước nầy. Nhờ đường lối dứt khoát của thủ tướng Mendès-France như ở Hội nghị Genève (20-07-1954) , trong một thời gian kỷ lục hôi nghị Paris kết thúc, ký kết giữa 4 nước đêm 30 tháng 12, 1954: Pháp nhìn nhận toàn vẹn chủ quyền tài chánh và tiền tệ (hối đoái) của 3 nước Việt-Miên-Lào và cho thi hành việc bàn giao ngay trong vòng 3 ngày, tức là ngày 02-01-1955.
Từ rày viện trợ quân sự, kinh tế, nhân đạo của Mỹ và các nước sẽ đi thẳng vào tay VN, không phải qua tay Pháp nữa. Nhờ theo dõi diễn tiến của hội nghị Paris rất sát– ngày 23 hay 24 tháng 12-54, bộ Tài chánh nhận được điện tín của phái đoàn VN do ông Duơng tấn Tài cầm đầu, đại khái “hoàn toàn thắng lợi và sẽ kết thúc trong vòng 7 ngày’’, và ông bộ trưởng Tài chánh dành cho tôi cái danh dự được mang điện tín nầy vào trình Thủ tướng, cùng giải thích cho tThủ tướng biết rõ những kết quả tốt đẹp của Hiệp định Tài chánh & Tiền tệ ở Paris) – nên trước đó năm bảy ngày bộ Tài chánh, do đề nghị của tôi đã giữ lại đuợc một ngân phiếu 15 triệu đô của bộ Ngọai giao Mỹ viện trợ chuơng trình di cư Bắc kỳ, chờ qua mươi ngày sau bỏ vào trương mục VN ở một ngân hàng Mỹ bộ Tài chánh tự do chọn lấy, hơn là phải bỏ vào trương mục VN ở Pháp quốc Ngân hàng (Banque de France) như trước kia.. Độc lập tài chánh và nhứt là tiền tệ (hối đoái) là từ đây. Từ đây chánh phủ VN được toàn quyền tổ chức cũng như quản lý tài chánh và tiền tệ của mình.
Trước đây Pháp đã viện trợ cho các giáo phái xây dựng lực lượng quân sự tất cả trên dưới 20 ngàn quân, không phải chỉ có khí giới thôi mà còn có một số tiền mặt khá quan trọng khác nữa. Từ đầu năm 1955, Pháp sẽ ngưng viện trợ và các giáo phái cần viện trợ phải đến với chánh phủ NĐD. Chính yếu tố tiền ở đây, dù không phải là yếu tố duy nhứt, nhưng là yếu tố quan trọng nhứt đã định đoạt lấy thái độ các giáo phái đối với chánh phủ NĐD và giúp chánh phủ NĐD thống nhứt quân đội quốc gia VN, chấm dứt tình trạng sứ quân do thực dân Pháp cấu tạo từ 9 năm qua.(2)
(2) Ngày 14-01, đại tá Ng văn Huệ, tham mưu truởng của tuớng Trần văn Sóai, Hòa hảo đem 3,500 về với quân đội quốc gia. Ngày 13-02-55 tuớng Trinh minh Thế, Lực lượng Kháng chiến Liên Minh Quốc gia Cao đài dẫn 5,000 quân về với thủ tướng NĐD. Ngày 10-03-55 Thiếu tá Nguyễn văn Đầy, Lực lượng Hòa hảo Quốc gia đem 5,000 quân và ngày 31 cùng tháng tướng Nguyễn thành Phuơng, Tổng tư lệnh Quân đội Cao đài đem toàn quân lực của mình về theo thủ tướng NĐD. Tướng Nguyễn giác Ngộ, Lưc lượng Dân xã Hòa hảo, từ 23 tháng 2 đã hứa đem 8,000 quân về, nhưng phải đợi qua thág 5, khi thủ tướng NĐD dẹp xong lực lượng BX mới chịu thi hành lời hứa.
\
(b) Tiền
Trên đây là hậu quả tích cực xây dựng uy tín và củng cố quyền hành của Thủ tướng. Thủ tưởng NĐD khởi sự được các giáo phái ủng hộ, mà sau lưng các Giáo phái là cả một khối dân chúng miền Nam. Để rồi qua ngày 01-01-55, Thủ tướng ký nghị định chấm dứt đặc quyền Đại thế giới (cờ bạc) và Bình khang (đĩ điếm) của Bình xuyên, tức là trực tiếp phá vỡ ngay nguồn tài chánh khổng lồ, nếu không nói là duy nhứt của lực lượng Bình xuyên. Gián tiếp nguồn tài chánh của Quốc trưởng BĐ ngày một ngày hai phải cạn kiệt: trước đây mỗi ngày BX phải đóng hụi chết cho Quốc trưởng BĐ đúng 1 triệu đồng, theo hối xuất thời đó là trên 28,500 Mỹ kim. (Từ lâu Quốc trưởng BĐ đã có một đời sống vuơng giả kiêm Playboy tại lâu đài Thorenc ở Cannes; Nam phương Hoàng hậu có tàu (Yatch), BĐ có mấy xe Sport hiệu Ý.)
Có phải đây là một yếu tố trong nhiều yếu tố tiêu cực bắt buộc Quốc trưởng BĐ nghĩ đến chuyện cất chức NĐD, để cho bảy Viễn lên thay, thử hỏi?
(Nói về tiền, tôi muốn nhắc đến một trường hợp ghê gớm hơn. Sau tuần lễ vàng (1945), HCM dùng một số vàng lớn, dưới mọi hình thức, để mua chuộc hai tướng Tàu là Lư Hán và Tiêu Văn – do Thống chế Tưởng giới Thạch sai qua VN để giải giới quân Nhựt cùng một lúc hậu thuẩn các lực lượng quốc gia như VNQD đảng, Đại việt Cách mạng…- để hoàn toàn bỏ rơi các đảng phái quốc gia, cho Việt minh lấy thế thượng phong và sát hại các đảng phái quốc gia, cướp lấy chính nghĩa giải phóng dân tộc, độc quyền yêu nước, độc quyền kháng Pháp).
3.- Cương vị thứ ba. (Bí thư Liên kỳ bộ Cần lao Nhân vị CM đảng)
Sau khi giải quyết khủng hoảng tướng Hinh xong và được tin tranh thủ thắng lợi giành được Chủ quyền tài chánh và tiền tệ, Thủ tướng NĐD mừng lễ Giáng sinh rất vui vẻ và lạc quan hơn. Tôi được Thủ tướng gọi đến tham dự lễ Giáng sinh, nửa đêm ngày 24 tháng 12, năm 1954, được tổ chức ngoài sân sau dinh Độc lập. Và nhứt là vinh dự được Thủ tướng đich thân chỉ định tôi ngồi hàng ghế đầu, ngay sau lưng của ông. Sau đó còn cho riêng tôi một món quà Giáng sinh đáng giá nữa. Biết đâu ông đã nghĩ đến chuyện giao cho tôi quyền điều hành Viện hối đoái Quốc gia (VHĐ) từ giữa đêm hôm đó ?
Trong 4 tháng đầu năm 1955, ngoài VHĐ, phần lớn tôi để thì giờ và tâm trí vào công trình văn hóa của anh em chúng tôi, là trường Bách khoa Bình dân, khai giảng ngày 15, tháng 11,1954. Vửa điều hành một trường sở có trên 1,200 học sinh, vừa giảng dạy 2 lớp tối, từ 6 giờ 30 đến 9,00 giờ, tôi không trực tiếp liên hệ với những biến cố hay sự kiện lịch sử xảy ra cho VN lúc đó nữa. Tuy nhiên, dù không chứng kiến, tôi vẫn theo dõi luôn và đuợc biết rõ những chuyện sau đây.
– Ngày 12-01-55 thuơng cảng Sài Gòn được giao trả cho chánh phủ NĐD.
– Cùng ngày 12-01-55, tướng Agostini Pháp bàn giao toàn quyền quản lý quân đội VN cho tướng Lê văn Tỵ.
Đến đây thì Thủ tướng NĐD xuất hiện rõ ràng như là một nhận vật có đủ khả năng tranh thủ độc lập toàn vẹn cho Quốc gia. Nhưng thực dân Pháp và tay sai chưa chịu bỏ cuộc. Bất hạnh là chính Quốc trưởng BĐ lại để cho chúng lợi dụng, nếu không nói là đồng lõa với chúng.
Nên BĐ và Pháp thúc đẩy Mặt trận Thống nhứt Toàn lực Quốc gia ra đời, là ngày 03-03-1955: ngòai Cao đài, Hòa hảo, Bình xuyên còn có Bs Nguyên tôn Hoàn, Đại việt miền Nam, Phan quang Đán, đảng Dân chủ, Hồ hữu Tường… Hộ pháp Phạm công Tắc được BĐ mời lãnh đạo Mặt trận..
Phản ứng của Hoa thịnh đốn: Không thể Mỹ chi tiền mà để Pháp thao túng chánh truờng VN, nên ngày 08-03-55 TT Eisenhower tái xác nhận ủng hộ NĐD và bản sao gửi BĐ, gián tiếp khuyến cáo đừng thọt gậy bánh xe, gây khó khăn cho NĐD nữa và khuyên Thủ tướng NĐD chống lại đòi hỏi của Mặt trận và bảo các các giáo phái nên rút khỏi Mặt trân. Nhưng bị áp lực của Bình xuyên và BĐ các giáo phái không nghe theo liền.
Ngày 21-03-55 Mặt trận gửi tối hậu thơ cho Thủ tướng NĐD: trong vòng 5 ngày, phải cải tổ nội các theo mô hình nhân sự của Mặt trận. Thủ tướng NĐD mời vào hội với ông, nhưng ông dứt khoát từ chối.
Mà sáu ngày sau (27-03-55) ông còn cho lệnh đại tá Đỗ cao Trí đánh chiếm bộ chỉ huy Công an Cảnh sát do BX nắm giữ.
Thế là chiến tranh giữa thủ tuớng NĐD có quân lực Quốc gia ủng hộ và BX có Pháp hậu thuẫn đã khởi sự và hai bên có cả một tháng để chuẩn bị đánh lớn, cũng gọi là hưu chiến.
Cũng là lúc, ngoài cái nợ văn hóa (trường Bách khoa Bình dân) và cái nợ chuyên môn (Viện Hối đoái Quôc gia) tôi mang thêm cái nợ chánh trị nữa. Đầu tháng 04, 1955, ông Ngô đình Nhu, Tổng bí thư Cần lao Nhân vị Cách mạng đảng (CLNVCM) đã giao hay là nhờ tôi đứng ra phát triển đảng CL (Cần lao) trong Nam và tôi đã nhận lãnh, một cách tự nguyện, nhưng hết lòng theo truyền thống của gia đình “là làm cái gì phải làm đến nơi đến chốn, không làm thì thôi’’ và tôi đã khởi sự ngay, là thành lập Liên kỳ bộ Nam Bắc việt, bí thư là Chí nguyện,
Đến lúc cuộc khủng hỏang Bình xuyên đến hồi gây cấn nhứt, nghĩa là có đánh nhau, có đổ máu… là cơ hội thử lửa (Baptême du Feu) cho Liên kỳ bộ Nam Bắc việt vừa mới thành lập với một tiểu tổ cơ bản và đầu não, gổm 8 thành viên. Nhưng với bao nhiêu đó Liên kỳ đã tích cực ủng hộ chiến dịch đánh Bình xuyên, bất chấp thiết quân luật Liên kỳ đã đi rải khắp các nẻo đừơng Sài Gòn/ Chợ lớn và Gia định cả ngàn tờ ‘’hịch’’ tố cáo tội ác của Bình xuyên trong 8 năm qua. (Toàn là sự thật, không một chút tuyên truyền láo).
Và như chúng ta biết, biến cố Bình Xuyên lại kéo theo sau sự kiện Truất phế Quốc truởng Bảo Đại. Lại thêm một cơ hội nữa cho Liên kỳ tập sự nhún tay vào chánh trị, là giúp củng cố chánh quyền NĐD và giúp công xây dựng nền móng cho tòa nhà Đệ nhứt Công hòa của miền Nam VN, luôn luôn không quên những cán bộ CS để lại miền Nam. (Vì thế mà Liên kỳ vội bỏ đô thành Sài Gòn/Cholon để trọng tâm vào các tỉnh miền Tây).
Trên đây là hai biến cố hết sức quan trọng mà với sự hạn hẹp của một con người, cá nhân tôi ở cương vị bí thư Liên kỳ bộ Nam Bắc Việt, dù muốn dù không cũng đã trở thành chứng nhân như nhiều nhân chứng khác, nếu không nói là trực tiếp tham gia vào những biến cố lịch sử VN trong khoảng thời gian đó.
Tiếp tục chủ trương triệt hạ quyền lực Bình xuyên, sau khi cải tổ Nội các (24-04-1955) có sự tham gia của Hòa hảo (Trung tướng Trấn văn Soái và ông Lương trọng Tường) và Cao đài (Thiếu tướng Nguyền thành Phương), ngày 25 tháng 4, 1955 Thủ tướng NĐD ra sắc lệnh cách chức Lai văn Sang, Tổng giam đốc CS Quốc gia. Như thế tức là tấn Bình xuyên vào vách tường. Cũng là lúc đặc sứ Collins vì quá bất mãn với Thủ tuớng NĐD nên đi về Washington để ráo riết vận động cho cả Chánh phủ Mỹ chuyển hướng 180 độ, tức là ‘’Diệm must go’’ cho kỳ được, và lần nầy ông thành công. Rõ ràng tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đứng về phe Thực dân Pháp là tướng Ely, Bảy Viễn…hơn là phe Quốc gia của Thủ tướng NĐD.
Ba ngày sau là ngày 28-04-55, BX a) khai chiến, pháo kích vào dinh Đôc lập. Cùng một lúc, BĐ gửi điện tín b) triệu ông Diệm và tướng Tỵ qua Pháp để tường trình về tình hình trong nuớc và c) bổ nhiệm Thiếu tướng Nguyễn văn Vỹ, tư lệnh Ngự lâm quân Đalat làm Tổng tư lệnh quân đội Quốc gia VN thay thế tướng Nguyễn văn Hinh, được toàn quyền sử dụng mọi phuơng tiện cần thiết để giải quyết cuộc tranh chấp giữa thủ tướng Diệm và các giáo phái. Lưu ý: Ba sự kiên a,b, c ghi trên hoàn toàn ăn khớp với nhau. Cùng ăn khớp với vận động thành công của tướng Collins ở Wahington, ‘’Diệm must go’’.
Đặc biệt lưu ý đến chi tiết nầy: Thay thế tướng Hinh, tức là hoàn toàn phủ nhận quyền hành của Thủ tướng, coi chuyện Thủ tướng NĐD bổ nhiệm tướng Tỵ như ‘’ne pas’’. Như thế chẳng hóa ra là cất chức Thủ tướng rồi còn gì nữa? Chuyện triệu Thủ tướng qua Pháp, không với ai khác mà là với tướng Tỵ, vừa được thủ tướng bổ nhiệm Tổng tham mưu Quân đội Quôc gia VN. Đúng là một tiểu xảo chánh trị bất xứng.
Được lệnh của Quốc trưởng BĐ, Thủ tưởng Diệm đã khôn ngoan, tìm được một lực lượng vô song để đương đầu với Quốc trưởng, không còn là Quốc truởng của một nuớc, của Quôc dân nữa mà là đại diện cho một tâp đoàn Thưc dân rất hùng hậu. Lực lượng vô song nói ở đây là Quốc dân.
Một điều cần nói ở đây là khi Thủ tướng đi tìm một lực lượng vô song đó không phải là không có cố vấn của CLNVCM đảng, lúc đó là ai? Là Ngô đình Nhu, là Trần quốc Bữu, Trần trung Dung, Trần chánh Thành, có cả BS Bùi kiện Tín và ai ai nữa…cả nhóm Tinh thần, trong đó có Bs Huỳnh kim Hữu. Biết rằng tất cả những nhân vật nầy không một ai gia nhập Cần lao, nhưng đều chấp nhận chủ trương của ông Ngô đình Nhu và do ông Nhu chi phối theo đường hướng Cần lao của ông..
Vì đó mà Thủ tường NĐD cấp tốc triệu tập các Chánh đảng và Nhân sĩ Quốc gia, ngày hôm sau là ngày 29-04-1955, để xin ý kiến: Nên tuân lệnh Quốc trưởng BĐ triệu qua Pháp hay không? Như thế tức là muốn đặt Hội nghị trước một sự chọn lựa dứt khoát: Bảo Đại hay là Ngô đình Diệm ?
Ở đây tôi muốn nói đến tính cách đại diện bao quát của Hôi nghị, chưa bao giờ miền Nam có một Hôi nghị gồm đại diện của những 18 đoàn thể nếu không nói là chính đảng và có những 34 nhân sỉ tên tuổi. (3)
(3) 18 chánh đảng là: – Mặt trận Quốc gia Kháng chiến VN – VN Phục quốc hội – Thanh niên Quôc dân Xã VN –VN Dân chủ Xã hội – Phong trào tranh thủ Độc lập VN –Phụ nữ Quốc dân xã VN – VN Cần lao Nhân vị Cách mạng đảng – Tịnh độ Phật giáo đồ VN – Tổng Liên đoàn Lao công VN – Phong trào Dân chúng Liên hiệp VN – Phong trào Cách mạng Quốc gia – Tập đoàn Công dân – Nhóm Tinh thần – Xã hội Công giáo – Thanh niên Dân chủ VN –Cựu Chiến sĩ Kháng chiến VN – Nghiệp đoàn Ký giả VN – Hội tương trợ Đồng bào Nghệ Tỉnh /Bình. Rất tiếc là không còn đâu có danh sách 29 nhân sĩ. Trong số những nhân sĩ nầy tôi quen thân với BS Huỳnh kim Hữu và ông Huỳnh minh Y, bố vợ anh Huỳnh sanh Thông và anh Dư phước Long và năm ba nhân sĩ nữa, toàn là người Nam kỳ.
Như thế có thể khẳng định tính cách đại diện bao quát của dân miền Nam. Dù biết rằng có những đảng chánh trị chỉ có vài ba chục đảng viên và không có một cây súng trong tay để đánh Pháp và chống CS Việt minh. Tuy nhiên cũng được cả năm bảy đoàn thể chánh trị có thực lực, nghĩa là có cả ngàn nếu không nói là mấy chục ngàn đảng viên và có năm bảy ngàn cây súng. Đó là VN Dân xã đảng Hòa hảo do bí thư Nguyễn bảo Toàn (Nguyễn giác Ngộ) đại diện, VN Phục quốc hội Cao đài do đại tá Hồ hán Sơn (Nguyễn thành Phưong) đại diện và Mặt trân Quốc gia Kháng chiến VN do Nhị Lang (Trình minh Thế) đại diện và Tịnh độ cư sĩ do Đoàn trung Còn đại diện. Đặc biệt là có những đoàn thể thanh niên, phụ nữ và trí thức. Nói được là gần toàn dân miền Nam có đại diện chánh thức đến phó hội. Cũng có vài gương mặt Bắc kỳ di cư, nhưng thiết nghĩ không có đại diện cho di cư Bắc kỳ vì khi đó Bắc kỳ di cư chưa định cư. .
Ngày 29-04-1955, đúng10 giờ hôi nghị gồm đúng 52 đại diện cho 18 đảng phái và 34 nhân sĩ khai mạc tại phòng khánh tiết dinh Độc lập. Thủ tướng NĐD từ trên lầu đi xuống và có mấy lời: Cám ơn và nêu lý do mời đến hội, để rồi xin rút lui để tất cả hôi viên tự do thảo luận. Nói xong vài câu Thủ tướng NĐD bỏ lên lầu, không muốn ở lại, e có thể gây ảnh hưởng thế nầy hay thế nọ.
Hôi nghị bắt đầu làm việc ngay là bầu:
Chủ tọa đoàn: ông Nguyễn bảo Toàn, bí thư Dân xã đảng, Hòa hảo.
Thư ký: ông Phạm việt Tuyền, nhà báo.
Và họ đã nghiêm chỉnh làm việc.
(Sáng ngày hôm đó còn có 3 trái pháo kích BX bắn vào dinh Đôc lập, có một trái nổ ngay đúng lúc Hôi nghị bắt đầu làm việc)
Nhưng đang khi các hội viên yên lặng chăm chú đọc chương trình nghị sự, thì ông Nhi Lang đứng lên tuyên bố:
“Thưa quí vị, tôi được chỉ thị đòan thể chúng tôi là Mặt trận Quôc gia Kháng chiến VN đến đây gặp quí vị không phải đề nói chuyện về việc Thủ tuớng NĐD có bổn phận hay không bổn phận thi hành lệnh của Bảo Đại. Mà là trái lại, tôi xin thẳng thắn đặt vấn đề là đã đến lúc chúng ta cần trút bỏ quyền hành của ông Quốc trưởng vô dụng kia đi. Là vì ông ta đang làm một việc trái với nguyên tắc lãnh đạo quốc gia. Thử hỏi, thành phố Sài Gòn đang có biến, dân chúng đang xôn xao lo sợ, tại sao ông BĐ lại chọn ngay lúc nầy để bắt buộc Thú tướng phải bỏ nước sang bên Pháp xa xôi kia, để ‘’tham khảo ý kiến?’’ Tham khảo cái gỉ? Phải chăng đây là mưu kế để nhắm lật đổ Chánh phủ nầy? Vậy tôi xin tuyên bố dứt khoát, nếu quí vị bằng lòng thảo luận việc truất phế Bảo đại ngay bây giờ,thì tôi ở lại. Bằng không, tôi xin phép ra khỏi phòng hội nầy ngay!’’.
Lúc bấy giờ cả cử tọa sửng sốt hay bàng hoàng trước đề nghị quá táo bạo của Nhi Lang, cũng vừa lúc đại tá Hồ hán Sơn, đại diện tướng Cao đài Nguyễn thành Phương đứng lên và tuyên bố tiếp:
“Nhân danh Việt Nam Phục Quốc hội, chúng tôi đồng ý với mặt trận Quốc gia kháng chiến, yêu cầu quí vị đừng bận tâm tới lệnh triệu thỉnh vô lý của Bảo đại nữa, mà hãy đồng tâm làm một cuộc cách mạng, chấm dứt ngay vai trò của ông Quốc trưởng BĐ kia đi cho xong. Nếu ý kiến nầy không được hưởng ứng, tôi cũng xin rút lui ngay tức khắc!’’
Đến đây thì tòan thể cử tọa không còn rụt rè nữa, nhứt là khi chủ tọa đoàn Nguyễn bảo Toàn cũng đứng lên tuyên bố hoàn toàn ủng hộ sáng kiến của hai ông Nhị Lang và Hồ hán Sơn, nên đều hoan hô lên, trăm người như một, có người còn la lên đã đảo Bảo Đại và có người cởi giày ném vào mặt bức hình BĐ treo cao giữa phòng. Ông Vũ văn Mẫu, một giáo sư Bắc kỳ, với một nhân sĩ nữa chạy lại cồng kền Nhị lang lên vai và bảo đứng lên gỡ bức ảnh đi. Ông Nhị lang cực khổ lắm mới hạ đuợc bức ảnh đồ sộ của Quốc trưởng và ném xuống đất.
Sau mươi phút sôi nổi, ồn ào… hôi nghị ngồi lại để bầu ra một Ủy ban Cách mạng Quốc gia, gồm 3 nhân vật đầu não là Nguyễn bảo Toàn, Chủ tịch, Hồ hán Sơn, Phó chủ tich, Nhị lang làm Tổng thư ký.
Với sự đóng góp của nhiều cố vấn, một giờ sau Ủy ban đã thảo xong một bản Kiến nghị.
Và sau khi nghe Chủ tịch Nguyễn bảo Toàn đọc hai lần, tât cả hội viên là 52 người đều chấp nhận và ký tên.
Xong rồi thì các hôi viên yêu cầu Chủ tịch đi lên lầu mời Thủ tướng NĐD xuống để nghe kết quả của nghị hội.
Thủ tuớng NĐD xuống lầu, tất cả mọi người đều đứng lên, ông đứng trước cử tọa, mặt xẩm xuống, vẻ buồn buồn hơn là lo âu, bầu không khí bỗng chốc trở nên yên lặng lạ thường…
Chủ tịch Ủy ban vừa cảm động vừa quả quyết đọc lớn cho mọi người đều nghe:
Thay mặt cho toàn thể Hôi nghị, tôi xin trình Thủ tướng kết quả của Hôi nghị là bản Kiến nghị gồm 3 điểm nầy:
Kiến nghị:
1.- Truất phế Quôc trưởng Bảo đại
2.- Giải tán Chánh phủ Ngô đình Diệm
3.- Ủy nhiêm chi sĩ Ngô đình Diệm thành lập chánh phủ mới để trừng trị bọn phiến loạn Bình xuyên, thu hồi chủ quyền quốc gia, yêu cầu triệt thoái quân đội viễn chinh Pháp và tổ chức bầu cử quốc dân đại hội.
Làm ngày 29, tháng 04, 1955
Đại diện 18 chánh đảng và đoàn thể cùng 34 nhân sĩ ký tên:
Vừa nghe Truất phế Quốc trưởng BĐ, mọi người đều thấy mặt Thủ tướng đỏ lên rồi lần lần biến sắc. Ông hoàn toàn bị cú sốc. Nghe xong thấy ông lặng người, tay nhận lấy bản kiến nghị và cố gắng lấy lại bình tỉnh, hết sức chẫm rãi trả lời gần như từng chữ một: Xin quí ngài cho tôi… được có thì giờ… suy nghĩ kỹ… về vấn đề trọng đại nầy! Xin cám ơn quí ngài!
Sau đó các hội viên lần lượt êm lặng đến bắt tay từ giã Thủ tướng, thấy vẻ mặt ông âu lo rõ ràng…. lúc đó là 5 giờ chiều. Hôi nghị đã kết thúc và giải tán.
Đến đây thì cuộc Cách mạng kể như là xong và Thủ tướng Diệm bị đặt trước một sự đã rồi. Vốn Thủ tuớng NĐD chỉ muốn dẫn vào nhà một con tuấn mã để nhờ giúp qua suối, không dè nhìn lại là một con bạch hổ, ông không cỡi thì nó sẽ thịt ông, nhưng nếu ông dám leo lên lưng nó, thì chỉ một cái nhảy vọt nó đưa ông lên tới đĩnh núi cao vời vợi. Thật ra khi đến giai đoạn nầy Thủ tướng NĐD vẫn còn nghĩ đến một chế độ Quân chủ lập hiến, chưa nghĩ đến một chế độ Công hòa, cái đó là chắc. Thành ra khi biết chuyện Truất phế là sự đã rồi, ông không tái mặt làm sao được!
Chiều tối lại, lúc 8 giờ đài phát thanh Sài Gòn đưa tin cho toàn quốc và Thế giới biết ở miền Nam VN đã xẩy ra cuộc cách mạng Truất phế Quốc trưởng Bảo đại. Cùng một lúc Ủy ban Cách mạng Quốc gia kêu mời các nhân sĩ và đồng bào ngày hôm sau đến hội tại tòa Đô chánh Sài Gòn để nghe Ủy ban thuyết trình về biến cố lịch sử vừa xảy ra.
Và ngày hôm sau, từ sớm các giới nhân sĩ, các đại diện các chánh đảng, thanh niên sinh viên phụ nữ, báo chí.. phấn khởi tụ tập đầy nghẹt phòng khánh tiết tòa Đô chánh Sài Gòn. Ông Nguyễn bảo Toàn, Hồ hán Sơn và Nhị lang thuyết trình về Cuôc Cách mạng Truất phế BĐ ngày hôm trươc, tất cả cử tọa đều nhiệt liệt hoan hô, triệt để ủng hộ. Và thêm một màn hạ bệ Bảo Đại một lần nữa, có người bắt thang leo lên gỡ bức ảnh to tướng hình Quốc trưởng BĐ treo trước cửa tòa nhà và ném xuống đất, rồi có những thanh niên nhảy lên dậm đạp cho nát bét (Tôi đã chứng kiến màn hạ bệ do anh bạn ĐTC điều khiển). Đang khi đó ba tướng Nguyễn giác Ngộ (Hòa hảo), Nguyển thành Phuơng (Cao đài) và Trịnh minh Thế (Mặt trận Quốc gia Kháng chiến) được Ủy ban Cách mạng giới thiệu, đứng ra trình diện để công chúng hoan hô, như là những anh hùng đã tạo ra thời thế. Và chúng tôi đã nghĩ vậy, vì sau lưng của Ủy ban Cách mạng đã có ba tướng nầy cho ý kiến, nếu không nói là cho chỉ thị, nên ba ông đại diện Nguyển bảo Toàn, Hồ hán Sơn và Nhị Lang đã hành động, đã lên tiếng hết sức đồng nhịp với nhau (synchronized) và nhờ vậy mà lôi kéo tất cả Hội nghị một cách dễ dàng, nhứt là khi các thành phần hôi nghị đã sẵn có tiềm thức phản hoàng rồi.(5)
(5) Vốn cái ý phức phản hoàng nầy có trong Nam từ thời vua Tự Đức tức là gần cuối thế kỷ 19 khi vua Tự Đức nhượng cho Thực dân Pháp 3 tỉnh miền Đông, rồi 3 tình miền Tây Nam kỳ lục tỉnh một cách dễ dàng quá. Rồi đến khi phong trào Kháng Pháp trong Nam, như của Thủ khoa Huân, của Trương công Định, của Thiện hộ Dương, của Cố quản Trần văn Thành… lại bị triều đình nhà Nguyễn bỏ rơi gần như hoàn toàn. Đề rồi qua đầu thế kỷ 20, phong trào Tây học, như các nhà cách mạng Đệ tứ Nguyễn an Ninh, Nguyễn văn Nguyễn, Tạ thu Thâu, Hồ hữu Tường và nhứt là Phan chu Trinh đã gieo rắc trong Nam nhứt là trong giới trí thức ý thức phản hoàng hay Cộng hòa. Ngoài ra chế độ thuộc địa Pháp là chế độ thuộc địa có văn hóa cộng hòa hơn là quân chủ, cho dù nó phát xuất từ thời Napoleon III.…
Đến đây thì cuộc Cách mạng đã được chánh thức hóa bằng một văn kiện có rất nhiều chữ ký rất nặng giá vì đại diện cho nhiều đoàn thể chánh trị hay quần chúng và công khai hóa bằng đài phát thanh, bằng sự xác nhận trước công chúng của thủ đô Sài Gòn/ Chợ lớn. Như thế phải nhìn nhận là cuộc Cach mạng nầy đã thành tựu một cách tuyệt đối rồi. (Period, Point final). Và theo tôi cuộc Cách mạng nầy là biến cố lịch sử quan trọng nhứt từ ngày Việt Minh cướp chánh quyền trên tay Chánh phủ Bảo đại/ Trần trọng Kim tại Sài Gòn ngày 23-08-45 (ở Hà nội là ngày 19 tháng 8, 1945) 10 năm truớc, vì nó có tính cách quyết định, dù chỉ là đập đổ, san bằng. Nhưng muốn xây dựng cái gì thì phải đập đổ và san bằng trước cái đã. Đó là một lẽ tất nhiên. Còn chuyện xây dựng là chuyện của hồi sau.
Inline image 3
Cuôc Cách mạng Truất phế Quốc trưởng Bảo đại nầy là tác động của dân miền Nam nói chung, trong đó quần chúng Nam kỳ lục tỉnh qua các đại diện của họ đã đóng một vai trò chủ động, không ai có thể chối cải điều đó. Dù là tiêu cực hay là đập đổ và san bằng, nhưng tích cực là nó đã dọn đường cho sự hình thành ra Đệ nhứt Công hòa, vì ngay lúc đó chính Thủ tướng NĐD còn nghĩ tới chế độ Quân chủ lập hiến.. Nhưng tai hại vô cùng, chỉ năm năm sau cũng chính quần chúng Nam kỳ lục tỉnh (không quơ đũa cả nắm) qua Mặt trận Giải phóng Miền nam đã đóng một vai trò qua ư quan trọng, dù không phải là chủ động đã khởi sự tàn phá, không phải chì Đệ nhứt CH mà cả Đệ nhị CH nữa. Sau 15 năm dọn đường, đúng hơn là làm cổ sẵn cho CS Miền Bắc thôn tính hoàn toàn, đúng hơn là thuộc địa hóa miền Nam, cho đến bao giờ? Truất phế BĐ là một tác động Cách mạng sáng suốt hợp tình hợp lý bao nhiêu, thì tác động gọi là Mặt trận Giải phóng miền Nam, là một cái sai lầm ghê gớm, nếu không nói là ngu xuẫn tày đình bấy nhiêu, như lịch sử 34 năm qua đã chứng minh quá hùng hồn, vì hệ lụy tai hại vô cùng, cho quyền lợi, cho cả quyền làm người của dân miền Nam nói chung và dân Nam kỳ lục tỉnh nói riêng.. Tuy nhiên, tôi còn hy vọng, dù mong manh đi nữa, sẽ có ngày quần chúng miền Nam nói chung và Nam ky lục tỉnh nói riệng sẽ đứng lên làm một cuốc Cách mạng nữa. Và lần nầy là một cuộc Cách mạng vô cùng thiết yếu cho sự sống còn của cả một dân tộc VN, không riêng gì cho miền Nam hay Nam kỳ lục tỉnh. Đó là sứ mạng của lịch sử giao phó cho dân miền Nam, không riêng gì người trong nước hay ở hải ngoại.
(Ơ đây cũng nên nhắc lại những biến cố rất quan trọng sau đây, nhưng tôi kể là bên lề vì nó không có tính cách quyệt định, nó như là mấy màn của một tấn bi hài kịch lịch sử mà các diển viên, từ những tên lưu manh hạng nặng, những nhà ngoại giao ngu ngơ, cho đến những chánh trị gia lổi lạc phi thường, những anh hùng rất thông minh và can trường… mà vai nào cũng đặc sắc cả, đặc sắc ở đây không có nghĩa là vai trò nào cũng tốt đẹp đáng vỗ tay.
Đầu tiên là chuyện của một ông tướng Nguyễn văn Vỹ, tư lênh Ngự lâm quân, Đà Lạt, được Quốc trưởng BĐ bổ nhiệm ngày 28, tháng 04 – cùng một lúc triệu Thủ tướng Diệm và Tổng Tham mưu Lê văn Tỵ qua Pháp – làm Tổng tham mưu quân đội Quôc gia VN thay thế tướng Hinh được toàn quyền hành động. Được bổ nhiệm xong, tướng Vỹ vội kéo Ngự lâm quân về ngay Tổng tham mưu bắt tướng Tỵ, kéo vào dinh Gia long toan lật đổ chánh phủ NĐD. Lúc đó là 6 giờ chiều. Nhưng ngẫu nhiên Ủy ban Cách mạng, sau khi trình diện ở tòa Đô chánh đã đổi tên là Hội Đồng Nhân dân Cách mạng Quốc gia kéo nhau vào dinh Độc lập và một lần nữa Nhị lang lại là người táo bạo nhứt dám dùng một khẩu súng tay (chưa chắc đã lên đạn), bắt tướng Vỹ phải đưa tay lên đầu hàng, nghĩa là cuộc phản đảo chánh cùa tướng Vỹ bỗng chốc hóa ra mây khói.. Đến đây đúng là trò hề, vì mới năm phút trước tướng Vỹ áp lực Thủ tuớng NĐD từ chức, bây giờ ông phải nhờ Thủ trướng che chở cho ông khỏi mất mạng. Để rồi đầu hàng Cách mạng, ký cả hai tay giấy cam kết trở lại hợp tác với Thủ tướng. Nhưng hai ba giờ sau lại phản phé, muốn lật ngược lại thế cờ. Song đến chừng đó thì không còn một ma nào coi ông có chút gì nghiêm chỉnh cả, nên mọi người đều bỏ rơi ông, bắt buộc ông phải cuốn gói rút quân chạy về Đà lat, lúc đó đã 3 giờ sáng.
Chuyên thứ hai là chuyện của một ông đặc sứ Collins của TT Eisenhower. Sau khi không chinh phục được Thủ tuớng Diệm theo đề nghị ngu ngơ cải tổ chánh phủ của mình, ông tự cho mình bị khinh bạc, mất mặt với bạn bè chi binh, biết đâu lại không có miệng lưỡi của một mụ đàn bà xúi bậy vào…ông vội bỏ VN trở về Mỹ chính hai ngày trước khi BX khởi chiến. Ông về Mỹ ráo riết vận động với Quốc hội, với bộ Ngoại giao, với hội đồng An ninh Quồc gia và triệt để khai thác tình tự bạn chi binh với chính TT Eisewhower. Sau 5 ngày vận động không ngừng nghỉ, ông thành công: TT Eisenhower gửi tối hậu thư tuyên bố “Diệm must go’’ để ông Đặc sứ mang về Sài Gòn, phổ biến cho các đảng phái liên hệ, cũng có thể như là món quà đáng giá triệu đô cho bạn chi binh của ông là tướng Ely và nhứt là cho Bảy Viễn.
Nhưng không ai dè, chính trong thời gian ông ở Mỹ thủ tướng NDD đã ký sắc lệnh mở chiến dịch Hoàng Diệu do đại tá Duơng văn Minh làm tư lệnh, để phản công Bình Xuyên và ngày một ngày hai quân đội Quốc gia VN đã đánh bật hai trung đoàn BX ra khỏi địa bàn Sài Gòn/Chợ lớn, tàn quân BX rút chạy vào Rừng Sát, hoàn toàn tan rã và chiến dịch đã kết thúc trong vòng mươi ngày và ngày mùng 8 tháng 5 đại tá Dương văn Minh kéo quân khải hoàn về. Quân đội Quốc gia tổn thất vài mươi sinh mạng. Chẳng may lại mất một tướng tài, cũng là một nhà chánh trị đầy hứa hẹn. Sáng ngày 02-05-1955 tướng Trinh minh Thế kéo quân qua cầu Tân thuận để truy kich quân binh BX, một người lính Pháp trong tàn quân BX bắn sẻ từ bên kia cầu, tướng Thế chết ngay trên “command car’’. (Sau nầy người Pháp có bắn tin là đã trả được thù cho tướng Chanson và Thái lập Thành, tay chơn của Pháp, vì hai nhân vật nầy đã bị quân của tuớng Thế ám sát chết ở Sadec năm bảy năm trước.)
Sau khi thành công xoay chuyển Wahington hơn 180 độ, tướng Collins hớn hở bay về VN. Trên con đường bay về Sài Gòn thì Washington được tin thủ tướng NĐD với quân đội Quốc gia trung thành, như vũ như bão phản công BX mà chiến thắng ở trong tầm tay của Thủ tướng rõ ràng. Đánh BX để chứng minh Thủ tướng có đủ bản lãnh và tài ba để ổn định tình thế, bất chấp những mưu mô lươn lẹo của thực dân Pháp và cố chấp ngu ngơ của tướng Collins. Cho nên Washington lập tức phải trở lại ủng hộ thủ tướng NĐD còn hơn trước (statu quo ante) và đã vội vả đánh một diện văn khác để thủ tiêu bức thơ của Collins đang cầm tay. Cho nên khi ông Đặc sứ vừa xuống phi trường TSN thì cũng vừa lúc một nhân viên tòa đại sứ chạy đến trình cho ông một diện văn hỏa tốc. Ông phải mở ra xem liền, tôi không thấy gương mặt của ông đặc sứ Collins lúc bấy giờ, nhưng tôi chắc là ông phải đổ mồ hôi hột, dù trời Sài Gòn tháng 5 không nóng lắm, nhưng có thể ông cảm tưởng là đã tới tháng 8 rồi! Tôi nghiệp cho ông Đặc sứ, quá nhiều ego (tự ái), làm mất sáng suốt!)
Đến đây thì phải nhìn nhận là trên thực tế chế độ quân chủ của nhà Nguyễn với 13 triều đại (1802-1954) đã thật sự cáo chung, sau một thời gian 9 năm (1945-1954) hấp hối. Vốn độc lập của VN do quân đội Nhựt ban cho (09-03-1045) , không do tranh đấu, do hi sinh mà được, tất nhiên không giá trị bao nhiêu, nên Nguyên thủ quốc gia phung phí một cách vô ý thức là phải.Tuy nhiên trong mấy tháng độc lập quốc gia (09-03 đến 24-08-1945), chánh phủ Trần trọng Kim cũng làm được một việc cho quốc dân là Cải tổ hệ thống giáo dục quốc gia theo định hướng dân tộc. Nhưng cùng một lúc làm một việc vô cùng tai hại cho quốc dân nhứt là ở miền Nam kỳ lục tỉnh. Vốn ngày 02-05-1945, Hoàng đế Bảo đại đã ký sắc luật phóng thích tất cả tù nhân chánh trị, mà trong đó 90% là cán bộ CS, bị Pháp giam giữ ở Côn đão từ phong trào Soviết-Nghệ tỉnh (1929-30) và cuộc nổi dậy trong Nam (1939-1940) của Đệ tam Quôc tế, mà tổng số lên đến trên 10,000. Nhờ đó mà ngày một ngày hai (tháng 6, tháng 7, 1945) cả mấy ngàn cán bộ CS, (trong đó có Lê Duẫn, Tôn đức Thắng, Phạm Hùng, Lê văn Lương…toàn là cán bộ cao cấp), sau nhiều năm tôi luyện vừa lý thuyết vừa kỹ thuật hành động được đón tiếp nhiệt liệt trở về Cấn thơ, Sóc trăng, Trà vinh…để rồi làm ung thúi chánh trường miến Nam, đưa VM nắm lấy thế thuợng phong, đàn áp các Giáo phái, giết hại các nhà ái quốc chân chính, cướp lấy chánh nghĩa quốc gia, thầu công cuộc kháng Pháp cho đến Điện biên phủ, tháng 5, 1954.
4.- Cương vị thứ tư là một cương vị hỗn hợp.
Khi tôi vừa điều khiển VHD, các trường BKBD và Hội Văn hóa Bình dân, với chức vụ Bí thư Liên kỳ bộ Nam Bắc Việt, tôi đã trở thành một cố vấn đa dạng (tiện tệ, văn hoá và an ninh) của Thủ tướng NĐD. Ơ đây tôi không nói tôi đã làm nhửng gì, tôi chỉ nói đến những gì tôi thấy tôi nghe, cũng là chứng nhân cho những biến cố lịch sử kể ra sau đây.
Thật ra từ đây vai trò của CLNVCM đảng càng ngày càng trở nên quan trọng và rõ ràng hơn. Nói đến Cần lao trong giai đọan nầy, ngoài lý thuyết Nhân vị, không phải chỉ là những thành viên đầu não của nó là Ngô đình Nhu, Trần quôc Bửu, Trấn chánh Thành, Trần trung Dung… , và trong chừng mực hạn hẹp của nó là Liên kỳ bộ Nam Bắc Việt, (thành lập từ đầu tháng 04, 1955 và giải tán đầu năm 1958), mà còn phải kể những đoàn thế do Cần lao lãnh đạo, như Tập đòan Công dân, Phong trào Cách mạng Quốc giai… Tất cả đều nhìn nhận Thủ tướng sau là Tổng thống NĐD làm lãnh tụ tối cao, biểu tượng cho chính nghĩa Quốc gia hay Dân tộc, chống lại HCM, biểu tượng cho chủ nghĩa Quôc tế Mac-lêninit (4)
(4) (Cũng lạ là trong những cuộc khủng hoảng vừa kể trên những người cận kề bên ông Diệm nhứt toàn là người Trung hay người Bắc, chỉ có một mình tôi là người Nam, mà cuôc Cách mạng Truất phế BĐ lại hoàn toàn là do tác động của người miền Nam. Có phải vì thế mà thủ tướng Diệm phải suy nghĩ cả 2 tháng mới khởi sự hành động một cách dứt khoát với BĐ.)
Và thành tích cụ thể và rực rỡ nhứt cùa CL, là cuộc Trưng cầu Dân ý, kéo theo là Quốc hội lập hiến với Hiến pháp 1956 của nó, cũng là cái ID (lai lịch) của Đệ nhứt Công hòa của miến Nam (1956-1963).
a.- Trưng cầu dân ý.
Ngày 22 tháng 10, thủ tuớng NĐD qua hệ thống truyền thanh đã kêu gọi quốc dân ngày hôm sau nên dùng cái quyền tự do của mình, cũng là nhiệm vụ của người công dân, phải đi đầu phiếu để chọn lưa giữa Quốc trưởng BĐ và ông, tức là chọn một thể chế Quân chủ hay Cộng hòa.
Inline image 4
Và ngày 23 tháng 10, 1954 quốc dân miền Nam đã nhiệt liệt huởng ứng lời kêu gọi của Thủ tướng NĐD, náo nức kéo nhau đi đầu phiếu và kết quả hết sức tốt đẹp cho thủ tướngNĐD:
5,838,907 cử tri đi bầu.
5.721.735 lá phiếu Truất phế Quôc trưởng BĐ và bầu NĐD lên thay thế, như là Quốc trưởng VN.
Như thế Thủ tướng NĐD thu về cho mình gần 98% số phiếu đi bầu. Thật ra thì Thủ tướng Diệm không cần đến một phân xuất cao đến thế. Vì ai ai cũng đinh ninh ông thắng và thắng lớn.
(Ai nói gì thì nói theo tôi kết quả hay những con số nầy hoàn toàn trung thực với ý người dân, nếu có một hai thùng phiếu không hợp lệ vì nhân viên chánh quyền quá sốt sắng đến chỗ ngu xuẩn, thì chỉ là một con số quá nhỏ, không đáng kể.)
Như thế Quốc dân miền Nam muốn chấm dứt chế độ Quân chủ và ủy nhiệm cho ông NĐD nhiệm vụ thiết lập chế độ Công hòa dân chủ. Cho nên cách nầy hay cách nọ Truất phế Quốc trưởng BĐ như là mẹ đẻ ra các Biến cố lịch sử kế tiếp, như là một quá trình tiến hóa chánh trị bất di bất dịch của lịch sử.
Ngày 26 tháng 10, 1955, Thủ tướng NĐD tuyến bố Hiến chương tạm thời, theo đó từ rày VN là một nước Cộng hòa, người lãnh đạo là Quốc trưởng kiêm luôn chức Thủ tướng, tức là Tổng thống nước Việt nam Cộng hòa.
Đến đây thì uy tín của Thủ tướng lên đến tuyệt đỉnh, trong nuớc cũng như trên thế giới, vì tuyệt đại đa số Quốc dân ủng hộ ông. Nhờ đó mà ộng giải quyết tất cả các vấn đề tồn kho với Pháp để hoàn thành độc lập Quốc gia trọn vẹn: a) Pháp phải giao trả lại cho VN hoàn toàn chủ quyền tiền tệ tài chánh (VN không còn phải ở trong khu vực đồng quan Pháp nữa), b) chủ quyền Ngoại giao (Cao ủy Pháp được giải tán, từ rày tướng Ely chi là một đại sứ, bộ Ngoai giao VN giao thiệp thẳng với bộ Ngoại giao Pháp) và c)chủ quyền Quốc phòng, quân đội Pháp lục tục rút quân cho hết trong vòng 6 tháng-
b-Xây dựng chế độ Công hòa.
Ngày 23-01-56 Thủ tướng ký nghị định tổ chức bầu Quôc hội lập hiến.
Ngày 04-03-56, Quốc dân miền Nam nhiệt liệt hứng khởi đi đầu phiếu, bầu 123 dân biểu cho Quốc hội Lập hiến.
Ngày 26-10-56 tân Hiến pháp được công bố.
Nước Việt nam Cộng hòa ra đời, Thủ tướng NĐD được xác nhận là Nguyên thủ Quốc gia, dưới danh xưng là Tổng thống, kiêm chức vụ Thủ tướng, với 2 nhiệm kỳ là tối đa, mỗi nhiệm kỳ là năm năm.
HUYNH VAN LANG
( Nhân chứng lịch sử còn sống sót nói lên sự thật )
From: lytran lenguyen lytranlenguyen75@yahoo.frSubject: Tr : [DiendanDanToc] Fw: Bức Ảnh Để Đời: Ngô Đình Diệm & Bảo Đại
Kính chuyển  bức ảnh để đời :
Quốc-Trưởng Bảo-Đại ( Cựu Hoàng-Đế VN / Triều Nguyễn-Phước)
Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm ( Cựu Thượng-Thư Triều Nguyễn-Phước )
Ghi chú : Hoàng thượng an tọa ngai trên,
               Hạ thần phục hầu bệ dưới !
Cho nên : xoán ngôi vua hậu thế gọi là :
Bất trí, bất trung, bất nghĩa, bất lễ, bất tín !
Nhóm LýTrầnLêNguyễn / Paris
Ngô Tổng thống: Bề trái Chiếc Mề Đay. Đám đối lập NgôĐìnhDiêm nói sao ?
alt
Phan Ký
Từ trước đến nay, mỗi khi nói đến nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam thì những kẻ “hậu duệ” của Ngô Tổng thống đã đề cao cái chế độ đó là chính danh chính thống và đổ lỗi mất nước lên đầu người khác.
 
alt
Rồi hằng năm, cứ mỗi lần đến ngày 1/11 lại là một lần khêu gợi những chuyện đã qua, tưởng làm như thế là đắc sách lắm chứ họ đâu có ngờ đang chia rẽ những người di tản trong đó có rất nhiều gia đình, nhiều đảng phái đã từng là nạn nhân của chế độ Ngô Đình Diệm.
Thật là cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng. Vậy để thêm tài liệu cho dư luận xét đoán về sự liện hệ giữa hai chế độ Đệ I và Đệ II Cộng Hòa, tôi xin nêu lên một vài sự việc của mặt trái nền Đệ I Cộng Hòa như sau đây:
1/ Ông Diệm có phải là một nhà cách mạng không?
Cứ theo lai lịch của ông Diệm thì mới 30 tuổi, ông Diệm đã làm đến chức Thượng thư Bộ Lại (tương đương với chức vụ Thủ tướng hiện giờ). Ai cũng biết dưới thời thực dân Pháp và Nam triều thì chỉ có những kẻ con ông cháu cha, tôi tớ của thực dân mới được cất nhắc thăng quan tiến chức mau lẹ, chứ ai đã có óc cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh thì sức mấy mà vô làm quan được chứ đừng nói đến chuyện 30 tuổi làm Thượng thư.
Theo những người biết chuyện thì do sự kèn cựa với ông Phạm Quỳnh thời đó, và tưởng rằng bị vua Bảo Đại làm nhục nên ông Diệm đã từ quan vì bất mãn như là một thứ “dissident” thời bấy giờ. Đến năm 1945, ông Diệm bị Việt Cộng bắt đem giam ở Tuyên Quang, nhờ Hồ Chí Minh thả ra đi qua Mỹ tu ở New Jersey nhưng gặp lúc Mỹ đang tìm người đưa về Việt Nam để đá thằng Pháp nên Mỹ đã nhào nặn ông Diệm thành một tài tử chính trị dưới bàn tay lông lá của Đại tá Lansdale và ông Hồng y Spellman. Trước khi về nước, ông Diệm đã đến Cannes yết kiến ông Bảo Đại và tuyên thệ trung thành với Đức Quốc trưởng. Một năm sau, ông Diệm tổ chức bầu cử gian lận truất phế ông Bảo Đại cho nên ông Bảo Đại đã gởi điện tín về “giải tỏa lời thề ông Diệm!” Và chỉ 10 năm sau, ân oán nhãn tiền, ông Diệm lại bị chính tay chân của ông hạ thủ! Như vậy thì chính danh chính thống ở đâu.
2/ Ai khai sanh chế độ quân phiệt?
Năm 1954, khi ông Diệm mới chấp chánh, ông gọi các ông Tỉnh trưởng ở miền Nam là “ngài Đốc phủ sứ”. Sáu năm sau, ông gọi là “thằng Tỉnh trưởng”. Tôi xin kể một câu chuyện độc đáo liên hệ đến việc nước mà ông Diệm đã xem như việc nhà của ông trong khi ông “thế thiên hành đạo” vào thời kỳ thịnh trị nhất của họ Ngô. Ông Nhu đã tổ chức đoàn thể Thanh Niên Cộng Hòa, một tổ chức ngoại vi của đảng Cần Lao Nhân Vị. Trung tá L. được ông Nhu phái đi các tỉnh để họp bàn cùng các Tỉnh trưởng kế hoạch thực hiện việc huấn luyện ở địa phương, chi phí do ngân sách tỉnh, thị đài thọ hoặc do học viên tự túc. Một số Tỉnh trưởng thấy rằng ngân sách tỉnh, thị eo hẹp không đài thọ nổi mà bắt các học viên thanh niên tự túc thì thất nhân tâm quá vì mỗi thanh niên thường đi làm nuôi cả gia đình còn không đủ ăn, nay lấy tiền đâu mà đi dự khóa huấn luyện Thanh Niên Cộng Hòa 3 tháng, rồi vợ con ở nhà ai nuôi? (ông Cao Xuân Vỹ hiện ở LA nếu đọc được đoạn này không biết có thấy cái sai lầm này trước đây không?) Do đó mấy ông Tỉnh trưởng ấy mới kiếm cách vào trình thẳng cụ để xin cụ xét cho. Không ngờ cụ lại phán rằng: “Các anh Tỉnh trưởng dân sự cứ cứng đầu, để tôi cho mấy thằng quân sự lên làm Tỉnh trưởng nó ỉa trên đầu các anh”.
Rồi thì việc gì phải đến, đã đến. Các Tỉnh trưởng quân sự được đề cử không phải vì tài năng mà vì là người của ông Cố Vấn Sài Gòn, ông Cố Vấn Huế, của Cha Thục, của Cha Luận v.v… nếu không phải là Công giáo thì cũng phải là Cần Lao hay Quảng Bình (quê của ông Diệm). Thời đó, một Trung úy Quận trưởng đã ký tên trên giấy biên lai nhận tiền ở ngân khố bằng hai chữ “Ký Giận” (phiên âm giọng Quảng Bình của chữ “Ký Nhận”). Một Đại úy Tỉnh trưởng Bình Tuy mua cây đã có trái về trồng để trình diễn lấy điểm gạt ông Diệm v.v… Thế thì bảo làm sao các đấng quân sự khác không vỗ ngực cho rằng làm chính trị, hành chánh dễ lắm. Từ đó đảng Kaki chỉ chờ thời cơ để múa gậy vườn hoang, gây tan nát cơ đồ, tội đó bắt nguồn từ ông Diệm đã bắc thang cho chúng leo. Lịch sử không thể nào quên được.
3/ Ai bán gạo cho Cộng Sản:
Trước kỳ bầu cử truất phế Bảo Đại 5/3/55, ông Diệm đã cho đưa gạo từ Sài Gòn ra miền Trung để cứu đói vì giá gạo chợ đen đã tăng vọt từ 600$ một tạ lên đến 1.700$ một tạ. Lúc ấy ở miền Trung có Mễ Cốc Công ty là một tổ chức kinh tài của đảng Cần Lao Nhân Vị do mấy thương gia tay chân của ông Ngô Đình Cẩn điều hành với sự hỗ trợ của các Tỉnh trưởng miền Trung và của ông Giám đốc Kinh tế Trung phần Trần Ngọc L. (hiện ở Paris). Nếu bán đúng giá thì các thương gia làm gì có lời nên chúng mới tích trữ đầu cơ, gây cảnh thiếu gạo để bán chợ đen. Thình lình Bộ Kinh tế phái ông Ung Bảo Toàn đưa gạo ra Đà Nẵng tràn ngập thị trường. Các tỉnh thị bèn đánh bài hoãn binh không nhận gạo của Bộ Kinh tế do ông Toàn chở ra, trong lúc cho người đi bán gấp ở thôn quê mà không có kiểm soát nên đã để lọt vào tay Việt Cộng ở Quảng Ngãi, rồi đổ hô cho ông Toàn bán gạo cho Việt Cộng. Thử hỏi thời ấy cả một hệ thống công an, cảnh sát chìm, nổi như vậy làm gì mà để một mình ông Toàn bán gạo cho Việt Cộng ngay ở thương cảng Đà Nẵng (vì ông Toàn chỉ đặt văn phòng ở Đà Nẵng). Khi ra tòa án, ông Toàn yêu cầu cho xem bao gạo đó của Mễ Cốc công ty ở địa phương, chứ các bao gạo của Bộ Kinh tế ông chở ra đều có đóng dấu hai chữ EN (Economie Nationale).
Tối hôm đó, cả hai ông chánh án Thân Trọng Th. và đại diện Bộ Tư Pháp Lâm Lễ Trinh đi Huế trình ông Ngô Đình Cẩn để xin chỉ thị. Kết quả tòa tuyên án xử tử hình ông Toàn, sau ông Diệm đổi thành án chung thân và đày đi Côn Đảo.
Sau vụ này, ông Th. được thăng chức Đại biểu Chính phủ Cao Nguyên Trung phần, còn ông Lâm Lễ Trinh thăng chức Bộ trưởng Nội vụ. Đấy, công lý của nền Đệ I Cộng Hòa sáng chói như vậy !
Đó là chưa kể đến cái vụ ông Cẩn và ông Lê T. (Tỉnh trưởng) đã đẩy Nguyễn Hữu Thọ đến chân tường bằng những xảo quyệt ti tiện chụp mũ Thọ hiếp dâm nữ y tá để Thọ phải theo Việt Cộng trong lúc Thọ đã chịu nghe lời cựu phó T.T. Nguyễn Ngọc Thơ, làm đơn xin trở về Sài Gòn làm ăn lương thiện
.
4. Ông Diệm là Tổng thống nước Việt Nam hay là Tổng Giám mục Công Giáo địa phận Việt Nam?
Nếu ai gần gũi ông Diệm mới thấy ở trong con người ông ấy cái tinh thần yêu Chúa đã lấn át tinh thần yêu nước của ông. Ngay từ đầu, lúc làn sóng di cư ồ ạt từ Bắc vô Nam kéo theo một số đảng viên Quốc Dân Đảng, Đại Việt v.v… Họ đã nguyện đem bầu nhiệt huyết ra phục vụ quốc gia nhưng sau khi trình bày kế hoạch chống Cộng với ông Diệm thì ông hỏi “các anh có phải là người Công giáo không?” Mấy đảng viên kia trả lời “không” thì ông Diệm chắc lưỡi “tiếc quá”. Vào khoảng năm 1960, ông Diệm đã bỏ ra 3 tiếng đồng hồ thuyết phục một ông Tỉnh trưởng theo Công giáo và đem mồi Bộ trưởng Kinh tế ra dụ dỗ. Ông Tỉnh trưởng ấy sau một hồi suy nghĩ đã khẳng khái trả lời: “Cụ bảo gì tôi cũng có thể làm được, nhưng bỏ đạo Phật để theo đạo Công giáo thì chỉ sợ con cháu nó chê cười” (hiện ông Tỉnh trưởng này còn sống ở LA). Vậy thì bảo làm sao đa số tay chân của ông các cấp không kỳ thị tôn giáo được? Nhưng đừng tưởng Công giáo là thành trì chống Cộng vững chắc, Cộng Sản không len lỏi vào được. Trái lại chỗ nào đông người là có Cộng Sản len lỏi vô, trong các đoàn thể cũng như trong các cơ quan, quân đội. Năm 1959, tại một tỉnh miền Trung, công an đã bắt được một tu sĩ Công giáo tuyên truyền chống Mỹ-Diệm. Công an về lục soát trong phòng ông tu sĩ đó thấy đầy rẫy truyền đơn, hình Hồ Chí Minh v.v… bèn lấy đưa cho ông Tỉnh trưởng sở tại đem vô trình gấp ông Diệm kẻo để lâu sợ ông Cẩn thủ tiêu. Vì ông tu sĩ đó là người của ông Cẩn.
5/ Kỳ thị tôn giáo:
Theo chỗ tôi biết thì ông Diệm không có kỳ thị tôn giáo mặc dù ông cũng muốn dụ người ta vô Công giáo. Tuy nhiên trong vụ Phật giáo xuống đường, ông Diệm đã hành động chậm trễ, thiếu chính trị sáng suốt mà có người nói là vì ông Nhu cản trở. Lý do khi vụ đó xảy ra, ông Diệm muốn ra Huế phủ dụ nhân dân dàn xếp trực tiếp cho yên chuyện nhưng ông Nhu bảo rằng việc đó có gì quan hệ, sai ông Bùi Văn Lương ra nói cũng được. Ông Lương với tư cách Bộ trưởng Nội Vụ thời ấy cũng chỉ ra đến Đà Nẵng gặp đại biểu Chính phủ rồi đi về.
Nội vụ càng kéo dài, cánh cửa quốc gia càng mở rộng cho Việt Cộng len lỏi đột nhập phá hoại hàng ngũ quốc gia, gây nên một tình trạng xáo trộn nguy hiểm mà ông bà Nhu và ông Cha Thục vẫn dương dương tự đắc chế dầu vào lửa để tự đốt mình và đốt cả gia đình họ Ngô, luôn cả chế độ Đệ I Cộng Hòa, rồi bây giờ đổ hô Phật giáo là Cộng Sản. Thử hỏi ông Diệm là Tổng thống mà ông để sự việc xảy ra từ bé xé ra to chỉ vì lá cờ Phật giáo thì trách nhiệm và tài kinh bang tế thế của ông ở đâu? Tôi không bênh Phật giáo, tôi chỉ chê trách ông Diệm ở giai đoạn lịch sử này đã làm không đúng vai trò lãnh tụ, không còn sáng suốt để kết hợp các đảng phái quốc gia, chia xẻ nhiệm vụ cứu quốc và kiến quốc mà chỉ là một kẻ độc tài, ai nói gì cũng nghe còn cho mọi người đều bị đầu độc, kể cả dư luận quốc tế đến nỗi ông Diệm phải phái bà Nhu đi giải độc kia mà! Trong lúc đó bọn Lê Quang Tung, Dương Văn Hiếu, tại Thị Nghè tổ chức cả ngàn tên đầu trộm đuôi cướp, cho cạo trọc đầu và mặc áo vàng làm thầy tu giả để phỉnh gạt hoan hô ông Diệm khi ông đến chùa Xá Lợi sau ngày ông Nhu tổng bố ráp các chùa, gây cảnh nồi da xáo thịt. Lỗi đó tại ai? Với lý thuyết Mác Xít, quốc gia Việt Nam đã mất bắt đầu từ thời đó, không phải lỗi ở Phật giáo mà lỗi ở ông Tổng thống không anh minh chút nào nữa. Cũng nên nhớ ông Tổng thống thứ hai Nguyễn Văn Thiệu là người Công giáo.
6/ Nạn nhân của thuyết Cần Lao Nhân Vị:
Những trí thức xa lông như Phạm Kim Vinh đã từng cho chỉ có chế độ Ngô Đình Diệm với thuyết Cần Lao Nhân Vị mới có thể đương đầu với lý thuyết Mác Xít của Cộng Sản, nhưng thử hỏi người dân đã nhìn lý thuyết nhân vị đó như thế nào? Họ thấy chả có gì khác với Cộng Sản trong việc thi hành ở địa phương, nào là thủ tiêu, ám sát, bắt cóc bất cứ ai, dưới nhiều cái mũ khác nhau như thân Pháp, thân Cộng chỉ vì không tôn sùng Ngô lãnh tụ anh minh hoặc giành giật công ăn việc làm của các đảng viên Cần Lao hay là của bà con họ hàng nhà Ngô. Dân chúng sống trong khiếp sợ, chán nản vì phải ở giữa hai lằn đạn Cần Lao và Cộng Sản. Dân chúng đã mỉa mai những kẻ vô Cần Lao là để được “cao lần” vinh thân phì gia chứ chẳng phải vì nước vì dân gì cả. ở Sài Gòn, ông Diệm xây vườn Phượng Hoàng, ở Huế ông Cẩn xây lăng Chín Hầm. Những nạn nhân của “chín hầm” hiện còn sống ở LA trong đó có cụ Bửu Bang, cứ hỏi cụ Nhân Vị ở Chín Hầm ra sao thì rõ. Nó có khác gì những trai học tập thời nay của Việt Cộng không? hay là còn quá hơn thế nữa vì người bị giam phải đứng dầm chân dưới hai tấc phân (cức) suốt ngày đêm.
Trên đây tôi chỉ kể lại một phần các sự việc tôi biết, chứ thật ra thì còn nhiều nữa. Oan hồn ẩn khuất đã hiện về tiêu diệt cả một dòng họ Ngô bất đắc kỳ tử ngoại trừ ông Luyện và vợ ông Nhu.
Vậy thì nói như ông Ngô Đình Luyện (trong bài phỏng vấn của ông Long Ân đăng trong báo Hồn Việt số 262 rằng là “nếu sự hiện diện của tôi (ông Luyện) hôm nay (kỷ niệm ngày ông Diệm chết) được khoác cho một ý nghĩa nào, tôi (ông Luyện) muốn ý nghĩa đó phải là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết dân tộc”. Chứng tỏ ông Luyện đã có một sự hiểu biết nào đó về hậu quả các hành động của ông Diệm đã đưa nước Việt Nam đến ngày nay.
Thật ra, sở dĩ ông Diệm đã trở nên độc tài, mù quáng vào phút chót của đời ông là vì ông đã bị đám tay chân bộ hạ thần thánh hóa ông, bịt mắt ông chứ ông chả có ý nghĩa thế thiên hành đạo gì cả.
Để có thể đoàn kết dân tộc như lòng mong ước của ông Luyện, tôi thiết tưởng đừng có nhắc lại chuyện cũ, chưởi bới nhau nữa đổ hô vì Phật giáo, vì Mỹ, vì ai cả, mà phải tự nhận là vì chính mình đã không có can đảm đứng ra làm việc nước lúc đó.
Chúng ta trước đây đa số đã giao khoán việc chống Cộng cho ông Diệm, sau này cho ông Thiệu thì bây giờ đừng có tiếc cái thời vàng son đó nữa vì lúc này là lúc phải làm chứ không phải để nói cho nghe rồi bỏ qua. Chỉ có những ai dám làm, dám dấn thân thì tiếng nói đó mới có giá trị, rồi theo luật đào thải, thời gian sẽ sàng lọc được người lãnh tụ xứng đáng, chứ đừng có như mấy ông tấn sĩ trí thức xa lông dù có viết bao nhiêu cuốn sách chưởi đổng thì cũng chỉ vạch áo cho người xem lưng là các ông trước đây cũng như bây giờ chỉ là những tên đồ gàn của thời Tần Thủy Hoàng còn sót lại.
Phan Ký
[Nguồn: Tuần báo Việt Nam Tự Do số 332, Orange County, California-Hoa Kỳ]

Laisser un commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l'aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion / Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l'aide de votre compte Twitter. Déconnexion / Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l'aide de votre compte Facebook. Déconnexion / Changer )

Photo Google+

Vous commentez à l'aide de votre compte Google+. Déconnexion / Changer )

Connexion à %s

%d blogueurs aiment cette page :